Điều 5. Tiêu chí quy đổi dân số tương đương một phường và số lượng nhà ở mà tổ chức, cá nhân nước ngoài được sở hữu
1. Số dân được xác định tương đương một phường, không phân biệt cấp đơn vị hành chính làm cơ sở để xác định số lượng nhà ở riêng lẻ mà tổ chức, cá nhân nước ngoài được phép sở hữu theo quy định tại Điều 19 của Luật Nhà ở là 10.000 người theo quy hoạch được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt. Cơ quan có thẩm quyền quản lý quy hoạch cấp tỉnh khi phê duyệt quy hoạch thì có trách nhiệm công bố dân số tương đương một phường quy định tại khoản này trên Cổng thông tin điện tử của cơ quan mình.
Bãi bỏ đoạn “Cơ quan có thẩm quyền quản lý quy hoạch cấp tỉnh khi phê duyệt quy hoạch thì có trách nhiệm công bố dân số tương đương một phường quy định tại khoản này trên Cổng thông tin điện tử của cơ quan mình” tại khoản 1.
2. Số lượng nhà ở trong dự án đầu tư xây dựng nhà ở mà tổ chức, cá nhân nước ngoài được sở hữu được xác định như sau:
a) Đối với một tòa nhà chung cư (kể cả nhà chung cư được xây dựng có mục đích sử dụng hỗn hợp) thì tổ chức, cá nhân nước ngoài được sở hữu tối đa 30% tổng số căn hộ có mục đích để ở của tòa nhà đó. Trường hợp tòa nhà chung cư có nhiều đơn nguyên hoặc nhiều khối nhà cùng chung khối đế thì tổ chức, cá nhân nước ngoài chỉ được sở hữu tối đa 30% tổng số căn hộ có mục đích để ở của mỗi đơn nguyên, mỗi khối nhà;
b) Đối với nhà ở riêng lẻ mà trên một khu vực có số dân quy định tại khoản 1 Điều này nếu chỉ có 01 dự án đầu tư xây dựng nhà ở thì tổ chức, cá nhân nước ngoài chỉ được sở hữu số lượng nhà ở không vượt quá 250 căn nhà.
Trường hợp khu vực quy định tại điểm này có từ 02 dự án đầu tư xây dựng nhà ở trở lên thì tổ chức, cá nhân nước ngoài được sở hữu tại tất cả các dự án nhưng không vượt quá 250 căn nhà; trường hợp trên một khu vực có số dân quy định tại khoản 1 Điều này có nhiều dự án đầu tư xây dựng nhà ở mà tổ chức, cá nhân nước ngoài đã sở hữu đủ số lượng nhà ở riêng lẻ theo quy định thì tổ chức, cá nhân nước ngoài không được sở hữu thêm nhà riêng lẻ tại các dự án khác của khu vực này.
_Xem toàn bộ văn bản>>>>【Nghị định 95/2024/NĐ-CP】
Đây là nội
dung Điều 5 Nghị định số 95/2024/NĐ-CP (hướng dẫn thi hành một số điều của
Luật Nhà ở 2023) quy định về hạn ngạch sở hữu nhà ở của tổ chức, cá nhân nước
ngoài tại Việt Nam.
Nội dung cốt
lõi của điều khoản bao gồm hai nhóm quy định chính:
1. Tiêu
chí quy đổi dân số tương đương một phường (Khoản 1)
- Quy chuẩn dân số: Cứ 10.000 người (theo
quy hoạch được cấp thẩm quyền phê duyệt) được tính tương đương với một phường,
không phụ thuộc vào cấp đơn vị hành chính thực tế. Con số này dùng làm mốc
xác định trần số lượng nhà ở riêng lẻ mà bên nước ngoài được mua.
- Lưu ý sửa đổi: Quy định bắt buộc cơ quan cấp tỉnh
phải công bố số dân tương đương một phường trên Cổng thông tin điện tử khi
duyệt quy hoạch đã được bãi bỏ.
2. Số lượng
nhà ở người nước ngoài được phép sở hữu (Khoản 2)
- Đối với căn hộ chung cư:
- Tối đa 30% tổng số căn hộ
có mục đích để ở trong một tòa nhà (kể cả chung cư hỗn hợp).
- Nếu tòa nhà có chung khối đế
nhưng gồm nhiều đơn nguyên hoặc nhiều tháp riêng biệt: Tỷ lệ 30% áp dụng
riêng cho từng khối nhà/đơn nguyên, không được gộp chung rồi bù trừ cho
nhau.
- Đối với nhà ở riêng lẻ (nhà liền
kề, biệt thự):
- Trường hợp có 01 dự án trong
khu vực 10.000 dân: Người nước ngoài chỉ được sở hữu tối đa 250 căn.
- Trường hợp có từ 02 dự án trở
lên trong cùng khu vực 10.000 dân: Tổng số căn nhà riêng lẻ mà người nước ngoài được sở hữu
trên toàn bộ các dự án cộng lại không vượt quá trần 250 căn. Nếu hạn
mức 250 căn này đã được mua đủ, người nước ngoài không được mua thêm ở bất
kỳ dự án nào khác trong cùng khu vực dân số đó.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét