Nội dung Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật được biên tập lại từ 04 nguồn chính: https://vbpl.vn/; www.congbao.hochiminhcity.gov.vn; https://congbao.chinhphu.vn/ và https://www.ipvietnam.gov.vn /

218 DANH MỤC VĂN BẢN PHÁP LUẬT

Điều 5. Mức phạt tiền, thẩm quyền phạt tiền đối với cá nhân, tổ chức và xác định số lợi bất hợp pháp thu được, thiệt hại cho chủ sở hữu quyền, giá trị hàng hóa vi phạm

 Điều 5. Mức phạt tiền, thẩm quyền phạt tiền đối với cá nhân, tổ chức và xác định số lợi bất hợp pháp thu được, thiệt hại cho chủ sở hữu quyền, giá trị hàng hóa vi phạm

1. Mức phạt tiền tối đa trong lĩnh vực quyền tác giả, quyền liên quan đối với cá nhân là 250.000.000 đồng. Mức phạt tiền tối đa đối với tổ chức là 500.000.000 đồng.

Đối với cùng một hành vi vi phạm hành chính thì mức phạt tiền đối với tổ chức gấp 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân. Hộ kinh doanh, hộ gia đình, cộng đồng dân cư vi phạm hành chính bị áp dụng mức phạt tiền như đối với cá nhân vi phạm hành chính.

2. Mức tiền phạt quy định tại Chương II của Nghị định này là mức tiền phạt áp dụng đối với cá nhân, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 13, khoản 2 Điều 16, khoản 2 Điều 20, khoản 2 Điều 22, khoản 2 Điều 26, khoản 2 Điều 27, khoản 2 Điều 32, khoản 2 Điều 35, các khoản 2, 3 và 4 Điều 37, các khoản 1, 2, 3, 4, 5, và 7 Điều 41, các Điều 45, 46, điểm d khoản 5 Điều 47 và Điều 48 của Nghị định này là mức tiền phạt áp dụng đối với tổ chức.

3. Thẩm quyền phạt tiền của các chức danh quy định tại Chương III của Nghị định này là thẩm quyền áp dụng đối với cá nhân. Thẩm quyền phạt tiền áp dụng đối với tổ chức bằng 02 lần thẩm quyền phạt tiền áp dụng đối với cá nhân.

4. Trường hợp cần xác định số lợi bất hợp pháp thu được do thực hiện hành vi vi phạm hành chính để làm căn cứ xác định khung tiền phạt, thẩm quyền xử phạt thì thực hiện theo quy định tại các điểm b, c, d, đ và e khoản 4 Điều 60 của Nghị định này.

5. Trường hợp cần xác định thiệt hại gây ra cho chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan do thực hiện hành vi vi phạm hành chính để làm căn cứ xác định khung tiền phạt, thẩm quyền xử phạt thì thực hiện theo quy định tại các Điều 204, 205 của Luật số 50/2005/QH11 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 36/2009/QH12, Luật số 42/2019/QH14, Luật số 07/2022/QH15 và Luật số 93/2025/QH15 và Mục 3 Chương VI của Nghị định số 17/2023/NĐ-CP.

6. Trường hợp cần xác định giá trị hàng hóa vi phạm hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan để làm căn cứ xác định khung tiền phạt, thẩm quyền xử phạt thì việc xác định giá trị dựa trên một trong các căn cứ theo thứ tự ưu tiên sau đây:

a) Giá niêm yết hoặc giá ghi trên hợp đồng hoặc hóa đơn mua bán hoặc tờ khai nhập khẩu của hàng hóa xâm phạm;

b) Giá theo thông báo của cơ quan tài chính địa phương; trường hợp không có thông báo giá thì theo giá thị trường của địa phương tại thời điểm xảy ra vi phạm hành chính;

c) Giá thành của tang vật, phương tiện nếu là hàng hóa chưa xuất bán;

d) Giá thực bán của hàng hóa xâm phạm;

đ) Giá nhập của hàng hóa xâm phạm.

7. Trường hợp không thể áp dụng được các căn cứ quy định tại khoản 6 Điều này để xác định giá trị hàng hóa vi phạm hành chính làm căn cứ xác định khung tiền phạt, thẩm quyền xử phạt thì người có thẩm quyền đang giải quyết vụ việc có thể ra quyết định tạm giữ hàng hóa vi phạm và thành lập Hội đồng định giá theo quy định tại khoản 3 Điều 60 của Luật số 15/2012/QH13 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 54/2014/QH13, Luật số 18/2017/QH14, Luật số 67/2020/QH14, Luật số 09/2022/QH15, Luật số 11/2022/QH15, Luật số 56/2024/QH15 và Luật số 88/2025/QH15.

8. Trường hợp xác định được nhiều hơn một căn cứ quy định tại các khoản 4, 5 và 6 Điều này mà dẫn đến khung tiền phạt khác nhau đối với cùng một hành vi vi phạm thì áp dụng căn cứ có khung tiền phạt thấp hơn để xác định khung tiền phạt, thẩm quyền xử phạt.

_Xem toàn bộ văn bản>>>>【Nghị định 341/2025/NĐ-CP

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét