|
|
|
|
Luật số: 93/2015/QH13 |
Hà Nội, ngày 25 tháng 11 năm 2015 |
![]()
Căn cứ Hiến
pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Quốc hội ban
hành Luật tố tụng hành chính.
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và nhiệm vụ
của Luật tố tụng hành chính
Luật tố tụng hành chính quy định những nguyên tắc cơ bản trong tố tụng hành
chính; nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng;
quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan; trình tự,
thủ tục khởi kiện, giải quyết vụ án hành chính, thi hành án hành chính và giải
quyết khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hành chính.
Luật tố tụng hành chính góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người,
quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước,
quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân; giáo dục mọi người
nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật; bảo đảm tính ổn định, thông suốt và hiệu lực
của nền hành chính quốc gia.
Điều
2. Đối tượng áp dụng và hiệu lực của Luật tố tụng hành chính
1. Luật tố tụng hành chính được áp dụng đối với mọi hoạt động tố tụng hành
chính trên lãnh thổ bao gồm đất liền, hải đảo, vùng biển, vùng trời của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
2. Luật tố tụng hành chính được áp dụng đối với hoạt động tố tụng hành
chính do cơ quan đại diện của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tiến hành
ở nước ngoài.
3. Luật tố tụng hành chính được áp dụng đối với việc giải quyết vụ án hành
chính có yếu tố nước ngoài; trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác thì áp dụng quy định của điều ước
quốc tế đó.
4. Cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế thuộc đối tượng
được hưởng các quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao hoặc các quyền ưu đãi, miễn
trừ lãnh sự theo pháp luật Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội
chủ nghĩa Việt Nam là thành viên thì nội dung vụ án hành chính có liên quan đến
cơ quan, tổ chức, cá nhân đó được giải quyết bằng con đường ngoại giao.
Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1. Quyết định hành chính là văn bản do cơ quan hành chính nhà nước,
cơ quan, tổ chức được giao thực hiện quản lý hành chính nhà nước ban hành hoặc
người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó ban hành quyết định về vấn đề cụ
thể trong hoạt động quản lý hành chính được áp dụng một lần đối với một hoặc
một số đối tượng cụ thể.
2. Quyết định hành chính bị kiện là quyết định quy định tại khoản 1
Điều này mà quyết định đó làm phát sinh, thay đổi, hạn chế, chấm dứt
quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc có nội dung làm phát
sinh nghĩa vụ, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá
nhân.
3. Hành vi hành chính là hành vi của cơ quan hành chính nhà nước
hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc cơ quan, tổ
chức được giao thực hiện quản lý hành chính nhà nước thực hiện hoặc không thực hiện
nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật.
4. Hành vi hành chính bị kiện là hành vi quy định tại khoản 3 Điều
này mà hành vi đó làm ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền, lợi ích hợp pháp của
cơ quan, tổ chức, cá nhân.
5. Quyết định kỷ luật buộc thôi việc là quyết định bằng văn bản của
người đứng đầu cơ quan, tổ chức để áp dụng hình thức kỷ luật buộc thôi việc đối
với công chức thuộc quyền quản lý của mình.
6. Quyết định hành chính, hành vi hành chính mang tính nội bộ của cơ
quan, tổ chức là những quyết định, hành vi chỉ đạo, điều hành việc triển
khai thực hiện nhiệm vụ, kế hoạch công tác; quản lý, tổ chức cán bộ, kinh phí, tài sản được giao; kiểm tra,
thanh tra việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ, chính sách, pháp luật đối với cán
bộ, công chức, viên chức, người lao động và các đơn vị thuộc thẩm quyền quản lý
của cơ quan, tổ chức.
7. Đương sự bao gồm người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan.
8. Người khởi kiện là cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện vụ án hành
chính đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật
buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc
cạnh tranh; danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội, danh sách cử tri bầu cử
đại biểu Hội đồng nhân dân, danh sách cử tri trưng cầu ý dân (sau đây gọi chung là danh
sách cử tri).
9. Người bị kiện là cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyết định hành
chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải
quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, danh sách cử tri bị
khởi kiện.
10. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cơ quan, tổ chức, cá
nhân tuy không khởi kiện, không bị kiện, nhưng việc giải quyết vụ án hành chính
có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ tự mình hoặc đương sự khác
đề nghị và được Tòa án nhân dân (sau đây
gọi là Tòa án) chấp nhận hoặc được Tòa án đưa vào tham gia tố tụng với tư cách là người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
11. Cơ quan, tổ chức bao gồm cơ quan nhà nước, tổ chức chính
trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội -
nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị sự nghiệp công lập, đơn vị lực lượng vũ
trang nhân dân và các tổ chức khác được thành lập và hoạt động theo quy định
của pháp luật.
12. Vụ án phức tạp là vụ án có liên quan đến quyền và lợi ích của
nhiều người; có tài liệu, chứng cứ mâu thuẫn với nhau cần có thời gian kiểm
tra, xác minh, đánh giá hoặc tham khảo ý kiến của các cơ quan chuyên môn; có
đương sự là người nước ngoài đang ở nước ngoài hoặc người Việt Nam đang cư trú,
học tập, làm việc ở nước ngoài.
13. Trở ngại khách quan là những trở ngại do hoàn cảnh khách quan
tác động làm cho người có quyền, nghĩa vụ không thể biết về việc quyền, lợi ích
hợp pháp của mình bị xâm phạm hoặc không thể thực hiện được quyền hoặc nghĩa vụ
của mình.
14. Sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan
không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi
biện pháp cần thiết và khả năng cho phép.
Điều 4. Tuân thủ pháp luật trong
tố tụng hành chính
Mọi hoạt động tố tụng hành chính của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến
hành tố tụng, người tham gia tố tụng và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan
phải tuân theo quy định của Luật này.
Điều 5. Quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp
Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khởi kiện vụ án hành
chính để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định của Luật
này.
1. Trong quá trình giải quyết vụ án hành chính, Tòa án có quyền xem
xét về tính hợp pháp của văn bản hành chính, hành vi hành chính có liên quan
đến quyết định hành chính, hành vi hành chính bị kiện và kiến nghị cơ quan,
tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại văn bản hành chính, hành vi hành
chính đó và trả lời kết quả cho Tòa án theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.
2. Tòa án có quyền kiến nghị cơ quan, cá nhân có thẩm quyền xem xét, sửa
đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp
luật nếu phát hiện văn bản đó có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, văn bản quy
phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan để bảo đảm
quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ
chức, cá nhân. Cơ quan, cá nhân có thẩm quyền có trách
nhiệm trả lời Tòa án kết quả xử lý văn bản quy phạm pháp luật bị kiến nghị theo
quy định của pháp luật làm cơ sở để Tòa án giải quyết vụ án.
Điều 7. Giải quyết vấn đề bồi thường
thiệt hại trong vụ án hành chính
1. Người khởi kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án hành
chính có thể đồng thời yêu cầu bồi thường thiệt hại do quyết định hành chính,
hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết
khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, danh sách cử tri gây ra.
Người khởi kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu bồi
thường thiệt hại có nghĩa vụ cung cấp tài
liệu, chứng
cứ. Trường hợp cần thiết, Tòa án có thể tiến hành xác minh, thu thập tài liệu,
chứng cứ để bảo đảm cho việc giải quyết vụ án được chính xác.
Khi giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại trong vụ án hành chính, các quy
định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và pháp luật về tố
tụng dân sự được áp dụng để giải quyết.
2. Trường hợp trong vụ án hành chính có yêu cầu bồi thường thiệt hại mà
chưa có điều kiện để chứng minh thì Tòa án có thể tách yêu cầu bồi thường thiệt
hại để giải quyết sau bằng một vụ án dân sự khác theo quy định của pháp luật về
tố tụng dân sự.
Trường hợp Tòa án giải quyết cả phần yêu cầu bồi thường thiệt hại cùng với
việc giải quyết vụ án hành chính mà phần quyết định của bản án về bồi thường
thiệt hại bị kháng cáo hoặc kháng nghị hoặc bị Tòa án cấp phúc thẩm, giám đốc
thẩm hoặc tái thẩm hủy để xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm lại thì phần quyết định
về bồi thường thiệt hại trong các trường hợp này là một phần của vụ án hành
chính. Thủ tục giải quyết đối với phần quyết định về bồi thường thiệt hại bị
kháng cáo, kháng nghị hoặc bị hủy để xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm lại được
thực hiện theo quy định của Luật này.
Điều 8. Quyền quyết định và tự định đoạt
của người khởi kiện
Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền quyết định việc khởi
kiện vụ án hành chính. Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ án hành chính khi có đơn
khởi kiện của người khởi kiện. Trong quá trình giải quyết vụ án hành chính,
người khởi kiện có quyền thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu khởi kiện, thực hiện
các quyền tố tụng khác của mình theo quy định của Luật này.
Điều 9. Cung cấp tài liệu, chứng cứ,
chứng minh trong tố tụng hành chính
1. Các
đương sự có
quyền và nghĩa vụ chủ động thu thập, giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án và
chứng minh yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp.
Cá nhân khởi kiện, yêu cầu để bảo vệ quyền, lợi ích
hợp pháp của người khác có quyền và nghĩa vụ thu thập, cung cấp tài liệu, chứng cứ, chứng minh như đương sự.
2. Tòa
án có trách nhiệm hỗ trợ đương sự trong việc thu thập tài liệu, chứng cứ và tiến hành thu thập, xác minh chứng
cứ; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án hoặc đương sự theo quy định của Luật
này.
Điều 10. Nghĩa vụ cung cấp tài liệu,
chứng cứ của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền
Cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có
nghĩa vụ cung cấp đầy đủ và đúng thời hạn tài liệu, chứng cứ mà mình đang lưu
giữ, quản lý cho đương sự, Tòa án, Viện kiểm sát nhân dân (sau đây gọi là Viện
kiểm sát) theo quy định của Luật này khi có yêu cầu và phải chịu trách nhiệm
trước pháp luật về việc cung cấp tài liệu, chứng cứ đó; trường hợp không cung cấp được thì
phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho đương sự, Tòa án, Viện kiểm sát biết.
Điều 11. Bảo đảm chế độ xét xử sơ thẩm,
phúc thẩm
1. Chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm, trừ trường hợp xét xử vụ
án hành chính đối với khiếu kiện danh sách cử tri.
Bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo
quy định của Luật này.
Bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án không bị kháng cáo, kháng nghị
theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn do Luật này quy định thì có hiệu lực pháp
luật. Bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án bị kháng cáo, kháng nghị thì
vụ án phải được giải quyết theo thủ tục phúc thẩm. Bản án, quyết định phúc thẩm
của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
2. Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật mà phát hiện có
vi phạm pháp luật hoặc có tình tiết mới theo quy định của Luật này thì được xem
xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.
Điều 12. Hội thẩm nhân dân tham gia xét
xử vụ án hành chính
1. Việc xét xử sơ thẩm vụ án hành chính có Hội thẩm nhân dân
tham gia, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn theo quy định của Luật này.
2. Khi biểu quyết về quyết định giải quyết vụ án, Hội
thẩm nhân dân ngang quyền với Thẩm phán.
Điều 13. Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân
xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
1. Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.
2. Nghiêm
cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm
nhân dân dưới bất kỳ hình thức nào.
Điều
14. Bảo đảm sự vô tư, khách quan trong tố tụng hành chính
1. Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân,
Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án, Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Kiểm
tra viên, người phiên dịch, người giám định, thành viên Hội đồng định giá không
được tiến hành, tham gia tố tụng nếu có căn cứ cho rằng họ có thể không vô tư,
khách quan trong khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình.
2. Việc phân công người tiến hành tố tụng phải bảo
đảm để họ vô tư, khách quan trong khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của
mình.
Điều 15. Tòa án xét xử tập
thể
Tòa án xét xử tập thể vụ án hành chính và
quyết định theo đa số, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn.
Điều 16. Tòa án xét xử kịp thời, công
bằng, công khai
1. Tòa án xét xử kịp thời trong thời hạn do Luật này
quy định, bảo đảm công bằng.
2. Tòa án xét xử công khai. Trường hợp đặc biệt cần
giữ bí mật nhà nước, thuần phong, mỹ tục của dân tộc, bảo vệ người chưa thành
niên hoặc giữ bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật cá nhân theo yêu
cầu chính đáng của đương sự, Tòa án có thể xét xử kín.
Điều 17. Bình đẳng về quyền
và nghĩa vụ trong tố tụng hành chính
1. Trong tố tụng hành chính, mọi người
đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt dân tộc, giới tính, tín ngưỡng,
tôn giáo, thành phần xã hội, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, địa vị xã hội.
2. Mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân bình đẳng trong việc
thực hiện quyền và nghĩa vụ trong tố tụng hành chính trước Tòa án.
3. Tòa án có trách nhiệm tạo điều kiện để cơ quan, tổ
chức, cá nhân thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình.
Điều 18. Bảo đảm tranh tụng
trong xét xử
1. Tòa án có trách nhiệm bảo đảm cho đương sự, người
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thực hiện quyền tranh tụng trong
xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm theo quy định của Luật này.
2. Đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của đương sự có quyền thu thập, giao nộp, cung cấp tài liệu, chứng cứ kể từ khi
Tòa án thụ lý vụ án hành chính và có nghĩa vụ thông báo cho nhau các tài liệu,
chứng cứ đã giao nộp; trình bày, đối đáp, phát biểu quan điểm, lập luận về đánh
giá chứng cứ và pháp luật áp dụng để bảo vệ yêu cầu, quyền và lợi ích hợp pháp
của mình hoặc bác bỏ yêu cầu của người khác theo quy định của Luật này.
3. Trong quá trình xét xử, mọi tài liệu, chứng cứ
phải được xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện, công khai, trừ trường hợp
không được công khai theo quy định của Luật này. Tòa án điều hành việc tranh
tụng, hỏi những vấn đề chưa rõ và căn cứ vào kết quả tranh tụng để ra bản án,
quyết định.
Điều 19. Bảo đảm quyền bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của đương sự
1. Đương sự có quyền tự bảo vệ hoặc nhờ luật sư hoặc
người khác có đủ điều kiện theo quy định của Luật này bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của mình.
2. Tòa án có trách nhiệm bảo đảm cho đương sự thực
hiện quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ.
3. Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm trợ giúp pháp lý
cho người được trợ giúp pháp lý theo quy định của Luật trợ giúp pháp lý để họ
thực hiện quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trước Tòa án.
4. Không ai được hạn chế quyền bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của đương sự trong tố tụng hành chính.
Điều 20. Đối thoại trong tố
tụng hành chính
Tòa án có trách nhiệm tiến hành đối thoại và tạo điều
kiện thuận lợi để các đương sự đối thoại với nhau về việc giải quyết vụ án theo
quy định của Luật này.
Điều 21. Tiếng nói và chữ
viết dùng trong tố tụng hành chính
Tiếng nói và chữ viết dùng trong tố tụng hành chính
là tiếng Việt.
Người tham gia tố tụng hành chính có quyền dùng tiếng
nói và chữ viết của dân tộc mình; trường hợp này phải có người phiên dịch.
Người tham gia tố tụng hành chính là người khuyết tật
nghe, người khuyết tật nói hoặc người khuyết tật nhìn có quyền dùng ngôn ngữ,
ký hiệu, chữ dành riêng cho người khuyết tật; trường hợp này phải có người biết
nghe, nói bằng ngôn ngữ, ký hiệu, chữ dành riêng của người khuyết tật để dịch
lại.
Điều 22. Trách nhiệm của cơ quan tiến
hành tố tụng, người tiến hành tố tụng
1. Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng phải tôn trọng Nhân dân và chịu sự giám
sát của Nhân
dân.
2. Tòa án có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công
dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi
ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
Viện kiểm sát có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền
công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và
lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp
hành nghiêm chỉnh và thống nhất.
3. Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng phải giữ bí mật nhà
nước, bí mật công tác theo quy định của pháp luật; giữ gìn thuần phong, mỹ tục
của dân tộc, bảo vệ người chưa thành niên, giữ bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh
doanh, bí mật cá nhân theo yêu cầu chính đáng của đương sự.
4. Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng chịu trách nhiệm
trước pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Trường hợp
người tiến hành tố tụng có hành vi vi phạm pháp luật thì tùy theo tính chất, mức
độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy
định của pháp luật.
5. Người tiến hành tố tụng trong khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình
có hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại cho cơ quan, tổ chức, cá nhân thì cơ
quan có người có hành vi vi phạm pháp luật đó phải bồi thường cho người bị
thiệt hại theo quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
Điều 23. Bảo đảm hiệu lực của bản án,
quyết định của Tòa án
1. Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp
luật phải được thi hành và phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng. Cơ
quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phải nghiêm chỉnh chấp hành.
2. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình,
Tòa án, cơ quan, tổ chức được giao nhiệm vụ có liên quan đến việc thi hành bản
án, quyết định của Tòa án phải nghiêm chỉnh thi hành và chịu trách nhiệm trước
pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ đó.
Tòa án nhân dân tối cao giám đốc việc xét xử của các
Tòa án; Tòa án nhân dân cấp cao giám đốc việc xét xử của Tòa án nhân dân tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là Tòa án cấp tỉnh), Tòa án
nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố
trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là Tòa án cấp huyện) trong phạm vi
thẩm quyền theo lãnh thổ để bảo đảm việc áp dụng thống nhất pháp luật trong xét
xử.
Điều 25. Kiểm sát việc tuân theo pháp
luật trong tố tụng hành chính
1. Viện kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp luật
trong tố tụng hành chính nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ án hành chính kịp
thời, đúng pháp luật.
2. Viện kiểm sát kiểm sát vụ án hành chính từ khi thụ
lý đến khi kết thúc việc giải quyết vụ án; tham gia các phiên tòa, phiên họp
của Tòa án; kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong công tác thi hành bản án,
quyết định của Tòa án; thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo
quy định của pháp luật.
3. Đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính
liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng
lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn
trong nhận thức, làm chủ hành vi, nếu họ không có người khởi kiện
thì Viện kiểm sát kiến nghị Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú cử người
giám hộ đứng ra khởi kiện vụ án hành chính để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp
cho người đó.
Điều 26. Trách nhiệm chuyển giao tài
liệu, giấy tờ của Tòa án
1. Tòa án có trách nhiệm tống đạt, chuyển giao, thông
báo bản án, quyết định, giấy triệu tập, giấy mời và các giấy tờ khác của Tòa án
theo quy định của Luật này.
2. Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc cơ quan, tổ chức, cá
nhân liên quan có trách nhiệm chuyển giao bản án, quyết định, giấy triệu tập,
giấy mời và các giấy tờ khác của Tòa án khi có yêu cầu của Tòa án và phải thông
báo kết quả việc chuyển giao đó cho Tòa án.
Điều
27. Việc tham gia tố tụng hành chính của cơ quan, tổ chức, cá nhân
Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền và nghĩa vụ tham
gia tố tụng hành chính theo quy định của Luật này, góp phần vào việc giải quyết
vụ án hành chính tại Tòa án kịp thời, đúng pháp luật.
Điều 28. Bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo
trong tố tụng hành chính
Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại; cá nhân
có quyền tố cáo hành vi, quyết định trái pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng,
người tiến hành tố tụng hoặc của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào trong
hoạt động tố tụng hành chính.
Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải tiếp nhận, xem xét và
giải quyết khiếu nại, tố cáo kịp thời, đúng pháp luật; thông báo bằng văn bản
về kết quả giải quyết cho người đã khiếu nại, tố cáo.
Điều 29. Án phí, lệ phí và
chi phí tố tụng
Án phí, lệ phí và chi phí tố tụng được thực hiện theo quy định của Luật này và pháp
luật về án phí, lệ phí Tòa án.
Chương II
Điều 30. Khiếu kiện thuộc thẩm quyền giải
quyết của Tòa án
1. Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành
chính, trừ các quyết định, hành vi sau đây:
a) Quyết định hành chính, hành vi hành chính thuộc
phạm vi bí mật nhà nước trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao theo
quy định của pháp luật;
b) Quyết định, hành vi của Tòa án trong việc áp dụng
biện pháp xử lý hành chính, xử lý hành vi cản trở hoạt động tố tụng;
c) Quyết định hành chính, hành vi hành chính mang
tính nội bộ của cơ quan, tổ chức.
2. Khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc công chức giữ
chức vụ từ Tổng Cục trưởng và tương đương trở xuống.
3. Khiếu kiện quyết định giải quyết khiếu nại về
quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh.
4. Khiếu kiện danh sách cử tri.
Điều
31. Thẩm quyền của Tòa án cấp huyện
Tòa án cấp huyện giải quyết theo thủ tục sơ thẩm
những khiếu
kiện sau
đây:
1. Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành
chính nhà nước từ cấp huyện trở xuống trên cùng phạm vi địa giới hành chính
với Tòa án hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước đó,
trừ quyết định hành chính, hành vi hành chính của Ủy ban nhân dân cấp huyện,
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện;
2. Khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc của người đứng đầu
cơ quan, tổ chức từ cấp huyện trở xuống trên cùng phạm vi địa giới hành chính
với Tòa án đối với công chức thuộc thẩm quyền quản lý của cơ quan, tổ chức đó;
3. Khiếu kiện danh sách cử tri của cơ quan lập danh
sách cử tri trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Tòa án.
Điều 32. Thẩm quyền của Tòa án cấp tỉnh
Tòa án cấp tỉnh giải quyết theo thủ tục sơ thẩm
những khiếu
kiện sau
đây:
1. Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của bộ, cơ
quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Quốc
hội, Kiểm toán nhà nước, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối
cao và quyết định hành chính, hành vi hành chính của người có thẩm quyền trong
cơ quan đó mà người khởi kiện có nơi cư trú, nơi làm việc hoặc trụ sở trên cùng
phạm vi địa giới hành chính với Tòa án; trường hợp người khởi kiện không có nơi
cư trú, nơi làm việc hoặc trụ sở trên lãnh thổ Việt Nam thì thẩm quyền giải
quyết thuộc Tòa án nơi cơ quan, người có thẩm quyền ra quyết định hành chính,
có hành vi hành chính;
2. Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ
quan thuộc một trong các cơ quan nhà nước quy định tại khoản 1 Điều này và
quyết định hành chính, hành vi hành chính của người có thẩm quyền trong cơ quan
đó mà người khởi kiện có nơi cư trú, nơi làm việc hoặc trụ sở trên cùng phạm vi
địa giới hành chính với Tòa án; trường hợp người khởi kiện không có nơi cư trú,
nơi làm việc hoặc trụ sở trên lãnh thổ Việt Nam thì thẩm quyền giải quyết thuộc
Tòa án nơi cơ quan, người có thẩm quyền ra quyết định hành chính, có hành vi
hành chính;
3. Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ
quan nhà nước cấp tỉnh trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Tòa án và của
người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước đó;
4. Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của Ủy ban
nhân dân cấp huyện, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện trên cùng phạm vi địa
giới hành chính với Tòa án;
5. Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ
quan đại diện của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài hoặc của
người có thẩm quyền trong cơ quan đó mà người khởi kiện có nơi cư trú trên cùng
phạm vi địa giới hành chính với Tòa án; trường hợp người khởi kiện không có nơi
cư trú tại Việt Nam thì Tòa án có thẩm quyền là Tòa án nhân dân thành phố Hà
Nội hoặc Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh;
6. Khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc của người đứng đầu
cơ quan, tổ chức cấp tỉnh, bộ, ngành trung ương mà người khởi kiện có nơi làm
việc khi bị kỷ luật trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Tòa án;
7. Khiếu kiện quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý
vụ việc cạnh tranh mà người khởi kiện có nơi cư trú, nơi làm việc hoặc trụ sở
trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Tòa án;
8. Trường hợp cần thiết, Tòa án cấp tỉnh có thể lấy
lên giải quyết vụ án hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp
huyện theo quy định tại Điều 31 của Luật này.
Điều 33. Xác định thẩm quyền trong
trường hợp vừa có đơn khiếu nại, vừa có đơn khởi kiện
1. Trường hợp người khởi kiện có đơn khởi kiện vụ án
hành chính tại Tòa án có thẩm quyền, đồng thời có đơn khiếu nại đến người có
thẩm quyền giải quyết khiếu nại thì Tòa án phải yêu cầu người khởi kiện lựa
chọn cơ quan giải quyết và có văn bản thông báo cho Tòa án.
Trường hợp người khởi kiện không thể tự mình làm văn
bản thì đề nghị Tòa án lập biên bản về việc lựa chọn cơ quan giải quyết. Tùy
từng trường hợp cụ thể Tòa án xử lý như sau:
a) Trường hợp người khởi kiện lựa chọn Tòa án giải
quyết thì Tòa án thụ lý giải quyết vụ án theo thủ tục chung, đồng thời thông
báo cho người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại và yêu cầu người có thẩm quyền
giải quyết khiếu nại chuyển toàn bộ hồ sơ giải quyết khiếu nại cho Tòa án;
b) Trường hợp người khởi kiện lựa chọn người có thẩm
quyền giải quyết khiếu nại giải quyết thì Tòa án căn cứ vào quy định tại điểm e khoản 1 Điều 123 của Luật này trả lại đơn
khởi kiện và các tài liệu kèm theo cho người khởi kiện.
Trường hợp hết thời hạn giải quyết khiếu nại mà khiếu
nại không được giải quyết hoặc đã được giải quyết nhưng người khiếu nại không
đồng ý với việc giải quyết khiếu nại và có đơn khởi kiện vụ án hành chính thì
Tòa án xem xét để tiến hành thụ lý vụ án theo thủ tục chung.
2. Trường hợp nhiều người vừa khởi kiện vụ án hành
chính tại Tòa án có thẩm quyền, đồng thời có đơn khiếu nại đến người có thẩm
quyền giải quyết khiếu nại và tất cả những người này đều lựa chọn một trong hai
cơ quan có thẩm quyền giải quyết thì thẩm quyền giải quyết được thực hiện theo
quy định tại khoản 1 Điều này.
3. Trường hợp nhiều người vừa khởi kiện vụ án hành
chính tại Tòa án có thẩm quyền, đồng thời có đơn khiếu nại đến người có thẩm
quyền giải quyết khiếu nại, trong đó có người lựa chọn Tòa án giải quyết và có
người lựa chọn người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại hoặc trường hợp có
người chỉ khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án có thẩm quyền và người khác chỉ
khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại thì thẩm quyền giải quyết
được xác định như sau:
a) Trường hợp quyền lợi, nghĩa vụ của người khởi kiện và người khiếu nại
độc lập với nhau thì việc giải quyết yêu cầu của người khởi kiện thuộc thẩm
quyền của Tòa án, còn việc giải quyết khiếu nại của những người khiếu nại thuộc
thẩm quyền của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại;
b) Trường hợp quyền lợi, nghĩa vụ của người khởi kiện
và người khiếu nại không độc lập với nhau thì Tòa án thụ lý giải quyết vụ án
theo thủ tục chung, đồng thời thông báo cho người có thẩm quyền giải quyết
khiếu nại và yêu cầu chuyển toàn bộ hồ sơ giải quyết khiếu nại cho Tòa án.
4. Trường hợp người khởi kiện không lựa chọn cơ quan
giải quyết thì Tòa án trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện.
Điều 34. Chuyển vụ án cho Tòa án khác,
giải quyết tranh chấp về thẩm quyền
1. Trong quá trình giải quyết vụ án hành chính theo
thủ tục sơ thẩm, Tòa án xác định vụ án đó không phải là vụ án hành chính
mà là vụ án dân sự và việc giải quyết vụ án này thuộc thẩm quyền của mình thì
Tòa án giải quyết vụ án đó theo thủ tục chung do pháp luật tố tụng dân sự quy
định, đồng thời thông báo cho đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp.
2. Trước khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử theo
thủ tục sơ thẩm mà có căn cứ xác định việc giải quyết vụ án thuộc thẩm quyền
của Tòa án khác thì Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án hành chính ra
quyết định chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án có thẩm quyền và xoá sổ thụ lý, đồng
thời thông báo cho đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp.
3. Sau khi đã có quyết định đưa vụ án ra xét xử theo
thủ tục sơ thẩm mà có căn cứ xác định việc giải quyết vụ án hành chính thuộc
thẩm quyền của Tòa án khác thì Tòa án phải mở phiên tòa để Hội đồng xét xử ra
quyết định đình chỉ việc xét xử, chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án có thẩm quyền.
4. Khi xét xử phúc thẩm vụ án hành chính mà xác định
vụ án thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì Tòa án
cấp phúc thẩm hủy bản án, quyết định sơ thẩm và giao hồ sơ vụ án cho Tòa án có
thẩm quyền xét xử sơ thẩm để giải quyết sơ thẩm lại vụ án theo quy định của
pháp luật.
5. Khi xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm vụ án hành
chính mà xác định vụ án thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều
này thì Tòa án xét xử giám đốc thẩm hoặc tái thẩm hủy bản án, quyết định đã có
hiệu lực pháp luật và giao hồ sơ vụ án cho Tòa án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm
để giải quyết sơ thẩm lại vụ án theo quy định của pháp luật.
6. Đương sự có quyền khiếu nại, Viện kiểm sát cùng
cấp có quyền kiến nghị quyết định quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này
trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định. Trong thời hạn
03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được khiếu nại, kiến nghị, Chánh án Tòa án đã
ra quyết định chuyển vụ án hành chính phải giải quyết khiếu nại, kiến nghị.
Quyết định của Chánh án Tòa án là quyết định cuối cùng và được gửi ngay cho
đương sự có khiếu nại, Viện kiểm sát có kiến nghị.
7. Chánh án Tòa án cấp tỉnh giải quyết tranh chấp về
thẩm quyền giải quyết vụ án hành chính giữa các Tòa án cấp huyện trong cùng một
tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao giải quyết tranh chấp về thẩm quyền giải
quyết vụ án hành chính giữa các Tòa án cấp huyện thuộc các tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương khác nhau; giữa các Tòa án cấp tỉnh thuộc phạm vi thẩm quyền
theo lãnh thổ của Tòa án nhân dân cấp cao.
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao giải quyết tranh chấp về thẩm quyền giữa
các Tòa án cấp huyện thuộc các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khác nhau, Tòa án
cấp tỉnh thuộc
thẩm quyền giải quyết theo lãnh thổ của các Tòa án nhân dân cấp cao khác nhau.
Điều 35. Nhập hoặc tách vụ án hành chính
1. Tòa án nhập hai hoặc nhiều vụ án mà Tòa án đã thụ
lý riêng biệt thành một vụ án để giải quyết bằng một vụ án hành chính khi có đủ
các điều kiện sau đây:
a) Các vụ án thụ lý riêng biệt chỉ có một người khởi
kiện đối với nhiều quyết định hành chính, hành vi hành chính đều do một cơ
quan, tổ chức hoặc một người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức ban hành, thực
hiện và có mối liên hệ mật thiết với nhau hoặc các vụ án thụ lý riêng biệt có
nhiều người khởi kiện đối với cùng một quyết định hành chính hoặc hành vi hành
chính;
b) Việc nhập hai hay nhiều vụ án hành chính thành một
vụ án hành chính phải bảo đảm việc xét xử được nhanh chóng, hiệu quả, triệt để
và không vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử.
2. Tòa án tách một vụ án có các yêu cầu khác nhau
thành hai hoặc nhiều vụ án hành chính khác nhau để giải quyết trong trường
hợp quyết định hành chính bị khởi kiện liên quan đến nhiều người khởi kiện và
quyền lợi, nghĩa vụ của những người khởi kiện đó không liên quan với nhau.
3. Khi nhập hoặc tách vụ án quy định tại khoản 1 và
khoản 2 Điều này, Tòa án đã thụ lý vụ án phải ra quyết định và gửi ngay cho
đương sự, Viện kiểm sát cùng cấp.
CƠ QUAN TIẾN HÀNH TỐ TỤNG, NGƯỜI TIẾN
HÀNH TỐ TỤNG VÀ VIỆC THAY ĐỔI NGƯỜI TIẾN HÀNH TỐ TỤNG
Điều 36. Cơ quan tiến hành tố tụng,
người tiến hành tố tụng
1. Các cơ quan tiến hành tố tụng hành chính gồm có:
a) Tòa án;
b) Viện kiểm sát.
2. Những người tiến hành tố tụng hành chính gồm có:
a) Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân,
Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án;
b) Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Kiểm tra
viên.
Điều 37. Nhiệm vụ, quyền hạn của Chánh
án Tòa án
1. Chánh án Tòa án có những nhiệm vụ, quyền hạn sau
đây:
a) Tổ chức công tác giải quyết vụ án hành chính thuộc
thẩm quyền của Tòa án; bảo đảm thực hiện nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm nhân
dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật;
b) Quyết định phân công Thẩm phán giải quyết
vụ án hành chính, Hội thẩm nhân dân tham gia Hội đồng xét xử vụ án hành chính;
phân công Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án tiến hành tố tụng đối với vụ án hành
chính bảo đảm đúng nguyên tắc quy định tại Điều 14 của Luật này;
c) Quyết định thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân,
Thư ký Tòa án trước khi mở phiên tòa;
d) Quyết định thay đổi người giám định, người phiên
dịch trước khi mở phiên tòa;
đ) Ra quyết định và tiến hành hoạt động tố tụng hành
chính;
e) Kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm
bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc kiến nghị Chánh án
Tòa án có thẩm quyền xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm
bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án;
g) Giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định của
Luật này;
h) Kiến nghị với cơ quan, cá nhân có văn bản hành
chính, hành vi hành chính có liên quan đến quyết định hành chính, hành vi hành
chính bị khởi kiện xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản, chấm dứt hành
vi đó nếu phát hiện có dấu hiệu trái với quy định của pháp luật;
i) Kiến nghị với cơ quan, cá nhân có thẩm quyền xem
xét, sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật nếu phát hiện có
dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà
nước cấp trên theo quy định của Luật này;
k) Xử lý hành vi cản trở hoạt động tố tụng hành chính
theo quy định của pháp luật;
l) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định
của Luật này.
2. Khi Chánh án vắng mặt, một Phó Chánh án được Chánh
án ủy nhiệm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Chánh án, trừ quyền quyết định
kháng nghị quy định tại điểm e khoản 1 Điều này. Phó Chánh án chịu trách nhiệm
trước Chánh án về thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được ủy nhiệm.
Điều 38. Nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm
phán
Khi được Chánh án Tòa án phân công, Thẩm phán có
những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
1. Xử lý đơn khởi kiện;
2. Lập hồ sơ vụ án hành chính;
3. Xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ; tổ chức
phiên tòa, phiên họp để giải quyết vụ án hành chính theo quy định của Luật này;
4. Quyết định việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện
pháp khẩn cấp tạm thời;
5. Quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ, quyết định tiếp tục đưa
vụ án hành chính ra giải quyết;
6. Giải thích, hướng dẫn cho đương sự biết để họ thực
hiện quyền được yêu cầu trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật về trợ
giúp pháp lý;
7. Tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận,
công khai chứng cứ và đối thoại theo quy định của Luật này;
8. Quyết định đưa vụ án hành chính ra xét xử;
9. Triệu tập người tham gia phiên tòa, phiên
họp;
10. Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài
liệu, chứng cứ hoặc xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ theo quy định của
Luật này;
11. Chủ tọa hoặc tham gia Hội đồng xét xử vụ án hành
chính; biểu quyết những vấn đề thuộc thẩm quyền của Hội đồng xét xử;
12. Xem xét về tính hợp pháp của văn bản hành
chính, hành vi hành chính có liên quan đến quyết định hành chính, hành vi hành
chính bị kiện và đề nghị Chánh án Tòa án kiến nghị với cơ quan, cá nhân có thẩm
quyền xem xét văn bản hành chính, hành vi hành chính đó theo quy định của pháp
luật;
13. Phát hiện và đề nghị Chánh án Tòa án kiến nghị
với cơ quan có thẩm quyền xem xét, sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy
phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật
của cơ quan nhà nước cấp trên theo quy định của Luật này;
14. Xử lý hành vi cản trở hoạt động tố tụng hành
chính theo quy định của pháp luật;
15. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định
của Luật này.
Điều 39. Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội
thẩm nhân dân
Khi được Chánh án Tòa án phân công, Hội thẩm nhân dân
có những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
1. Nghiên cứu hồ sơ vụ án;
2. Đề nghị Chánh án Tòa án, Thẩm phán được phân công
giải quyết vụ án hành chính ra quyết định cần thiết thuộc thẩm quyền;
3. Tham gia Hội đồng xét xử vụ án hành chính;
4. Tiến hành hoạt động tố tụng và ngang quyền với
Thẩm phán khi biểu quyết những vấn đề thuộc thẩm quyền của Hội đồng xét xử.
Điều 40. Nhiệm vụ, quyền hạn
của Thẩm tra viên
Khi được Chánh án Tòa án phân công, Thẩm tra viên có
những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
1. Thẩm tra hồ sơ vụ án hành chính mà bản án, quyết
định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật cần xem xét lại theo thủ tục giám đốc
thẩm, tái thẩm;
2. Kết luận về việc thẩm tra và báo cáo kết quả thẩm
tra, đề xuất phương án giải quyết vụ án hành chính với Chánh án Tòa án;
3. Thu thập tài liệu, chứng cứ theo quy định của Luật
này;
4. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy
định của Luật này.
Điều 41. Nhiệm vụ, quyền hạn của Thư ký
Tòa án
Khi được phân công, Thư ký Tòa án có những nhiệm vụ,
quyền hạn sau đây:
1. Chuẩn bị các công tác nghiệp vụ cần thiết trước
khi khai mạc phiên tòa;
2. Phổ biến nội quy phiên tòa;
3. Kiểm tra và báo cáo với Hội đồng xét xử danh sách
những người được triệu tập đến phiên tòa;
4. Ghi biên bản phiên tòa, biên bản phiên họp, biên bản lấy lời khai
của người tham gia tố tụng;
5. Thực hiện nhiệm
vụ, quyền hạn khác theo quy định của Luật này.
Điều 42. Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện
trưởng Viện kiểm sát
1. Khi thực hiện kiểm sát việc tuân theo pháp luật
trong hoạt động tố tụng hành chính, Viện trưởng Viện kiểm sát có những nhiệm
vụ, quyền hạn sau đây:
a) Tổ chức và chỉ đạo thực hiện công tác kiểm sát
việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng hành chính;
b) Quyết định phân công Kiểm sát viên thực hiện kiểm
sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng hành chính, tham gia phiên
tòa, phiên họp giải quyết vụ án hành chính theo quy định của Luật này và thông
báo cho Tòa án biết; phân công Kiểm tra viên tiến hành tố tụng đối với vụ án
hành chính bảo đảm đúng nguyên tắc theo quy định tại Điều 14 của Luật này;
c) Quyết định thay đổi Kiểm sát viên, Kiểm tra viên;
d) Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm,
tái thẩm bản án, quyết định của Tòa án theo quy định của Luật này;
đ) Yêu cầu, kiến nghị theo quy định của Luật này;
e) Giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định của
Luật này;
g) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định
của Luật này.
2. Khi Viện trưởng vắng mặt, một Phó Viện trưởng được
Viện trưởng ủy nhiệm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Viện trưởng, trừ quyền
quyết định kháng nghị quy định tại điểm d khoản 1 Điều này. Phó Viện trưởng
chịu trách nhiệm trước Viện trưởng về thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được ủy
nhiệm.
Điều 43. Nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm
sát viên
Khi được Viện trưởng Viện kiểm sát phân công thực
hiện kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng hành chính, Kiểm
sát viên có những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
1. Kiểm sát việc trả lại đơn khởi kiện;
2. Kiểm sát việc thụ lý, giải quyết vụ án;
3. Nghiên cứu hồ sơ vụ án; xác minh, thu thập tài
liệu, chứng cứ theo quy định tại khoản 6 Điều 84 của Luật này;
4. Tham gia phiên tòa, phiên họp và phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc giải
quyết vụ án theo quy định của Luật này;
5. Kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án;
6. Yêu cầu, kiến nghị Tòa án thực hiện hoạt động tố tụng theo quy định của
Luật này;
7. Đề nghị với Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền kháng nghị bản án,
quyết định của Tòa án có vi phạm pháp luật;
8. Kiểm sát hoạt động tố tụng của người tham gia tố tụng; yêu cầu, kiến
nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xử lý nghiêm minh người tham gia tố tụng vi
phạm pháp luật;
9. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của Luật này.
Điều 44. Nhiệm vụ, quyền hạn
của Kiểm tra viên
Khi được phân công, Kiểm tra viên có những nhiệm vụ, quyền hạn sau
đây:
1. Nghiên cứu hồ sơ vụ án, báo cáo kết quả với Kiểm
sát viên;
2. Lập hồ sơ kiểm sát vụ án hành chính theo sự phân
công của Kiểm sát viên hoặc Viện trưởng Viện kiểm sát;
3. Giúp Kiểm sát viên kiểm sát việc tuân theo pháp
luật theo quy định của Luật này.
Điều 45. Những trường hợp phải từ chối
hoặc thay đổi người tiến hành tố tụng
Người tiến hành tố tụng phải từ chối tiến hành tố
tụng hoặc bị thay đổi nếu thuộc một trong những trường hợp sau đây:
1. Đồng thời là đương sự, người đại diện, người thân
thích của đương sự;
2. Đã tham gia với tư cách người bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch
trong cùng vụ án đó;
3. Đã tham gia vào việc ra quyết định hành chính hoặc
có liên quan đến hành vi hành chính bị khởi kiện;
4. Đã tham gia vào việc ra quyết định giải quyết
khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khởi kiện;
5. Đã tham gia vào việc ra quyết định kỷ luật buộc
thôi việc công chức hoặc đã tham gia vào việc ra quyết định giải quyết
khiếu nại đối với quyết định kỷ luật buộc thôi việc công chức bị khởi kiện;
6. Đã tham gia vào việc ra quyết định xử lý vụ việc
cạnh tranh, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh
tranh bị khởi kiện;
7. Đã tham gia vào việc lập danh sách cử tri bị khởi
kiện;
8. Có căn cứ rõ ràng khác cho rằng họ có thể không vô
tư trong khi làm nhiệm vụ.
Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân phải từ chối tiến hành
tố tụng hoặc bị thay đổi nếu thuộc một trong những trường hợp sau đây:
1. Thuộc một trong những trường hợp quy định tại Điều
45 của Luật này;
2. Họ cùng trong một Hội đồng xét xử và là người thân
thích với nhau; trường hợp này, chỉ có một người được tiến hành tố tụng;
3. Họ đã tham gia giải quyết vụ án hành chính
đó theo thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm và đã ra bản án
sơ thẩm; bản án, quyết định phúc thẩm; quyết định giám đốc thẩm hoặc tái thẩm
và quyết định đình chỉ giải quyết vụ án, quyết định công nhận kết quả đối thoại
thành, trừ trường hợp là thành viên của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân
dân tối cao, Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao được tham gia xét xử vụ
án đó theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm;
4. Họ đã là người tiến hành tố tụng trong vụ án đó
với tư cách là Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên.
Thư ký Tòa án, Thẩm tra viên phải từ chối tiến hành
tố tụng hoặc bị thay đổi nếu thuộc một trong những trường hợp sau đây:
1. Thuộc một trong những trường hợp quy định tại Điều
45 của Luật này;
2. Đã là người tiến hành tố tụng trong vụ án đó với
tư cách là Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án, Kiểm sát
viên, Kiểm tra viên;
3. Là người thân thích với một trong những người tiến
hành tố tụng khác trong vụ án đó.
1. Việc từ chối tiến hành tố tụng hoặc đề nghị thay
đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân,Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án trước khi mở
phiên tòa phải được lập thành văn bản, trong đó nêu rõ lý do và căn cứ của việc
từ chối tiến hành tố tụng hoặc của việc đề nghị thay đổi người tiến hành tố
tụng.
2. Việc từ chối tiến hành tố tụng hoặc đề nghị thay
đổi những người quy định tại khoản 1 Điều này tại phiên tòa phải
được ghi vào biên bản phiên tòa.
Điều 49. Quyết định việc thay đổi Thẩm
phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án
1. Trước khi mở phiên tòa, việc thay đổi Thẩm phán,
Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án do Chánh án Tòa án quyết
định.
Trường hợp Thẩm phán bị thay đổi là Chánh án Tòa án
thì giải quyết như sau:
a) Thẩm phán là Chánh án Tòa án cấp huyện do Chánh án
Tòa án cấp tỉnh quyết định;
b) Thẩm phán là Chánh án Tòa án cấp tỉnh do Chánh án Tòa án nhân
dân cấp cao có thẩm quyền theo lãnh thổ đối với Tòa án cấp tỉnh đó quyết định;
c) Thẩm phán là Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao do Chánh án Tòa án nhân
dân tối cao quyết định.
2. Tại phiên tòa, việc thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm
nhân dân, Thư ký Tòa án do Hội đồng xét xử quyết định sau khi nghe ý kiến của
người bị yêu cầu thay đổi. Hội đồng xét xử thảo luận tại phòng nghị án và quyết
định theo đa số. Trường hợp phải thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký
Tòa án mà không có người dự khuyết thay thế ngay thì Hội đồng xét xử ra quyết
định hoãn phiên tòa. Chánh án Tòa án quyết định cử Thẩm phán, Hội thẩm nhân
dân, Thư ký Tòa án thay thế người bị thay đổi; nếu người bị thay đổi là Chánh
án Tòa án thì thẩm quyền quyết định được thực hiện theo quy định tại khoản 1
Điều này.
3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày hoãn
phiên tòa, Chánh án Tòa án phải cử người khác thay thế.
Kiểm sát viên, Kiểm tra viên phải từ chối tiến hành
tố tụng hoặc bị thay đổi nếu thuộc một trong những trường hợp sau đây:
1. Thuộc một trong những trường hợp quy định tại Điều
45 của Luật này;
2. Đã là người tiến hành tố tụng trong vụ án đó với
tư cách là Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án, Kiểm sát
viên, Kiểm tra viên trong vụ án đó.
Điều
51. Thủ tục từ chối tiến hành tố tụng hoặc đề nghị thay đổi Kiểm sát viên, Kiểm
tra viên
1. Việc từ chối tiến hành tố tụng hoặc đề nghị thay đổi Kiểm sát
viên trước khi mở phiên tòa phải được lập thành văn bản, trong đó nêu rõ lý do
và căn cứ của việc từ chối hoặc đề nghị thay đổi Kiểm sát viên.
Việc từ chối tiến hành tố tụng hoặc đề nghị thay đổi Kiểm tra viên phải
được lập thành văn bản, trong đó nêu rõ lý do và căn cứ của việc từ chối hoặc
đề nghị thay đổi Kiểm tra viên.
2. Việc từ chối tiến hành tố tụng hoặc đề nghị thay đổi Kiểm sát viên tại
phiên tòa phải được ghi vào biên bản phiên tòa.
Điều
52. Quyết định việc thay đổi Kiểm sát viên, Kiểm tra viên
1. Trước khi mở phiên tòa, việc thay đổi Kiểm sát viên do Viện trưởng Viện
kiểm sát cùng cấp quyết định; nếu Kiểm sát viên bị thay đổi là Viện trưởng Viện
kiểm sát thì do Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp quyết định.
Việc thay đổi Kiểm tra viên do Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp quyết
định.
2. Tại phiên tòa, việc thay đổi Kiểm sát viên do Hội đồng xét xử quyết định
sau khi nghe ý kiến của người bị yêu cầu thay đổi. Hội đồng xét xử thảo luận
tại phòng nghị án và quyết định theo đa số.
Trường hợp phải thay đổi Kiểm sát viên thì Hội đồng xét xử ra quyết định
hoãn phiên tòa. Việc cử Kiểm sát viên thay thế Kiểm sát viên bị thay đổi do
Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp quyết định; nếu Kiểm sát viên bị thay đổi là
Viện trưởng Viện kiểm sát thì do Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp
quyết định.
3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày hoãn phiên tòa, Viện trưởng
Viện kiểm sát phải cử người khác thay thế và thông báo bằng văn bản cho Tòa án.
NGƯỜI THAM GIA TỐ TỤNG, QUYỀN VÀ NGHĨA
VỤ CỦA NGƯỜI THAM GIA TỐ TỤNG
Điều 53. Người tham gia tố tụng
Người tham gia tố tụng hành chính gồm đương sự, người đại diện của đương
sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng, người
giám định, người phiên dịch.
Điều 54. Năng lực pháp luật tố tụng hành
chính và năng lực hành vi tố tụng hành chính của đương sự
1. Năng lực pháp luật tố tụng hành chính là khả năng có các quyền, nghĩa vụ
trong tố tụng hành chính do pháp luật quy định. Mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân
có năng lực pháp luật tố tụng hành chính như nhau trong việc yêu cầu Tòa án bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
2. Năng lực hành vi tố tụng hành chính là khả năng tự mình thực hiện quyền,
nghĩa vụ trong tố tụng hành chính hoặc ủy quyền
cho người đại diện tham gia tố tụng hành chính.
3. Đương sự là người từ đủ mười tám tuổi trở lên có đầy đủ
năng lực hành vi tố tụng hành chính, trừ người mất năng lực hành vi dân sự hoặc pháp luật có quy định khác.
Đối với người bị hạn chế năng lực
hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì năng lực
hành vi tố tụng hành chính của họ được xác định theo
quyết định của Tòa án.
4. Đương sự là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự,
người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc người có khó khăn trong nhận
thức, làm chủ hành vi thực hiện quyền, nghĩa vụ của đương sự trong tố tụng hành
chính thông qua người đại diện theo pháp luật.
5. Đương sự là cơ quan, tổ chức thực hiện quyền, nghĩa vụ trong tố tụng
hành chính thông qua người đại diện theo pháp luật.
Điều 55. Quyền, nghĩa vụ của đương sự
Đương sự có quyền, nghĩa vụ ngang nhau khi tham gia tố
tụng,
bao gồm:
1. Tôn trọng Tòa án, chấp hành nghiêm chỉnh nội quy phiên tòa;
2. Nộp tiền tạm ứng án phí, án phí, lệ phí và chi phí tố tụng khác theo quy
định của pháp luật;
3. Giữ nguyên, thay đổi, bổ sung hoặc rút yêu cầu;
4. Cung cấp đầy đủ, chính xác địa chỉ nơi cư trú, trụ sở của mình; trong
quá trình Tòa án giải quyết vụ án nếu có thay đổi địa chỉ, nơi cư trú, trụ sở
thì phải thông báo kịp thời cho đương sự khác và Tòa án;
5. Cung cấp tài liệu, chứng cứ, chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của mình;
6. Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang lưu giữ, quản lý tài liệu, chứng
cứ cung cấp tài liệu, chứng cứ đó cho mình để giao nộp cho Tòa án;
7. Đề nghị Tòa án xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ của vụ án mà tự
mình không thể thực hiện được; đề nghị Tòa án buộc bên đương sự khác xuất trình
tài liệu, chứng cứ mà họ đang lưu giữ, quản lý; đề nghị Tòa án ra quyết định buộc cơ quan, tổ chức, cá
nhân đang lưu giữ, quản lý chứng cứ cung cấp chứng
cứ; đề nghị Tòa án triệu tập người làm chứng, trưng cầu giám định, định giá tài
sản;
8. Được biết, ghi chép và sao chụp tài liệu, chứng cứ do đương sự khác xuất
trình hoặc do Tòa án thu thập, trừ tài liệu, chứng cứ không được công khai theo
quy định tại khoản 2 Điều 96 của Luật này;
9. Nộp bản sao đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ cho Tòa án để Tòa án gửi
cho đương sự khác hoặc người đại diện hợp pháp của đương sự khác, trừ tài liệu, chứng cứ không được công khai theo quy định
tại khoản 2 Điều 96 của Luật này;
10. Đề nghị Tòa án quyết định việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ
biện pháp khẩn cấp tạm thời;
11. Đề nghị Tòa án tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công
khai chứng cứ, đối thoại và tham gia phiên họp trong quá trình Tòa án giải
quyết vụ án;
12. Nhận thông báo hợp lệ để thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình;
13. Tự bảo vệ, nhờ luật sư hoặc người khác bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho mình;
14. Yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng;
15. Tham gia phiên tòa, phiên họp;
16. Phải có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án và chấp hành quyết định của
Tòa án trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án;
17. Đề nghị Tòa án đưa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố
tụng;
18. Đề nghị Tòa án tạm đình chỉ giải quyết vụ án;
19. Đưa ra câu hỏi với người khác về vấn đề liên quan đến vụ án hoặc đề
xuất với Tòa án những vấn đề cần hỏi với người khác; được đối chất với nhau
hoặc với người làm chứng;
20. Tranh luận tại phiên tòa, đưa ra lập luận về đánh giá chứng cứ và pháp
luật áp dụng;
21. Được cấp trích lục bản án, quyết định của Tòa án;
22. Kháng cáo, khiếu nại bản án, quyết định của Tòa án;
23 Đề nghị người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái
thẩm bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật;
24. Chấp hành nghiêm chỉnh bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực
pháp luật;
25. Sử dụng quyền của đương sự một cách thiện chí, không được lạm dụng để
gây cản trở hoạt động tố tụng của Tòa án, đương sự khác;
26. Quyền, nghĩa vụ khác theo quy định
của pháp luật.
Điều 56. Quyền, nghĩa vụ của người khởi
kiện
Người khởi kiện có các quyền, nghĩa vụ sau đây:
1. Các quyền, nghĩa vụ quy định tại Điều 55 của Luật này;
2. Thay đổi nội dung yêu cầu khởi kiện, nếu thời hiệu khởi kiện vẫn còn;
rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện.
Điều 57. Quyền, nghĩa vụ của người bị
kiện
Người bị kiện có các quyền, nghĩa vụ sau đây:
1. Các
quyền, nghĩa
vụ quy định tại Điều 55 của Luật này;
2. Được Tòa án thông báo về việc bị kiện;
3. Chứng minh tính đúng đắn, hợp pháp của quyết định hành chính, hành vi
hành chính bị khởi kiện;
4. Sửa đổi hoặc hủy bỏ quyết định hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi
việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh,
danh sách cử tri bị khởi kiện; dừng, khắc phục hành vi hành chính bị khởi kiện.
Điều 58. Quyền, nghĩa vụ của người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
1. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có thể có yêu cầu độc lập, tham
gia tố tụng với bên khởi kiện hoặc với bên bị kiện.
2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập thì có quyền,
nghĩa vụ của người khởi kiện quy định tại Điều 56 của Luật này.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nếu tham gia tố tụng với bên khởi
kiện hoặc chỉ có quyền lợi thì có quyền, nghĩa vụ quy định tại Điều 55 của Luật
này.
4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nếu tham gia tố tụng với bên bị
kiện hoặc chỉ có nghĩa vụ thì có quyền, nghĩa vụ quy định tại khoản 1 và khoản
2 Điều 57 của Luật này.
Điều 59. Kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng
hành chính
1. Trường hợp người khởi kiện là cá nhân đã chết mà quyền, nghĩa vụ của
người đó được thừa kế thì người thừa kế tham gia tố tụng.
2. Trường hợp người khởi kiện là cơ quan, tổ chức bị hợp nhất, sáp nhập,
chia, tách, giải thể thì cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân kế thừa quyền, nghĩa vụ
của cơ quan, tổ chức cũ thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức
đó.
3. Trường hợp người bị kiện là người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức
mà cơ quan, tổ chức đó hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, giải thể thì người tiếp
nhận quyền, nghĩa vụ của người đó tham gia tố tụng.
Trường hợp người bị kiện là người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức mà
chức danh đó không còn thì người đứng đầu cơ quan, tổ chức đó thực hiện quyền,
nghĩa vụ của người bị kiện.
4. Trường hợp người bị kiện là cơ quan, tổ chức bị hợp nhất, sáp nhập,
chia, tách thì cơ quan, tổ chức kế thừa quyền, nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức cũ
thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức đó.
Trường hợp người bị kiện là cơ quan, tổ chức đã giải thể mà không có người
kế thừa quyền, nghĩa vụ thì cơ quan, tổ chức cấp trên thực hiện quyền, nghĩa vụ
của người bị kiện.
5. Trường hợp sáp nhập, chia, tách, giải thể, điều chỉnh địa giới hành
chính trong một đơn vị hành chính mà đối tượng của quyết định hành chính có sự
thay đổi thì cơ quan, tổ chức, cá nhân đã ra quyết định hành chính có trách
nhiệm tham gia tố tụng với tư cách là người bị kiện tại Tòa án nơi cơ quan, tổ
chức, cá nhân có quyết định hành chính bị kiện. Cơ quan tiếp nhận đối tượng của
quyết định hành chính bị kiện phải tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan.
6. Việc kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng có thể được Tòa án chấp nhận ở bất
cứ giai đoạn nào trong quá trình giải quyết vụ án hành chính.
1. Người đại diện trong tố tụng hành chính bao gồm người đại diện theo pháp
luật và người đại diện theo ủy quyền.
2. Người đại diện theo pháp luật trong tố tụng hành chính có thể là một
trong những người sau đây, trừ trường hợp người đó bị hạn chế quyền đại diện
theo quy định của pháp luật:
a) Cha, mẹ đối với con chưa thành niên;
b) Người giám hộ đối với người được giám hộ;
c) Người được Tòa án chỉ định đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân
sự; người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi;
d) Người đứng đầu cơ quan, tổ chức do được bổ nhiệm hoặc bầu theo quy định
của pháp luật;
đ) Những người khác theo
quy định của pháp luật.
3. Người đại diện theo ủy quyền trong tố tụng hành chính phải là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, được đương sự hoặc người đại diện theo pháp luật của đương sự ủy quyền
bằng văn bản.
Trường hợp hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân tham gia tố
tụng hành chính thì các thành viên có thể ủy quyền cho một thành viên hoặc người khác làm đại diện tham gia
tố tụng hành chính.
Trường hợp người bị kiện là cơ quan, tổ chức hoặc người đứng đầu cơ quan,
tổ chức thì người bị kiện chỉ được ủy quyền cho cấp phó của mình đại diện. Người được ủy quyền phải tham gia
vào quá trình giải quyết toàn bộ vụ án, thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ
của người bị kiện theo quy định của Luật này.
4. Người đại diện theo pháp luật, người đại diện theo ủy quyền trong tố
tụng hành chính chấm dứt việc đại diện theo quy định của Bộ luật dân sự.
5. Người đại diện theo pháp luật trong tố tụng hành chính thực hiện các
quyền, nghĩa vụ tố tụng hành chính của đương sự mà mình là đại diện.
Người đại diện theo ủy quyền trong tố tụng hành chính thực hiện các quyền,
nghĩa vụ tố tụng hành chính của người ủy quyền. Người được ủy quyền không được
ủy quyền lại cho người thứ ba.
6. Những người sau đây không được làm người đại diện:
a) Nếu họ là đương sự trong cùng một vụ án với người được đại diện mà quyền
và lợi ích hợp pháp của họ đối lập với quyền và lợi ích hợp pháp của người được
đại diện;
b) Nếu họ đang là người đại diện trong tố tụng hành chính cho một đương sự
khác mà quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự đó đối lập với quyền và lợi ích
hợp pháp của người được đại diện trong cùng một vụ án.
7. Cán bộ, công chức trong các cơ quan Tòa án, Viện kiểm sát, Thanh tra, Thi hành án; công chức, sĩ quan, hạ sĩ
quan trong ngành Công an không được làm người đại diện trong tố tụng hành
chính, trừ trường hợp họ tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện cho cơ
quan của họ hoặc với tư cách là người đại diện theo pháp luật.
Điều 61. Người bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của đương sự
1. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự là người tham gia tố
tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.
2. Những người sau đây được làm người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
đương sự khi có yêu cầu của đương sự và được Tòa án làm thủ tục đăng ký người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
đương sự:
a) Luật sư tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật về luật sư;
b) Trợ giúp viên pháp lý hoặc người tham gia trợ giúp pháp lý theo quy định
của pháp luật về trợ giúp pháp lý;
c) Công dân Việt Nam có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, có kiến thức
pháp lý, chưa bị kết án hoặc bị kết án nhưng đã được xóa án tích, không thuộc
trường hợp đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính, không phải là cán bộ,
công chức trong các cơ quan Tòa án, Viện
kiểm sát,
Thanh tra, Thi hành án; công chức, sĩ quan, hạ sĩ quan trong ngành Công an.
3. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có thể bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của nhiều đương sự trong cùng một vụ án, nếu quyền và lợi
ích hợp pháp của những người đó không đối lập nhau. Nhiều người bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của đương sự có thể cùng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
một đương sự trong vụ án.
4. Khi đề nghị Tòa án làm thủ tục đăng ký người bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của đương sự, người đề nghị phải xuất trình các giấy tờ sau đây:
a) Luật sư phải xuất trình các giấy tờ quy định tại khoản 2 Điều 27 của
Luật luật sư;
b) Trợ giúp viên pháp lý hoặc người tham gia trợ giúp pháp lý xuất trình
văn bản cử người thực hiện trợ giúp pháp lý của tổ chức thực hiện trợ giúp pháp
lý và thẻ trợ giúp viên pháp lý hoặc thẻ luật sư;
c) Công dân Việt Nam có đủ điều kiện quy định tại điểm c khoản 2 Điều này
xuất trình giấy yêu cầu của đương sự và giấy tờ tùy thân.
5. Sau khi kiểm
tra giấy tờ và thấy người đề nghị có đủ điều kiện làm người bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của đương sự quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều này thì trong
thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đề nghị, Tòa án phải vào sổ đăng
ký người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự và xác nhận vào giấy yêu
cầu người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Trường hợp từ chối đăng ký thì
Tòa án phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho người đề nghị.
6. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có các quyền, nghĩa vụ sau đây:
a) Tham gia tố tụng từ khi khởi kiện hoặc bất cứ giai đoạn nào trong quá
trình tố tụng hành chính;
b) Thu thập tài liệu, chứng cứ và cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án, nghiên cứu hồ sơ vụ án và được ghi chép, sao chụp
những tài liệu cần thiết có trong hồ sơ vụ án để thực hiện việc bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của đương sự, trừ tài liệu, chứng cứ không được công khai theo
quy định tại khoản 2 Điều 96 của Luật này;
c) Tham gia phiên tòa, phiên họp hoặc trong trường hợp không tham gia thì
được gửi văn bản bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự cho Tòa án xem
xét;
d) Thay mặt đương sự yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người tham
gia tố tụng khác theo quy định của Luật này;
đ) Giúp đương sự về mặt pháp lý liên quan đến việc bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của họ; thay mặt đương sự nhận giấy tờ, văn bản tố tụng mà Tòa án tống
đạt hoặc thông báo trong trường hợp được đương sự ủy quyền và có trách nhiệm
chuyển cho đương sự;
e) Các quyền, nghĩa vụ quy định tại các khoản 1, 6, 9, 16, 19 và 20 Điều 55 của Luật này;
g) Quyền, nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.
1. Người làm chứng là người biết các tình tiết có liên quan đến nội dung vụ
án được đương sự đề nghị và Tòa án triệu tập tham gia tố tụng. Người mất năng lực
hành vi dân sự không thể là người làm chứng.
2. Người làm chứng có các quyền, nghĩa vụ sau đây:
a) Cung cấp toàn bộ thông tin, tài liệu, đồ vật mà mình có được liên quan
đến việc giải quyết vụ án;
b) Khai báo trung thực những tình tiết mà mình biết được liên quan đến việc
giải quyết vụ án;
c) Chịu trách nhiệm trước pháp luật về khai báo của mình, bồi thường thiệt
hại do khai báo sai sự thật gây thiệt hại cho đương sự hoặc cho người khác;
d) Phải có mặt tại Tòa án và tại phiên tòa theo giấy triệu tập của Tòa án
nếu việc lấy lời khai của người làm chứng phải được thực hiện tại Tòa
án, tại phiên tòa; trường hợp người làm chứng không đến phiên tòa mà không có
lý do chính đáng và việc vắng mặt của họ cản trở việc xét xử thì Hội đồng xét
xử có thể ra quyết định dẫn giải người làm chứng đến phiên tòa;
đ) Phải cam đoan trước Tòa án về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình,
trừ trường hợp người làm chứng là người chưa
thành niên;
e) Được từ chối khai báo nếu lời khai của mình liên quan đến bí mật nhà
nước, bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật cá nhân hoặc
việc khai báo đó ảnh hưởng xấu, bất lợi cho đương sự là người có quan hệ thân
thích với mình;
g) Được nghỉ việc trong thời gian Tòa án triệu tập hoặc lấy lời khai;
h) Được thanh toán các khoản chi phí có liên quan theo quy định của pháp
luật;
i) Yêu cầu Tòa án đã triệu tập, cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ tính
mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản,
quyền và lợi ích hợp pháp khác của mình khi tham gia tố tụng;
k) Khiếu nại hành vi tố tụng, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan
tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
1. Người giám định là người có kiến thức, kinh nghiệm cần thiết theo quy
định của pháp luật về lĩnh vực có đối tượng cần được giám định, được các bên đương sự thỏa thuận
lựa chọn hoặc được Tòa án trưng cầu để giám định đối tượng đó theo yêu cầu của
một hoặc các bên đương sự.
2. Người giám định có các quyền, nghĩa vụ sau đây:
a) Được đọc tài liệu có trong hồ sơ vụ án liên quan đến đối tượng giám
định; yêu cầu Tòa án cung cấp tài liệu cần thiết cho việc giám định;
b) Đặt câu hỏi đối với người tham gia tố tụng về những vấn đề liên quan đến
đối tượng giám định;
c) Có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án, trả lời những vấn đề liên quan
đến việc giám định;
d) Thông báo bằng văn bản cho Tòa án biết về việc không thể giám định được
do việc cần giám định vượt quá khả năng chuyên môn; tài liệu cung cấp phục vụ
cho việc giám định không đủ hoặc không sử dụng được;
đ) Bảo quản tài liệu đã nhận và gửi trả lại Tòa án cùng với kết luận giám
định hoặc cùng với thông báo về việc không thể giám định được;
e) Không được tự mình thu thập tài liệu là
đối tượng giám
định, tiếp xúc với những người tham gia tố tụng khác nếu việc tiếp xúc đó ảnh
hưởng đến kết quả giám định; không được tiết lộ bí mật thông tin mà mình biết
khi tiến hành giám định hoặc thông báo kết quả giám định cho người khác, trừ
người đã quyết định trưng cầu giám định;
g) Độc lập đưa ra kết luận giám định; kết luận giám định một cách trung
thực, có căn cứ;
h) Được thanh toán các khoản chi phí theo quy định của pháp luật;
i) Cam đoan trước Tòa án về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình.
3. Người giám định phải từ
chối hoặc bị thay đổi trong những trường hợp sau đây:
a) Đồng thời là đương sự, người đại diện, người thân thích của đương sự;
b) Đã tham gia tố tụng với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của đương sự, người làm chứng, người phiên dịch trong cùng vụ án đó;
c) Đã thực hiện việc giám định đối với cùng một đối tượng cần giám định
trong cùng vụ án đó;
d) Đã tiến hành tố tụng trong vụ án đó với tư cách là Thẩm phán, Hội thẩm
nhân dân, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên;
đ) Có căn cứ rõ ràng khác cho rằng họ có thể không vô tư trong khi làm
nhiệm vụ.
1. Người phiên dịch là người có khả năng dịch từ một ngôn ngữ khác ra tiếng
Việt và ngược lại trong trường hợp có người tham gia tố tụng không sử dụng được
tiếng Việt. Người phiên dịch được một bên đương sự lựa chọn hoặc các bên
đương sự thỏa thuận lựa chọn và được Tòa án chấp nhận hoặc được Tòa án yêu cầu
để phiên dịch.
Người biết chữ của người khuyết tật nhìn hoặc người biết nghe, nói bằng
ngôn ngữ, ký hiệu của người khuyết tật nghe, người khuyết tật nói cũng được coi là người phiên dịch.
Trường hợp chỉ có người đại diện hoặc người thân thích của người khuyết tật
nhìn hoặc người khuyết tật nghe, người
khuyết tật nói
biết được ngôn ngữ, ký hiệu của họ thì người đại diện hoặc người thân thích có
thể được Tòa án chấp nhận làm phiên dịch cho người khuyết tật đó.
2. Người phiên dịch có các quyền, nghĩa vụ sau đây:
a) Có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án;
b) Phiên dịch trung thực, khách quan, đúng nghĩa;
c) Đề nghị người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng giải thích thêm
lời nói cần phiên dịch;
d) Không được tiếp xúc với những người tham gia tố tụng khác nếu việc tiếp
xúc đó ảnh hưởng đến tính trung thực, khách quan, đúng nghĩa khi phiên dịch;
đ) Được thanh toán các khoản chi phí theo quy định của pháp luật;
e) Cam đoan trước Tòa án về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình.
3. Người phiên dịch phải
từ chối hoặc bị thay đổi trong những trường hợp sau đây:
a) Đồng thời là đương sự, người đại diện, người thân thích của đương sự;
b) Đã tham gia tố tụng với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của đương sự, người làm chứng, người giám định trong cùng vụ án đó;
c) Đã tiến hành tố tụng trong vụ án đó với tư cách là Thẩm phán, Hội
thẩm nhân dân, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên, Kiểm tra
viên;
d) Có căn cứ rõ ràng khác cho rằng họ có thể không vô tư trong khi làm
nhiệm vụ.
1. Trước khi mở phiên tòa, việc từ chối người giám định, người phiên dịch
hoặc đề nghị thay đổi người giám định, người phiên dịch phải được lập thành văn
bản và nêu rõ lý do của việc từ chối
hoặc đề nghị thay đổi; việc thay đổi người giám định, người phiên dịch do Chánh
án Tòa án quyết định.
2. Tại phiên tòa, việc từ chối người giám định, người phiên dịch hoặc đề
nghị thay đổi người giám định, người phiên dịch phải được ghi vào biên bản
phiên tòa; việc thay đổi người giám định, người phiên dịch do Hội đồng xét xử
quyết định sau khi nghe ý kiến của người bị yêu cầu thay đổi.
CÁC BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI
Điều 66. Quyền yêu cầu áp dụng biện pháp
khẩn cấp tạm thời
1. Trong quá trình
giải quyết vụ án, đương sự, người đại diện của đương sự có quyền yêu cầu Tòa án
đang giải quyết vụ án đó áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khẩn cấp tạm thời quy
định tại Điều 68 của Luật này để tạm thời giải quyết yêu cầu cấp bách của đương
sự, bảo vệ chứng cứ, bảo toàn tình trạng hiện có tránh gây thiệt hại không thể
khắc phục được, bảo đảm việc giải quyết vụ án hoặc việc thi hành án.
2. Trường hợp do
tình thế khẩn cấp, cần phải bảo vệ ngay chứng cứ, ngăn chặn hậu quả nghiêm
trọng có thể xảy ra thì cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền nộp đơn yêu cầu Tòa
án có thẩm quyền ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại
Điều 68 của Luật này đồng thời với việc nộp đơn khởi kiện cho Tòa án đó.
3. Người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không phải thực hiện
biện pháp bảo đảm.
Điều 67. Thẩm quyền quyết định áp dụng,
thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời
1. Việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời trước khi mở
phiên tòa do một Thẩm phán xem xét, quyết định.
2. Việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời tại phiên tòa
do Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.
Điều 68. Các biện pháp khẩn cấp tạm thời
1. Tạm đình chỉ việc thi hành quyết định hành chính, quyết định kỷ luật
buộc thôi việc, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh.
2. Tạm dừng việc thực hiện hành vi hành chính.
3. Cấm hoặc buộc thực hiện hành vi nhất định.
Tạm đình chỉ việc thi hành quyết định hành chính, quyết định kỷ luật buộc
thôi việc, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh được áp dụng nếu trong quá trình
giải quyết vụ án có căn cứ cho rằng việc thi hành quyết định đó sẽ dẫn đến hậu
quả nghiêm trọng không thể khắc phục.
Điều 70. Tạm dừng việc thực hiện
hành vi hành chính
Tạm dừng việc thực hiện hành vi hành chính được áp dụng nếu có căn cứ cho
rằng việc tiếp tục thực hiện hành vi hành chính sẽ dẫn đến hậu quả nghiêm trọng
không thể khắc phục.
Điều 71. Cấm hoặc buộc thực hiện
hành vi nhất định
Cấm hoặc buộc thực hiện hành vi nhất định được áp dụng nếu trong quá trình
giải quyết vụ án có căn cứ cho rằng đương sự thực hiện hoặc không thực hiện
hành vi nhất định làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án hoặc quyền, lợi ích hợp pháp của người khác có liên quan trong vụ án
đang được Tòa án giải quyết.
Điều 72. Trách nhiệm trong việc yêu cầu,
áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
1. Đương sự yêu cầu Tòa án ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm
thời phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về yêu cầu của mình, nếu gây thiệt
hại thì phải bồi thường theo quy định của
pháp luật.
2. Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng với yêu cầu của
đương sự mà gây thiệt hại cho người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc
gây thiệt hại cho người thứ ba thì Tòa án phải bồi thường.
3. Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không
đúng thời hạn theo quy định của pháp luật hoặc không áp dụng biện pháp khẩn cấp
tạm thời mà không có lý do chính đáng, gây thiệt hại cho người có yêu cầu áp
dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì Tòa án phải bồi thường.
4. Việc bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản
2 và khoản 3 Điều này được thực hiện theo quy định của Luật trách nhiệm bồi
thường của Nhà nước.
Điều 73. Thủ tục áp dụng biện pháp khẩn
cấp tạm thời
1. Người yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải làm đơn
gửi đến Tòa án có thẩm quyền kèm theo tài
liệu, chứng
cứ để chứng minh cho sự cần thiết áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.
2. Đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải có các nội dung
chính sau đây:
a) Ngày, tháng, năm viết đơn;
b) Tên, địa chỉ; số điện thoại, fax, địa
chỉ thư điện tử (nếu có) của người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;
c) Tên, địa chỉ; số điện thoại, fax, địa
chỉ thư điện tử (nếu có) của người bị yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm
thời;
d) Tóm tắt nội dung quyết định hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi
việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh
hoặc hành vi hành chính bị khởi kiện;
đ) Lý do cần phải áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;
e) Biện pháp khẩn cấp tạm thời cần được áp dụng và các yêu cầu cụ thể.
3. Đối với trường hợp yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định
tại khoản 1 Điều 66 của Luật này, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ
án phải xem xét, giải quyết. Trong thời hạn 48 giờ kể từ thời điểm nhận đơn yêu
cầu, Thẩm phán phải ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; trường
hợp không chấp nhận yêu cầu thì Thẩm phán phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ
lý do cho người yêu cầu, Viện kiểm sát cùng cấp.
Trường hợp Hội đồng xét xử nhận đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm
thời tại phiên tòa thì Hội đồng xét xử xem xét ra quyết định áp dụng ngay biện
pháp khẩn cấp tạm thời; trường hợp không chấp nhận yêu cầu thì Hội đồng xét xử
thông báo, nêu rõ lý do cho người yêu cầu và ghi vào biên bản phiên tòa.
4. Đối với trường hợp yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định
tại khoản 2 Điều 66 của Luật này thì sau khi nhận được đơn yêu cầu cùng với đơn
khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo, Chánh
án Tòa án chỉ định ngay một Thẩm phán thụ lý giải quyết đơn yêu cầu. Trong thời
hạn 48 giờ kể từ thời điểm nhận được đơn yêu cầu, Thẩm phán phải xem xét và ra
quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; nếu không chấp nhận yêu cầu thì
Thẩm phán phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho người yêu cầu, Viện
kiểm sát cùng cấp.
Điều 74. Thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn
cấp tạm thời
1. Theo yêu cầu của đương sự, Tòa án xem xét, quyết định thay đổi biện pháp
khẩn cấp tạm thời đang được áp dụng khi xét thấy không còn phù hợp mà cần thiết
phải thay đổi bằng biện pháp khẩn cấp tạm thời khác.
2. Tòa án ra quyết định hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời đã được áp dụng
khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đề nghị hủy bỏ biện
pháp khẩn cấp tạm thời đã được áp dụng;
b) Căn cứ của việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không còn;
c) Vụ án đã được giải quyết bằng bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu
lực pháp luật;
d) Các trường hợp Tòa án trả lại đơn khởi kiện theo quy định của Luật này;
đ) Vụ án được đình chỉ theo quy định tại Điều 143 của Luật này.
3. Thủ tục thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời được thực hiện theo
quy định tại Điều 73 của Luật này.
Điều 75. Hiệu lực của quyết định áp
dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời
1. Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời có hiệu
lực thi hành ngay.
2. Tòa án phải cấp hoặc gửi ngay quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện
pháp khẩn cấp tạm thời cho đương sự, Viện kiểm sát cùng cấp và cơ quan thi hành
án dân sự cùng cấp.
Điều 76. Khiếu nại, kiến nghị việc áp
dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời
1. Đương sự có quyền khiếu nại, Viện kiểm sát có quyền kiến nghị với Chánh
án Tòa án đang giải quyết vụ án về quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện
pháp khẩn cấp tạm thời hoặc việc Thẩm phán không ra quyết định áp dụng, thay
đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời. Thời hạn khiếu nại, kiến nghị là 03
ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện
pháp khẩn cấp tạm thời hoặc thông báo của Thẩm phán về việc không quyết định áp
dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời.
2. Tại phiên tòa, đương sự có quyền khiếu nại, Viện kiểm sát có quyền kiến
nghị với Hội đồng xét xử về việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp
tạm thời hoặc không áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời.
Điều 77. Giải quyết khiếu nại, kiến nghị
việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời
1. Chánh án Tòa án phải xem xét, giải quyết khiếu nại, kiến nghị quy định
tại khoản 1 Điều 76 của Luật này trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được khiếu
nại, kiến nghị.
2. Quyết định giải quyết khiếu nại, kiến nghị của Chánh án Tòa án là quyết
định cuối cùng và phải được cấp hoặc gửi ngay cho đương sự, Viện kiểm sát cùng
cấp và cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp.
3. Việc giải quyết khiếu nại, kiến nghị tại phiên tòa thuộc thẩm quyền của
Hội đồng xét xử. Quyết định giải quyết khiếu nại, kiến nghị của Hội đồng xét xử
là quyết định cuối cùng.
Điều 78. Nghĩa vụ cung cấp chứng cứ,
chứng minh trong tố tụng hành chính
1. Người khởi kiện có nghĩa vụ cung cấp bản sao quyết định hành chính hoặc
quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết
định xử lý vụ việc cạnh tranh, bản sao quyết định giải quyết khiếu nại (nếu
có), cung cấp chứng cứ khác để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình; trường
hợp không cung cấp được thì phải nêu rõ lý do.
2. Người bị kiện có nghĩa vụ cung cấp cho Tòa án hồ sơ giải quyết khiếu nại
(nếu có) và bản sao các văn bản, tài liệu mà căn cứ vào đó để ra quyết định
hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại
về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh hoặc có hành vi hành chính.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để
bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
Điều 79. Những tình tiết, sự kiện
không phải chứng minh
1. Những tình tiết, sự kiện sau đây không phải chứng minh:
a) Những tình tiết, sự kiện rõ ràng mà mọi người đều biết và được Tòa án
thừa nhận;
b) Những tình tiết, sự kiện đã được xác định trong bản án, quyết định của
Tòa án đã có hiệu lực pháp luật;
c) Những tình tiết, sự kiện đã được ghi trong văn bản và được công chứng,
chứng thực hợp pháp; trường hợp có nghi ngờ về tính xác thực của tình tiết, sự
kiện trong văn bản này thì Thẩm phán có thể yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân
đã cung cấp, giao nộp văn bản xuất trình văn bản gốc, bản chính.
2. Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện,
tài liệu, văn bản mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự
đưa ra tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản đó không phải chứng minh.
Đương sự có người đại diện tham gia tố tụng thì sự thừa nhận hoặc không phản
đối của người đại diện được coi là sự thừa nhận của đương sự nếu không vượt quá
phạm vi đại diện.
Chứng cứ trong vụ án hành chính là những gì có thật được đương sự, cơ quan,
tổ chức, cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho Tòa án trong quá trình tố tụng
hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục do Luật này quy định mà Tòa
án sử dụng làm căn cứ để xác định các tình
tiết khách quan của vụ án cũng như xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương
sự là có căn cứ và hợp pháp.
Chứng cứ được thu thập từ các nguồn sau đây:
1. Tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được, dữ liệu điện tử;
2. Vật chứng;
3. Lời khai của đương sự;
4. Lời khai của người làm chứng;
5. Kết luận giám định;
6. Biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ;
7. Kết quả định giá, thẩm định giá tài sản;
8. Văn bản xác nhận sự kiện, hành vi pháp lý do người có chức năng lập;
9. Văn bản công
chứng, chứng thực;
10. Các nguồn khác
theo quy định của pháp luật.
1. Tài liệu đọc được được coi là chứng cứ nếu là bản chính hoặc bản sao có
công chứng, chứng thực hợp pháp hoặc do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền
cung cấp, xác nhận.
2. Tài liệu nghe được, nhìn được được coi là chứng cứ nếu được xuất trình
kèm theo văn bản trình bày của người có tài liệu đó về xuất xứ của tài liệu nếu
họ tự thu âm, thu hình hoặc văn bản xác nhận của người đã cung cấp cho người
xuất trình về xuất xứ của tài liệu đó hoặc văn bản về sự việc liên quan đến việc thu âm, thu hình đó.
3. Thông điệp dữ liệu điện tử được thể hiện dưới hình
thức trao đổi dữ liệu điện tử, chứng từ điện tử, thư điện tử, điện tín, điện báo,
fax và các hình thức tương tự khác theo quy định của pháp luật về giao dịch
điện tử.
4. Vật chứng là chứng cứ phải là hiện vật gốc liên quan đến vụ việc.
5. Lời khai của đương sự, lời khai của người làm chứng được coi là chứng cứ
nếu được ghi bằng văn bản, băng ghi âm,
đĩa ghi âm, băng ghi hình, đĩa ghi hình, thiết bị khác
lưu trữ âm
thanh, hình ảnh theo quy định tại khoản 2 Điều này hoặc khai bằng lời tại phiên
tòa.
6. Kết luận giám định được coi là chứng cứ nếu việc giám định đó được tiến
hành theo thủ tục do pháp luật quy định.
7. Biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ được coi là chứng cứ nếu việc
thẩm định được tiến hành theo thủ tục do pháp luật quy định.
8. Kết quả định
giá, thẩm định giá tài sản được coi là chứng cứ nếu việc định giá, thẩm định giá
được tiến hành theo thủ tục do pháp luật quy định.
9. Văn bản xác nhận sự kiện, hành vi pháp lý do người có chức năng
lập tại chỗ được coi là chứng cứ nếu việc lập văn bản xác nhận sự kiện, hành vi
pháp lý được
tiến
hành theo thủ tục do pháp luật quy định.
10. Các nguồn khác theo quy định của
pháp luật
được xác định là chứng cứ.
Điều
83. Giao nộp tài liệu, chứng cứ
1. Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án hành chính, đương sự có quyền và
nghĩa vụ giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án; nếu
đương sự không nộp hoặc nộp không đầy đủ tài
liệu, chứng
cứ do Tòa án yêu cầu mà không có lý do chính đáng thì Tòa án căn cứ vào tài
liệu, chứng cứ mà đương sự đã giao nộp và Tòa án đã thu thập theo quy định tại
khoản 2 Điều 84 của Luật này để giải quyết vụ án.
2. Việc đương sự giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án phải
được lập thành biên bản. Trong biên bản phải ghi
rõ tên gọi, hình thức, nội dung, đặc điểm của tài liệu, chứng cứ; số bản, số trang của tài
liệu, chứng
cứ và thời gian nhận; chữ ký hoặc điểm chỉ của người giao nộp, chữ ký của người
nhận và dấu của Tòa án. Biên bản phải lập thành hai bản, một bản lưu vào hồ sơ
vụ án hành chính và một bản giao cho đương sự nộp tài liệu, chứng cứ giữ.
3. Đương sự giao
nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ bằng tiếng dân tộc thiểu số, tiếng nước ngoài
phải kèm theo bản dịch sang tiếng Việt được công chứng, chứng thực hợp pháp.
4. Thời gian giao nộp tài liệu, chứng cứ do Thẩm phán
được phân công giải quyết vụ án ấn định nhưng không được quá thời hạn chuẩn bị
xét xử theo thủ tục sơ thẩm quy định tại Điều 130 của Luật này.
5. Trường hợp tài liệu, chứng cứ đã được giao nộp
chưa bảo đảm đủ cơ sở để giải quyết vụ án thì Thẩm phán yêu cầu đương sự giao
nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ.
6. Trường hợp đương sự không thể tự mình thu thập được tài liệu, chứng cứ và có yêu cầu hoặc xét thấy cần thiết, Tòa án có
thể tự mình hoặc ủy thác tiến hành xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ để làm rõ các tình tiết của vụ án.
Điều 84. Xác minh, thu thập tài
liệu, chứng cứ
1. Đương sự có quyền tự mình thu thập chứng cứ bằng những biện pháp
sau đây:
a) Thu thập tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được, thông điệp dữ liệu
điện tử;
b) Thu thập vật chứng;
c) Xác định người làm chứng và lấy xác nhận của người làm chứng;
d) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cho sao chép hoặc cung cấp những tài
liệu có liên quan đến việc giải quyết vụ án mà cơ quan, tổ chức, cá nhân đó
đang lưu giữ, quản lý;
đ) Yêu cầu Ủy ban nhân dân cấp xã chứng thực chữ ký của
người làm chứng;
e) Yêu cầu Tòa án thu thập tài liệu, chứng cứ nếu đương sự không thể thu
thập tài liệu, chứng cứ;
g) Yêu cầu Tòa án ra quyết định trưng cầu giám định, định giá tài sản;
h) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện các công việc khác
theo quy định của pháp luật.
2. Trong các trường hợp do Luật này quy định, Thẩm phán có thể tiến
hành một hoặc một số biện pháp sau đây để thu thập tài liệu, chứng cứ:
a) Lấy lời khai của đương sự, người làm chứng;
b) Đối chất giữa các đương sự với nhau, giữa các đương sự với người làm
chứng;
c) Xem xét, thẩm định tại chỗ;
d) Trưng cầu giám định;
đ) Quyết định định giá tài sản;
e) Ủy thác thu thập, xác minh tài liệu, chứng cứ;
g) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu đọc được, nghe được,
nhìn được hoặc hiện vật khác liên quan đến việc giải quyết vụ án;
h) Biện pháp khác theo quy định của Luật này.
3. Khi tiến hành các biện pháp quy định tại các điểm c, d, đ, e và g khoản
2 Điều này, Thẩm phán phải ra quyết định, trong đó nêu rõ lý do và yêu cầu của
Tòa án.
4. Trong giai đoạn giám đốc thẩm, tái thẩm, Thẩm tra viên có thể tiến hành
các biện pháp thu thập chứng cứ quy định tại điểm a và điểm g khoản 2 Điều này.
Khi Thẩm tra viên tiến hành biện pháp quy
định tại điểm g khoản 2 Điều này, Tòa án phải ra quyết định, trong đó nêu rõ lý
do và yêu cầu của Tòa án.
5. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày thu thập được
tài liệu, chứng cứ, Tòa án phải thông báo cho các
đương sự để họ thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình.
6. Viện kiểm sát có quyền yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập tài liệu, chứng
cứ trong quá trình giải quyết vụ án. Trường hợp kháng nghị bản án hoặc quyết
định của Tòa án theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm thì Viện kiểm
sát có thể xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ để bảo đảm cho việc kháng nghị.
Điều 85. Lấy lời khai của đương
sự
1. Thẩm phán chỉ tiến hành lấy lời khai của đương sự khi đương sự chưa có
bản khai hoặc nội dung bản khai chưa đầy đủ, rõ ràng. Đương sự phải tự viết bản
khai và ký tên của mình. Trường hợp đương sự không thể tự viết được thì Thẩm
phán lấy lời khai của đương sự. Việc lấy lời khai của đương sự chỉ tập trung
vào những tình tiết mà đương sự khai chưa đầy đủ, rõ ràng. Thẩm phán tự mình
hoặc Thư ký Tòa án ghi lại lời khai của đương sự vào biên bản. Thẩm phán lấy
lời khai của đương sự tại trụ sở Tòa án, trong trường hợp cần thiết có thể lấy
lời khai của đương sự ngoài trụ sở Tòa án.
2. Biên bản ghi lời khai của đương sự phải được người khai tự đọc lại hay
nghe đọc lại và ký tên hoặc điểm chỉ. Đương sự có quyền yêu cầu ghi những sửa
đổi, bổ sung vào biên bản ghi lời khai và ký tên hoặc điểm chỉ xác nhận.
Biên bản phải có chữ ký của người lấy lời khai, người ghi biên bản và dấu
của Tòa án; nếu biên bản được ghi thành nhiều trang rời nhau thì phải ký vào
từng trang và đóng dấu giáp lai. Trường hợp biên bản ghi lời khai của đương sự được
lập ngoài trụ sở Tòa án thì phải có người làm chứng hoặc xác nhận của Ủy ban
nhân dân cấp xã, công an xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi lập
biên bản. Trường hợp đương sự không biết chữ thì phải có người làm chứng do
đương sự chọn.
3. Việc lấy lời khai của đương sự chưa đủ mười tám tuổi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc người
có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi phải được tiến hành với sự có mặt
của người đại diện theo pháp luật hoặc người đang thực hiện việc quản lý, trông
nom người đó.
Điều 86. Lấy lời khai của người
làm chứng
1. Theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết, Thẩm phán tiến
hành lấy lời khai của người làm chứng.
2. Thủ tục lấy lời khai của người làm chứng được tiến hành như việc lấy lời
khai của đương sự theo quy định tại Điều 85 của
Luật này.
1. Theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy có sự mâu thuẫn trong lời
khai của các đương sự, người làm chứng, Thẩm phán tiến hành đối chất giữa các
đương sự với nhau, giữa đương sự với người làm chứng hoặc giữa những người làm
chứng với nhau.
2. Việc đối chất phải được lập thành biên bản, có chữ ký hoặc điểm chỉ của những người tham gia đối chất.
Điều 88. Xem xét, thẩm định tại
chỗ
1. Thẩm phán tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ với sự có mặt của đại
diện Ủy ban nhân dân cấp xã, công an xã,
phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi có đối tượng cần xem xét, thẩm định; phải báo
trước việc xem xét, thẩm định tại chỗ để đương sự biết và chứng kiến việc xem
xét, thẩm định đó.
2. Việc xem xét, thẩm định tại chỗ phải được lập biên bản. Biên bản phải ghi rõ kết quả xem xét, thẩm định, mô tả rõ hiện
trường, có chữ ký của người xem xét, thẩm định và chữ ký hoặc điểm chỉ của
đương sự nếu họ có mặt, của đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã, công an xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi có đối
tượng cần xem xét, thẩm định và những người khác được mời tham gia việc xem
xét, thẩm định. Biên bản phải được đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã, công an xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi có đối
tượng cần xem xét, thẩm định ký tên và đóng dấu xác nhận.
3. Nghiêm cấm mọi hành vi cản trở việc xem xét, thẩm định tại chỗ.
4. Thẩm phán có quyền đề nghị Ủy ban
nhân dân cấp xã, công an xã, phường, thị trấn
nơi tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ hỗ trợ trong trường hợp có hành vi cản
trở việc xem xét, thẩm định tại chỗ.
Điều 89. Trưng cầu giám định, yêu
cầu giám định
1. Đương sự có quyền yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định hoặc tự mình yêu
cầu giám định sau khi đã đề nghị Tòa án trưng cầu giám định nhưng Tòa án từ
chối yêu cầu của đương sự. Quyền tự yêu cầu giám định được thực hiện trước khi
Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm.
2. Theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết, Thẩm phán
ra quyết định trưng cầu giám định. Trong quyết định trưng cầu giám định phải
ghi rõ tên, địa chỉ của người giám định, đối tượng cần giám định, những vấn đề
cần giám định, các yêu cầu cụ thể cần có kết luận của người giám định.
3. Trường hợp xét thấy kết luận giám định chưa rõ ràng thì theo yêu cầu của
đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết, Tòa án yêu cầu người giám định giải thích
kết luận giám định, triệu tập người giám định đến phiên tòa để trực tiếp trình
bày về nội dung liên quan.
4. Theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết, Tòa án ra quyết
định giám định bổ sung trong trường hợp nội dung kết luận giám định chưa rõ,
chưa đầy đủ hoặc khi phát sinh vấn đề mới liên quan đến tình tiết của vụ án đã
được kết luận giám định trước đó.
5. Việc giám định lại được thực hiện trong trường hợp có căn cứ cho rằng
kết luận giám định lần đầu không chính xác, có vi phạm pháp luật hoặc trong
trường hợp đặc biệt theo quyết định của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối
cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao theo quy định của Luật giám định tư pháp.
Điều 90. Trưng cầu giám định
chứng cứ bị tố cáo là giả mạo
1. Trường hợp chứng cứ bị tố cáo là giả mạo thì người đưa ra chứng cứ đó có
quyền rút lại; nếu không rút lại thì người tố cáo có quyền yêu cầu Tòa án hoặc
Tòa án có quyền quyết định trưng cầu giám định theo quy định tại Điều 89 của
Luật này.
2. Trường hợp việc giả mạo chứng cứ có dấu hiệu tội phạm thì Tòa án chuyển
cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền xem xét theo quy định của pháp luật về tố
tụng hình sự.
3. Người đưa ra chứng cứ được kết
luận là giả
mạo phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật nếu việc giả mạo
chứng cứ đó gây thiệt hại cho người khác và phải chịu chi phí giám định nếu Tòa
án quyết định trưng cầu giám định.
Điều 91. Định giá tài sản, thẩm
định giá tài sản
1. Đương sự có quyền cung cấp giá tài sản; thỏa thuận về việc xác định giá
tài sản và cung cấp cho Tòa án.
2. Các đương sự có quyền thỏa thuận lựa chọn tổ chức thẩm định giá
tiến hành thẩm định giá tài sản và cung cấp kết quả thẩm định giá cho Tòa án.
Việc thẩm định giá tài sản được thực hiện theo quy định của pháp luật về
thẩm định giá tài sản.
3. Tòa án ra quyết định định giá tài sản và thành lập Hội đồng định giá khi
thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Theo yêu cầu của một hoặc các bên đương sự;
b) Các đương sự đưa ra giá tài sản khác nhau hoặc không thỏa thuận được giá
tài sản;
c) Các đương sự không thỏa thuận lựa chọn tổ chức thẩm định giá tài
sản;
d) Người khởi kiện thỏa thuận với tổ chức thẩm định giá để thẩm định
giá tài sản theo mức giá cao hơn so với giá thị trường nơi có tài sản định giá
tại thời điểm định giá nhằm thu lợi bất chính từ tài sản của Nhà nước hoặc
người bị kiện thỏa thuận với tổ chức thẩm định giá để thẩm định giá tài sản
theo mức giá thấp hơn so với giá thị trường nhằm trốn tránh trách nhiệm bồi
thường cho người bị thiệt hại hoặc có căn cứ cho thấy tổ chức thẩm định
giá có vi phạm pháp luật khi thẩm định giá.
4. Trình tự, thủ tục thành lập Hội đồng định giá được thực hiện
như sau:
a) Hội đồng định giá do Tòa án thành lập gồm Chủ tịch Hội đồng định giá là
đại diện cơ quan tài chính và thành viên là đại diện các cơ quan chuyên môn có
liên quan. Người đã tiến hành tố tụng trong vụ án đó, người quy định tại Điều
45 của Luật này không được tham gia Hội đồng định giá.
Hội đồng định giá chỉ tiến hành định giá khi có mặt đầy đủ các thành viên
của Hội đồng. Trường hợp cần thiết, đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có tài
sản định giá được mời chứng kiến việc định giá. Các đương sự được thông báo
trước về thời gian, địa điểm tiến hành định giá, có quyền tham dự và phát biểu
ý kiến về việc định giá. Quyền quyết định về giá đối với tài sản định giá thuộc
Hội đồng định giá;
b) Cơ quan tài chính và các cơ quan chuyên môn có liên quan có trách nhiệm
cử người tham gia Hội đồng định giá và tạo điều kiện để họ làm nhiệm vụ. Người
được cử làm thành viên Hội đồng định giá có trách nhiệm tham gia đầy đủ vào
việc định giá. Trường hợp cơ quan tài chính, các cơ quan chuyên môn không cử
người tham gia Hội đồng định giá thì Tòa án yêu cầu cơ quan quản lý có
thẩm quyền trực tiếp chỉ đạo cơ quan tài chính, cơ quan chuyên môn thực hiện
yêu cầu của Tòa án. Người được cử tham gia Hội đồng định giá không tham
gia mà không có lý do chính đáng thì Tòa án yêu cầu lãnh đạo cơ quan đã cử
người tham gia Hội đồng định giá xem xét trách nhiệm, cử người khác thay thế và
thông báo cho Tòa án biết để tiếp tục tiến hành định giá;
c) Việc định giá phải được lập thành biên bản, trong đó ghi rõ
ý kiến của từng thành viên, của đương sự nếu họ tham dự. Quyết định của Hội
đồng định giá phải được quá nửa tổng số thành viên biểu quyết tán thành. Các
thành viên Hội đồng định giá, đương sự, người chứng kiến ký tên vào biên bản.
5. Việc định giá lại tài sản được thực hiện trong trường hợp có căn cứ cho
rằng kết quả định giá lần đầu không chính xác hoặc không phù hợp với giá thị
trường nơi có tài sản định giá tại thời điểm giải quyết vụ án
hành chính.
Điều
92. Ủy thác thu thập tài liệu, chứng cứ
1. Trong quá trình giải quyết vụ án hành chính, Tòa án có thể ra quyết định
ủy thác để Tòa án khác hoặc cơ quan có thẩm quyền quy định tại khoản 4 Điều này
lấy lời khai của đương sự, người làm chứng,
xem xét, thẩm
định tại chỗ, định giá tài sản hoặc các biện pháp khác để thu thập tài liệu, chứng cứ, xác minh tình tiết của vụ án hành chính.
2. Trong quyết định ủy thác phải ghi rõ tên, địa chỉ của người khởi kiện,
người bị kiện và những công việc cụ thể ủy thác để thu thập tài liệu, chứng cứ.
3. Tòa án nhận được quyết định ủy thác có trách nhiệm thực hiện công việc
cụ thể được ủy thác trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được quyết định ủy
thác và thông báo kết quả bằng văn bản cho Tòa án đã ra quyết định ủy thác;
trường hợp không thực hiện được việc ủy thác thì phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho Tòa án đã ra quyết định ủy thác.
4. Trường hợp việc thu thập tài liệu,
chứng cứ
phải tiến hành ở nước ngoài thì Tòa án làm thủ tục ủy thác thông qua cơ quan có
thẩm quyền của Việt Nam hoặc cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài mà nước đó và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên của điều ước quốc tế có
quy định về vấn đề này hoặc thực hiện trên nguyên tắc có đi có lại nhưng không trái với pháp luật
Việt Nam, phù hợp với pháp luật và tập quán quốc tế.
5. Trường hợp không thực hiện được việc ủy thác theo quy định tại khoản 3
và khoản 4 Điều này hoặc đã thực hiện việc ủy thác nhưng không nhận được kết
quả trả lời thì Tòa án giải quyết vụ án trên cơ sở chứng cứ đã có trong hồ sơ
vụ án.
Điều
93. Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, chứng cứ
1. Đương sự có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, chứng cứ. Khi yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, chứng cứ thì đương sự phải làm đơn ghi rõ tài liệu, chứng cứ cần cung cấp, lý do yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ; họ, tên, địa chỉ của cá nhân, tên, địa chỉ của
cơ quan, tổ chức đang quản lý, lưu giữ tài
liệu, chứng
cứ cần cung cấp.
Cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ cho đương sự trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày
nhận được yêu cầu; trường hợp không cung cấp được thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do cho người có yêu cầu biết.
2. Trường hợp đương sự đã áp dụng các biện pháp cần thiết để thu thập chứng
cứ mà vẫn không thể tự mình thu thập được thì có thể đề nghị Tòa án ra quyết định yêu
cầu cơ quan,
tổ chức, cá nhân đang lưu giữ, quản lý tài liệu, chứng cứ cung cấp tài liệu, chứng cứ cho mình hoặc tiến hành thu thập tài liệu, chứng cứ bảo đảm cho việc giải quyết vụ án hành chính.
Đương sự yêu cầu Tòa án tiến hành thu thập tài liệu, chứng cứ phải làm đơn ghi rõ vấn đề cần chứng minh; chứng cứ cần thu thập;
lý do vì sao tự mình không thu thập được; họ, tên, địa chỉ của cá nhân, tên,
địa chỉ của cơ quan, tổ chức đang quản lý, lưu giữ tài liệu, chứng cứ cần thu thập.
3. Trường hợp có yêu cầu của đương sự hoặc xét thấy cần thiết, Tòa án yêu
cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý, lưu giữ cung cấp cho mình tài liệu,
chứng cứ.
Cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý, lưu giữ tài liệu, chứng cứ có trách nhiệm cung cấp đầy đủ tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án trong thời hạn 15 ngày
kể từ ngày nhận được yêu cầu; trường hợp hết thời hạn này mà không cung cấp đầy
đủ tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án
thì cơ quan, tổ chức, cá nhân được yêu cầu phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do cho Tòa án. Cơ quan, tổ chức, cá nhân không thực
hiện yêu cầu của Tòa án mà không có lý do chính đáng có thể bị xử lý theo quy
định của Luật này và pháp luật có liên quan.
Việc xử lý
trách nhiệm đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân không phải là lý do miễn nghĩa vụ
cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.
4. Trường hợp Viện kiểm sát có yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ thì cơ
quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều
này.
Điều
94. Bảo quản tài liệu, chứng cứ
1. Tài liệu, chứng cứ đã được giao nộp tại Tòa
án thì việc bảo quản tài liệu, chứng cứ đó do Tòa án
chịu trách nhiệm.
2. Tài liệu, chứng cứ không thể giao nộp được
tại Tòa án thì người đang lưu giữ tài
liệu, chứng
cứ đó có trách nhiệm bảo quản.
3. Trường hợp cần giao tài liệu, chứng cứ cho người thứ ba
bảo quản thì Thẩm phán ra quyết định và lập biên bản giao cho người đó bảo
quản. Người nhận bảo quản phải ký tên vào biên bản, được hưởng thù lao và phải
chịu trách nhiệm về việc bảo quản tài
liệu, chứng
cứ theo quy định của pháp luật.
4. Nghiêm cấm việc hủy hoại tài liệu,
chứng cứ.
1. Việc đánh giá chứng cứ phải khách quan, toàn diện, đầy đủ và chính xác.
2. Tòa án phải đánh giá từng chứng cứ, sự liên quan giữa các chứng cứ và
khẳng định tính hợp pháp, tính liên quan, giá trị chứng minh của từng chứng cứ.
Điều 96. Công bố và sử dụng chứng
cứ
1. Mọi chứng cứ được công bố và sử dụng công khai như nhau, trừ trường hợp
quy định tại khoản 2 Điều này.
2. Tòa án không công khai nội dung chứng cứ có liên quan đến bí mật
nhà nước, thuần phong, mỹ tục của dân tộc, bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh
doanh, bí mật cá nhân theo yêu cầu chính đáng của đương sự nhưng phải thông báo
cho đương sự biết những chứng cứ không được công khai.
3. Người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng phải giữ bí mật chứng cứ
thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này theo quy định của pháp luật.
1. Trường hợp chứng cứ đang bị tiêu hủy, có nguy cơ bị tiêu hủy hoặc sau
này khó có thể thu thập được thì đương sự có quyền làm đơn đề nghị Tòa án quyết
định áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo toàn chứng cứ. Tòa án có thể quyết
định áp dụng một hoặc một số trong các biện pháp niêm phong, thu giữ, chụp ảnh,
ghi âm, ghi hình, phục chế, khám nghiệm, lập biên bản và biện pháp khác.
2. Trường hợp người làm chứng bị đe dọa, khống chế hoặc mua chuộc để không
cung cấp chứng cứ hoặc cung cấp chứng cứ sai sự thật thì Tòa án có quyền quyết
định buộc người có hành vi đe dọa, khống chế hoặc mua chuộc phải chấm dứt hành
vi đe dọa, khống chế hoặc mua chuộc người làm chứng. Trường hợp hành vi đó có dấu hiệu tội phạm thì Tòa án yêu cầu Viện kiểm sát xem xét về trách nhiệm hình sự.
Điều 98. Quyền tiếp cận, trao đổi
tài liệu, chứng cứ
1. Đương sự có quyền được biết, ghi chép, sao chụp, trao đổi tài liệu,
chứng cứ do đương sự khác giao nộp cho Tòa án hoặc do Tòa án thu thập được, trừ
tài liệu, chứng cứ quy định tại khoản 2 Điều 96 của Luật này.
2. Khi đương sự giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án thì trong thời hạn
05 ngày làm việc họ phải thông báo cho đương sự khác biết về việc họ đã giao
nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án để đương sự khác liên hệ với Tòa án thực hiện
quyền tiếp cận tài liệu, chứng cứ quy định tại
khoản 1 Điều này.
3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án thu thập được tài
liệu, chứng cứ thì Tòa án phải thông báo cho đương sự biết để họ thực hiện
quyền tiếp cận tài liệu, chứng cứ quy định tại
khoản 1 Điều này.
CẤP, TỐNG ĐẠT, THÔNG BÁO
VĂN BẢN TỐ TỤNG
Điều 99. Nghĩa vụ cấp, tống đạt
hoặc thông báo văn bản tố tụng
Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan thi hành án dân sự có nghĩa vụ cấp, tống đạt
hoặc thông báo văn bản tố tụng cho đương sự, những người tham gia tố tụng khác
và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan theo
quy định của Luật này và quy định khác
của pháp
luật có liên quan.
Điều 100. Các văn bản tố tụng
phải được cấp, tống đạt hoặc thông báo
1. Thông báo, giấy báo, giấy triệu tập, giấy mời trong tố tụng hành chính.
2. Bản án, quyết định của Tòa án.
3. Quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát; văn bản của cơ
quan thi hành án dân sự.
4. Văn bản tố tụng khác mà pháp luật có quy định phải cấp, tống đạt hoặc
thông báo.
Điều 101. Những người thực hiện việc cấp, tống đạt hoặc thông báo văn
bản tố tụng
1. Người tiến hành tố tụng, người của cơ quan ban hành văn bản tố tụng được
giao nhiệm vụ thực hiện việc cấp, tống đạt hoặc thông báo văn bản tố tụng.
2. Người có chức năng tống đạt.
3. Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người tham gia tố tụng cư trú hoặc cơ quan,
tổ chức nơi người tham gia tố tụng làm việc khi Tòa án, Viện kiểm sát hoặc cơ
quan thi hành án dân sự có yêu cầu.
4. Đương sự, người đại diện của đương sự hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của đương sự trong những trường hợp do Luật này quy định.
5. Nhân viên của tổ chức dịch vụ bưu chính.
6. Những người khác theo quy định của pháp luật.
Điều 102. Các phương thức cấp,
tống đạt hoặc thông báo văn bản tố tụng
1. Cấp, tống đạt, thông báo trực tiếp; qua dịch vụ bưu chính hoặc người thứ
ba được ủy quyền thực hiện việc cấp, tống đạt, thông báo.
2. Cấp, tống đạt, thông báo bằng phương tiện điện tử theo yêu cầu của đương
sự hoặc người tham gia tố tụng khác phù hợp với quy định của pháp luật về giao
dịch điện tử.
3. Niêm yết công khai.
4. Thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng.
5. Cấp, tống đạt,
thông báo bằng phương thức khác theo quy định tại Điều 303 của Luật này.
Điều 103. Tính hợp lệ của việc
cấp, tống đạt hoặc thông báo văn bản tố tụng
1. Việc cấp, tống đạt hoặc thông báo văn bản tố tụng được thực hiện theo
quy định của Luật này thì được coi là hợp lệ.
2. Người có nghĩa vụ thực hiện việc cấp, tống đạt hoặc thông báo văn bản tố
tụng phải thực hiện theo quy định của Luật này.
Điều 104. Thủ tục cấp, tống đạt
hoặc thông báo văn bản tố tụng
Người thực hiện việc cấp, tống đạt hoặc thông báo văn bản tố tụng phải trực
tiếp chuyển giao cho người được cấp, tống đạt hoặc thông báo văn bản tố tụng có
liên quan. Người được cấp, tống đạt, thông báo hoặc được ủy quyền cấp, tống
đạt, thông báo văn bản tố tụng phải ký nhận vào biên bản hoặc sổ giao nhận văn
bản tố tụng. Thời điểm để tính thời hạn tố tụng là ngày họ được cấp, tống đạt
hoặc thông báo văn bản tố tụng.
Điều 105. Thủ tục cấp, tống đạt
hoặc thông báo bằng phương tiện điện tử
Việc cấp, tống đạt hoặc thông báo bằng phương tiện điện tử được thực hiện
theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử.
Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành Điều này.
Điều 106. Thủ tục cấp, tống đạt
hoặc thông báo trực tiếp cho cá nhân
1. Người được cấp, tống đạt hoặc thông báo là cá nhân thì văn bản tố tụng
phải được giao trực tiếp cho họ.
2. Trường hợp người được cấp, tống đạt hoặc thông báo đã chuyển đến nơi cư
trú mới và đã thông báo cho Tòa án việc thay đổi nơi cư trú thì phải cấp, tống
đạt hoặc thông báo theo nơi cư trú mới của họ.
3. Trường hợp người được cấp, tống đạt hoặc thông báo từ chối nhận văn bản
tố tụng thì người thực hiện việc cấp, tống đạt hoặc thông báo phải lập biên bản
trong đó nêu rõ lý do của việc từ chối, có xác nhận của tổ trưởng tổ dân phố,
trưởng thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc (sau đây gọi chung là tổ trưởng tổ
dân phố) hoặc đại diện công an xã, phường, thị trấn về việc người đó từ chối
nhận văn bản tố tụng.
4. Trường hợp người được cấp, tống đạt hoặc thông báo vắng mặt thì người
thực hiện việc cấp, tống đạt hoặc thông báo giao cho người thân thích có đủ
năng lực hành vi dân sự cùng nơi cư trú với họ hoặc tổ trưởng tổ dân phố để
thực hiện việc ký nhận và yêu cầu người này cam kết giao lại tận tay ngay cho
người được cấp, tống đạt hoặc thông báo.
Trường hợp người được cấp, tống đạt hoặc thông báo vắng mặt mà không rõ
thời điểm trở về hoặc không rõ địa chỉ thì người thực hiện việc cấp, tống đạt
hoặc thông báo phải lập biên bản về việc không thực hiện được việc cấp, tống
đạt hoặc thông báo, có xác nhận của tổ trưởng tổ dân phố hoặc đại diện công an
xã, phường, thị trấn; đồng thời, thực hiện thủ tục niêm yết công khai văn bản
cần tống đạt theo quy định tại Điều 108 của Luật này.
Điều 107. Thủ tục cấp, tống đạt
hoặc thông báo trực tiếp cho cơ quan, tổ chức
Trường hợp người được cấp, tống đạt hoặc thông báo là cơ quan, tổ chức thì
văn bản tố tụng phải được giao trực tiếp cho người đại diện theo pháp luật hoặc
người chịu trách nhiệm nhận văn bản của cơ quan, tổ chức đó và phải được những
người này ký nhận. Trường hợp cơ quan, tổ chức được cấp, tống đạt hoặc thông
báo có người đại diện tham gia tố tụng hoặc cử người đại diện nhận văn bản tố
tụng thì những người này ký nhận văn bản tố tụng đó. Ngày ký nhận là ngày được
cấp, tống đạt hoặc thông báo.
Điều 108. Thủ tục niêm yết công
khai
1. Niêm yết công khai văn bản tố tụng được thực hiện trong trường hợp không
thể cấp, tống đạt hoặc thông báo trực tiếp văn bản tố tụng theo quy định tại
Điều 106 và Điều 107 của Luật này.
2. Việc niêm yết công khai
văn bản tố tụng do Tòa án trực tiếp hoặc ủy
quyền cho
người có chức năng tống đạt hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã nơi đương sự cư trú
thực hiện theo thủ tục sau đây:
a) Niêm yết bản chính tại trụ sở Tòa án, Ủy ban
nhân dân cấp xã nơi cư trú hoặc nơi cư trú cuối cùng của cá nhân, nơi có trụ sở
hoặc trụ sở cuối cùng của cơ quan, tổ chức được cấp, tống đạt hoặc thông báo;
b) Niêm yết bản sao tại nơi cư trú hoặc nơi cư trú cuối cùng của cá nhân,
nơi có trụ sở hoặc trụ sở cuối cùng của cơ quan, tổ chức được cấp, tống đạt
hoặc thông báo;
c) Lập biên bản về việc thực hiện thủ tục niêm yết công khai, trong đó ghi
rõ ngày, tháng, năm niêm yết.
3. Thời hạn niêm yết công
khai văn bản tố tụng là 15 ngày kể từ ngày niêm yết.
Điều 109. Thủ tục thông báo trên
phương tiện thông tin đại chúng
1. Việc thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng chỉ được thực hiện
khi pháp luật có quy định hoặc có căn cứ xác định là việc niêm yết công khai
không bảo đảm cho người được cấp, tống đạt hoặc thông báo nhận được thông tin
về văn bản cần được cấp, tống đạt hoặc thông báo.
2. Việc thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng có thể được thực
hiện nếu có yêu cầu của đương sự khác. Trường hợp này, đương sự có yêu cầu thông báo phải chịu chi phí thông báo trên phương tiện thông tin đại
chúng.
3. Thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng phải được đăng trên Cổng
thông tin điện tử của Tòa án (nếu có),
trên một trong các báo hàng ngày của trung ương trong ba số liên tiếp và phát sóng trên Đài
phát thanh hoặc Đài truyền hình của trung ương ba lần trong 03 ngày liên tiếp.
Điều 110. Thông báo kết quả việc
cấp, tống đạt hoặc thông báo văn bản tố tụng
Trường hợp người thực hiện việc cấp, tống đạt hoặc thông báo văn bản tố
tụng không phải là người tiến hành tố tụng, người của cơ quan ban hành văn bản
tố tụng thì người thực hiện phải thông báo ngay bằng văn bản kết quả việc cấp,
tống đạt hoặc thông báo văn bản tố tụng cho Tòa án hoặc cơ quan ban hành văn
bản tố tụng đó.
Chương VIII
Điều 111. Phát hiện và kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản
quy phạm pháp luật
1. Trong quá trình giải quyết vụ án hành chính, nếu phát hiện văn bản quy
phạm pháp luật liên quan đến việc giải quyết vụ án hành chính có dấu hiệu trái
với Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp
trên thì Tòa án thực hiện như sau:
a) Trường hợp chưa có quyết định đưa vụ án ra xét xử thì Chánh án Tòa án đang giải quyết vụ án đó thực hiện việc kiến nghị theo
thẩm quyền hoặc đề nghị người có thẩm quyền quy định tại Điều 112 của Luật này
thực hiện việc kiến nghị;
b) Trường hợp đã có quyết định đưa vụ án ra xét xử hoặc vụ án đang được xem
xét theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm thì Hội đồng xét xử đề nghị Chánh án
Tòa án đang giải quyết vụ án đó thực hiện việc kiến nghị
hoặc đề nghị người có thẩm quyền quy định tại Điều 112 của Luật này thực
hiện việc kiến nghị.
2. Văn bản kiến nghị hoặc đề nghị người có thẩm quyền kiến nghị sửa đổi, bổ
sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật
phải có những nội dung chính sau đây:
a) Tên của Tòa án ra văn bản kiến nghị hoặc
đề nghị;
b) Tóm tắt nội dung vụ án và những vấn đề pháp lý đặt ra để giải quyết vụ
án;
c) Tên, số, ngày, tháng, năm của văn bản quy phạm pháp luật bị kiến nghị
sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ có liên quan đến việc
giải quyết vụ án;
d) Phân tích những quy định của văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái
với Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên;
đ) Kiến nghị hoặc đề nghị của Tòa án về việc sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật đó.
3. Kèm theo văn bản kiến nghị hoặc đề nghị người có thẩm quyền kiến nghị là
văn bản quy phạm pháp luật bị kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ.
Điều 112. Thẩm quyền kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy
phạm pháp luật
1. Chánh án Tòa án cấp huyện có quyền kiến nghị sửa đổi, bổ
sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp
luật của cơ quan nhà nước từ cấp huyện trở xuống; đề nghị Chánh án Tòa án cấp
tỉnh kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp
luật của cơ quan nhà nước cấp tỉnh; báo cáo Chánh án Tòa án cấp tỉnh đề nghị Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kiến nghị sửa
đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp
luật của cơ quan nhà nước ở trung ương.
2. Chánh án Tòa án cấp tỉnh, Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao có quyền kiến
nghị sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp
luật của cơ quan nhà nước từ cấp tỉnh trở xuống; đề nghị Chánh án Tòa án nhân
dân tối cao kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoặc bãi
bỏ văn bản
quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước ở trung ương.
3. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao tự mình hoặc theo đề nghị của
Chánh án Tòa án quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này kiến nghị sửa
đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp
luật của cơ quan nhà nước ở trung ương.
4. Trường hợp tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phát hiện văn bản quy phạm
pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của
cơ quan nhà nước cấp trên thì Hội đồng xét xử có văn bản báo cáo Chánh án Tòa
án theo quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này để thực hiện quyền kiến nghị;
trường hợp này, Hội đồng xét xử có quyền tạm ngừng phiên tòa theo quy định tại
điểm d khoản 1 Điều 187 của Luật này để chờ ý kiến của Chánh án Tòa án
hoặc tạm đình chỉ giải quyết vụ án khi có văn bản kiến nghị của Chánh án Tòa án
có thẩm quyền theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 141 của Luật này.
Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị quy định tại
Điều 111 của Luật này thì Chánh án Tòa án có thẩm quyền kiến nghị phải xem xét
và xử lý như sau:
1. Trường hợp đề nghị có căn cứ thì phải ra văn bản kiến nghị gửi cơ quan
nhà nước có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật và thông báo cho Tòa án đã đề nghị biết để ra
quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án;
2. Trường hợp đề nghị không có căn cứ thì phải ra văn bản trả lời cho Tòa
án đã đề nghị biết để tiếp tục giải quyết vụ án theo đúng quy định của pháp
luật.
Điều 114. Trách nhiệm thực hiện kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ
văn bản quy phạm pháp luật
Cơ quan nhận được kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật của Tòa án có trách nhiệm
giải quyết như sau:
1. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được văn bản kiến nghị của Chánh
án Tòa án quy định tại Điều 112 của Luật này đối với văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn thi
hành Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên thì cơ quan đã ban hành
văn bản đó phải xem xét và trả lời bằng
văn bản cho Tòa án đã kiến nghị. Nếu quá
thời hạn này mà không nhận được văn bản trả lời thì Tòa án áp
dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn để giải quyết vụ án;
2. Trường hợp kiến nghị xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết
của Ủy ban thường vụ Quốc hội thì thực hiện theo quy định của pháp luật.
Chương IX
Điều 115. Quyền khởi kiện vụ án
1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khởi kiện vụ án đối với quyết định
hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc trong trường
hợp không đồng ý với quyết định, hành vi đó hoặc đã khiếu nại với người có thẩm
quyền giải quyết, nhưng hết thời hạn giải quyết theo quy định của pháp luật mà
khiếu nại không được giải quyết hoặc đã được giải quyết nhưng không đồng ý với
việc giải quyết khiếu nại về quyết định, hành vi đó.
2. Tổ chức, cá nhân có quyền khởi kiện vụ án đối với quyết định giải quyết
khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh trong trường hợp không đồng ý
với quyết định đó.
3. Cá nhân có quyền khởi kiện vụ án về danh sách cử tri trong trường hợp đã
khiếu nại với cơ quan có thẩm quyền giải quyết, nhưng hết thời hạn giải quyết
theo quy định của pháp luật mà khiếu nại không được giải quyết hoặc đã được
giải quyết, nhưng không đồng ý với việc giải quyết khiếu nại đó.
1. Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà cơ quan, tổ chức, cá nhân được quyền
khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án hành chính bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện.
2. Thời hiệu khởi kiện đối với từng trường hợp được quy định như sau:
a) 01 năm kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định hành chính, hành
vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc;
b) 30 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại về quyết
định xử lý vụ việc cạnh tranh;
c) Từ ngày nhận được thông báo kết quả giải quyết khiếu nại của cơ quan lập
danh sách cử tri hoặc kết thúc thời hạn giải quyết khiếu nại mà không nhận được
thông báo kết quả giải quyết khiếu nại của cơ quan lập danh sách cử tri đến
trước ngày bầu cử 05 ngày.
3. Trường hợp đương sự khiếu nại theo đúng quy định của pháp luật đến cơ
quan nhà nước, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại thì thời hiệu khởi kiện
được quy định như sau:
a) 01 năm kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định giải quyết khiếu
nại lần đầu hoặc quyết định giải quyết khiếu nại lần hai;
b) 01 năm kể từ ngày hết thời hạn giải quyết khiếu nại theo quy định của
pháp luật mà cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền không giải quyết và không có
văn bản trả lời cho người khiếu nại.
4. Trường hợp vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khác làm
cho người khởi kiện không khởi kiện được trong thời hạn quy định tại điểm a và
điểm b khoản 2 Điều này thì thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại
khách quan khác không tính vào thời hiệu khởi kiện.
5. Các quy định của Bộ luật dân sự về cách xác định thời hạn, thời hiệu
được áp dụng trong tố tụng hành chính.
1. Khi khởi kiện vụ án hành chính thì cơ quan, tổ chức, cá nhân phải làm
đơn khởi kiện theo quy định tại Điều 118 của Luật này.
2. Cá nhân có năng lực hành vi tố tụng hành chính đầy đủ thì có thể tự mình
hoặc nhờ người khác làm hộ đơn khởi kiện vụ án. Tại mục tên, địa chỉ của người
khởi kiện trong đơn phải ghi họ, tên, địa chỉ của cá nhân; ở phần cuối đơn cá
nhân phải ký tên hoặc điểm chỉ.
3. Cá nhân là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự,
người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức,
làm chủ hành vi thì người đại diện hợp pháp của họ có thể tự mình hoặc nhờ
người khác làm hộ đơn khởi kiện vụ án. Tại mục tên, địa chỉ của người khởi kiện
trong đơn phải ghi họ tên, địa chỉ của người đại diện hợp pháp của cá nhân đó;
ở phần cuối đơn, người đại diện hợp pháp đó phải ký tên hoặc điểm chỉ.
4. Cá nhân thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này là
người không biết chữ, không nhìn được, không thể tự mình làm đơn khởi kiện,
không thể tự mình ký tên hoặc điểm chỉ thì có thể nhờ người khác làm hộ đơn
khởi kiện và phải có người có năng lực hành vi tố tụng hành chính đầy đủ làm chứng, ký xác nhận vào đơn khởi
kiện.
5. Cơ quan, tổ chức là người khởi kiện thì người đại diện hợp pháp của cơ
quan, tổ chức đó có thể tự mình hoặc nhờ người khác làm hộ đơn khởi kiện vụ án.
Tại mục tên, địa chỉ của người khởi kiện phải ghi tên, địa chỉ của cơ quan, tổ
chức và họ, tên, chức vụ của người đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó; ở
phần cuối đơn, người đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức phải ký tên và đóng
dấu của cơ quan, tổ chức đó; trường hợp tổ chức khởi
kiện là doanh nghiệp thì việc sử dụng con dấu theo quy định của Luật doanh
nghiệp.
1. Đơn khởi kiện phải có các nội dung chính sau đây:
a) Ngày, tháng, năm làm đơn;
b) Tòa án được yêu cầu giải quyết vụ án hành chính;
c) Tên, địa chỉ; số điện thoại, số fax, địa chỉ thư điện tử (nếu có) của
người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
d) Nội dung quyết định hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết
định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, nội dung giải
quyết khiếu nại về danh sách cử tri hoặc tóm tắt diễn biến của hành vi hành
chính;
đ) Nội dung quyết định giải quyết khiếu nại (nếu có);
e) Yêu cầu đề nghị Tòa án giải quyết;
g) Cam đoan về việc không đồng thời khiếu nại đến người có thẩm quyền giải
quyết khiếu nại.
2. Kèm theo đơn khởi kiện phải có tài liệu, chứng cứ chứng minh quyền, lợi
ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm. Trường hợp vì lý do khách
quan mà người khởi kiện không thể nộp đầy đủ các tài liệu, chứng cứ kèm theo
đơn khởi kiện thì họ phải nộp tài liệu, chứng cứ hiện có để chứng minh quyền,
lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm. Các tài liệu, chứng cứ khác, người
khởi kiện phải tự mình bổ sung hoặc bổ sung theo yêu cầu của Tòa án trong quá
trình giải quyết vụ án.
Điều 119. Gửi đơn khởi kiện đến Tòa án
Người khởi kiện gửi đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo đến
Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án bằng một trong các phương thức sau đây:
1. Nộp trực tiếp tại Tòa án;
2. Gửi qua dịch vụ bưu chính;
3. Gửi trực tuyến qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có).
Điều 120. Xác định ngày khởi kiện
vụ án hành chính
1. Trường hợp người khởi kiện trực tiếp nộp đơn tại Tòa án có thẩm quyền
thì ngày khởi kiện là ngày nộp đơn.
2. Trường hợp người khởi kiện gửi đơn trực tuyến thì ngày khởi kiện là ngày
gửi đơn.
3. Trường hợp người khởi kiện gửi đơn đến Tòa án qua dịch vụ bưu chính thì
ngày khởi kiện là ngày có dấu của tổ chức dịch
vụ bưu chính
nơi gửi. Trường hợp không xác định được ngày, tháng, năm theo dấu bưu chính
nơi gửi thì ngày khởi kiện là ngày đương sự gửi đơn tại tổ chức dịch vụ bưu
chính. Đương sự phải chứng minh ngày
mình gửi đơn tại tổ chức dịch vụ bưu chính;
trường hợp
đương sự không chứng minh được thì ngày khởi kiện là ngày Tòa án nhận được đơn khởi kiện do tổ chức dịch
vụ bưu chính
chuyển đến.
4. Trường hợp chuyển vụ án cho Tòa án khác theo quy định tại khoản 1 Điều
34 và khoản 3 Điều 165 của Luật này thì ngày khởi kiện là ngày gửi đơn khởi
kiện đến Tòa án đã thụ lý nhưng không đúng thẩm quyền và được xác định theo quy
định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này.
Điều 121. Nhận và xem xét đơn khởi kiện
1. Tòa án nhận đơn khởi kiện do người khởi kiện nộp trực tiếp tại bộ phận tiếp nhận
đơn của Tòa án hoặc gửi qua dịch vụ bưu chính và ghi vào sổ nhận đơn. Trường
hợp nhận đơn trực tuyến thì Tòa án in ra bản giấy và ghi vào sổ nhận đơn.
Việc nhận đơn khởi kiện được ghi vào sổ nhận đơn và thông báo trên Cổng thông
tin điện tử của Tòa án (nếu có).
Khi nhận đơn khởi kiện nộp trực tiếp, Tòa án có trách nhiệm cấp ngay giấy
xác nhận đã nhận đơn cho người khởi kiện. Trường hợp nhận đơn trực tuyến
thì Tòa án trả lời cho người khởi kiện biết qua thư điện tử. Trường hợp nhận
đơn qua dịch vụ bưu chính thì trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận
đơn, Tòa án phải gửi thông báo nhận đơn cho người khởi kiện.
2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện,
Chánh án Tòa án phân công một Thẩm phán xem xét đơn khởi kiện.
3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày được phân công, Thẩm phán
phải xem xét đơn khởi kiện và có một trong các quyết
định sau đây:
a) Yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện;
b) Tiến hành thủ tục thụ lý vụ án theo thủ tục thông thường hoặc theo thủ
tục rút gọn nếu vụ án có đủ điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 246 của Luật
này;
c) Chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án có thẩm quyền và thông báo cho người
khởi kiện nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án khác;
d) Trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện, nếu thuộc một trong các
trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 123 của Luật này.
4. Kết quả xử lý đơn của Thẩm phán quy định tại khoản 3 Điều này phải được
thông báo cho người khởi kiện, phải ghi chú vào sổ nhận đơn và thông báo trên
Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có).
Điều 122. Yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn
khởi kiện
1. Sau khi nhận được đơn khởi kiện, nếu thấy đơn khởi kiện không có đủ các
nội dung quy định tại khoản 1 Điều 118 của Luật này thì Thẩm phán thông báo bằng văn bản và nêu rõ những vấn đề cần sửa đổi, bổ sung cho người khởi
kiện sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày người
khởi kiện nhận được thông báo của Tòa án.
2. Thời gian thực hiện việc sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện không tính vào
thời hiệu khởi kiện.
3. Trường hợp người khởi kiện đã sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện theo đúng
quy định tại khoản 1 Điều 118 của Luật này thì Thẩm phán tiếp tục việc thụ lý
vụ án; nếu họ không sửa đổi, bổ sung theo yêu cầu của Thẩm phán thì Thẩm phán
trả lại đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo cho người khởi kiện.
Điều 123. Trả lại đơn khởi kiện
1. Thẩm
phán trả lại đơn khởi kiện trong những trường hợp sau đây:
a) Người khởi kiện không có quyền khởi kiện;
b) Người khởi kiện không có năng lực hành vi tố tụng hành chính đầy đủ;
c) Trường hợp pháp luật có quy định
về điều kiện khởi kiện nhưng người khởi kiện đã khởi kiện đến Tòa án khi còn
thiếu một trong các điều kiện đó;
d) Sự việc đã được giải quyết bằng bản án hoặc quyết định của Tòa án đã có
hiệu lực pháp luật;
đ) Sự việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án;
e) Người khởi kiện lựa chọn giải quyết vụ việc theo thủ tục giải quyết
khiếu nại trong trường hợp quy định tại Điều 33 của Luật này;
g) Đơn khởi kiện không có đủ nội dung quy định tại khoản 1 Điều 118 của
Luật này mà không được người khởi kiện sửa đổi, bổ sung theo quy định tại Điều
122 của Luật này;
h) Hết thời hạn được thông
báo quy định tại khoản 1 Điều 125 của Luật này mà người khởi kiện không xuất
trình biên lai nộp tiền tạm ứng án phí cho Tòa án, trừ trường hợp người khởi
kiện được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, không phải nộp tiền tạm ứng án phí hoặc
có lý do chính đáng.
2. Khi trả lại đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo cho người khởi
kiện, Thẩm phán phải có văn bản ghi rõ lý do trả lại đơn khởi kiện. Văn bản trả
lại đơn khởi kiện được gửi ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp.
Đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ mà Thẩm phán trả lại cho
người khởi kiện phải được sao lại và lưu tại Tòa án để làm cơ sở giải quyết
khiếu nại, kiến nghị khi có yêu cầu.
Điều 124. Khiếu nại, kiến nghị và giải
quyết khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện
1. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được văn bản trả lại đơn khởi
kiện, người khởi kiện có quyền khiếu nại, Viện kiểm sát có quyền kiến nghị với
Tòa án đã trả lại đơn khởi kiện.
2. Ngay sau khi nhận được khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi
kiện, Chánh án Tòa án phải phân công một Thẩm phán xem xét, giải quyết khiếu
nại, kiến nghị.
3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày được phân công, Thẩm phán
phải mở phiên họp xem xét, giải quyết khiếu nại, kiến nghị. Phiên họp xem xét,
giải quyết khiếu nại, kiến nghị có sự tham gia của đại diện Viện kiểm sát cùng
cấp và đương sự có khiếu nại. Trường hợp người
khởi kiện, Kiểm sát viên vắng mặt thì Thẩm phán vẫn tiến hành phiên họp.
4. Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có liên quan đến việc trả lại đơn khởi
kiện, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát và người
khởi kiện có
khiếu nại tại phiên họp, Thẩm phán phải ra một trong các quyết định sau đây:
a) Giữ nguyên việc trả lại đơn khởi kiện và thông báo cho người khởi kiện, Viện kiểm sát cùng cấp;
b) Nhận lại đơn khởi kiện và tài liệu,
chứng cứ kèm
theo để tiến hành việc thụ lý vụ án.
5. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được quyết định trả lời khiếu
nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện của Thẩm phán, người khởi kiện có
quyền khiếu nại, Viện kiểm sát có quyền kiến nghị với Chánh án Tòa án trên một cấp trực tiếp xem xét,
giải quyết.
6. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại, kiến nghị về việc
trả lại đơn khởi kiện, Chánh án Tòa án trên
một cấp trực
tiếp phải ra một trong các quyết định sau đây:
a) Giữ nguyên việc trả lại đơn khởi kiện;
b) Yêu cầu Tòa án cấp sơ thẩm nhận lại đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ
kèm theo để tiến hành việc thụ lý vụ án.
Quyết định giải quyết khiếu nại, kiến nghị của Chánh án Tòa án trên một cấp trực tiếp là quyết định cuối cùng. Quyết định này
phải được gửi ngay cho người khởi kiện, Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát
đã kiến nghị và Tòa án đã ra quyết định trả lại đơn khởi kiện.
1. Sau khi nhận đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo, nếu xét thấy
thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án thì Thẩm phán phải thông báo cho người
khởi kiện biết để họ nộp tiền tạm ứng án phí; trường hợp người khởi kiện được
miễn nộp tiền tạm ứng án phí hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí thì thông
báo cho người khởi kiện biết về việc thụ lý vụ án.
Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được thông báo nộp tiền tạm ứng án
phí, người khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí và nộp biên lai cho Tòa án.
2. Thẩm phán thụ lý vụ án vào ngày người khởi kiện nộp biên lai thu tiền tạm ứng án phí.
Trường hợp người khởi kiện được miễn nộp tiền tạm ứng án phí hoặc không phải
nộp tiền tạm ứng án phí thì ngày thụ lý vụ án là ngày Thẩm phán thông báo cho
người khởi kiện biết việc thụ lý. Việc thụ lý vụ án phải được ghi vào sổ thụ
lý.
3. Trường hợp hết thời hạn quy định tại khoản 1 Điều này mà người khởi kiện
mới nộp cho Tòa án biên lai thu tiền tạm ứng án phí thì
giải quyết như sau:
a) Trường hợp chưa trả lại đơn khởi kiện thì Thẩm phán tiến hành thụ lý vụ
án;
b) Trường hợp đã trả lại đơn khởi kiện mà người khởi kiện chứng minh được
là họ đã nộp tiền tạm ứng án phí đúng thời hạn quy định, nhưng vì sự kiện bất
khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên họ nộp biên lai thu tiền tạm ứng án phí cho Tòa án không đúng hạn thì Thẩm
phán yêu cầu họ nộp lại đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ kèm theo và tiến hành
thụ lý vụ án; trường hợp này ngày khởi
kiện là ngày nộp đơn khởi kiện lần đầu;
c) Trường hợp sau khi Thẩm phán trả lại đơn khởi kiện, người khởi
kiện mới nộp tiền tạm ứng án phí và nộp biên lai thu tiền tạm ứng án phí cho Tòa án, nếu không vì sự kiện bất
khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì Thẩm phán yêu cầu họ nộp lại đơn khởi
kiện, tài liệu, chứng cứ kèm theo để tiến hành thụ lý vụ án; trường hợp này ngày khởi kiện là ngày nộp lại đơn
khởi kiện.
4. Trường hợp hết thời hạn quy định tại khoản 1 Điều này mà người khởi kiện
không nộp cho Tòa án biên lai thu tiền tạm ứng án phí thì
Tòa án thông báo cho họ biết về việc không thụ lý vụ án với lý do là họ không
nộp tiền tạm ứng án phí. Trường hợp này, người khởi kiện có quyền nộp đơn khởi
kiện lại nếu thời hiệu khởi kiện vẫn còn.
5. Sau khi Thẩm phán thụ lý vụ án mà Tòa án nhận được đơn yêu cầu
độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại Điều 129
của Luật này để giải quyết trong cùng một vụ án hành chính thì ngày thụ lý vụ
án được xác định như sau:
a) Trường hợp người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được miễn hoặc không
phải nộp tiền tạm ứng án phí thì ngày thụ lý vụ án là ngày Tòa án nhận được đơn
yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng tài liệu, chứng
cứ kèm theo;
b) Trường hợp người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải nộp tiền tạm ứng
án phí thì ngày thụ lý vụ án là ngày người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nộp
cho Tòa án biên lai thu tiền tạm ứng án phí;
c) Trường hợp có nhiều người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu
độc lập thì ngày thụ lý vụ án là ngày Tòa án nhận được đơn yêu cầu độc lập cuối
cùng, nếu họ đều thuộc trường hợp được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án
phí hoặc là ngày người nộp cuối cùng cho Tòa án biên lai thu tiền tạm ứng án phí, nếu họ thuộc trường hợp phải nộp
tiền tạm ứng án phí.
6. Khi nhận biên lai thu tiền tạm ứng án phí của
đương sự thì Tòa án phải cấp cho họ giấy xác nhận về việc nhận biên lai thu tiền tạm ứng án phí.
Điều 126. Thông báo về việc thụ lý vụ án
1. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày thụ lý vụ án, Thẩm phán đã thụ
lý vụ án phải
thông báo bằng văn bản cho người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan đến việc giải quyết vụ án và Viện kiểm sát cùng cấp về việc Tòa án đã thụ
lý vụ án và công bố trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có).
2. Văn bản thông báo phải có các nội dung chính sau đây:
a) Ngày, tháng, năm làm văn bản thông báo;
b) Tên, địa chỉ Tòa án đã thụ lý vụ án;
c) Tên, địa chỉ của người khởi kiện, người bị kiện;
d) Những vấn đề cụ thể người khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết;
đ) Vụ án được thụ lý theo thủ
tục thông thường hoặc thủ tục rút gọn;
e) Danh mục tài liệu, chứng cứ người khởi kiện nộp kèm theo đơn khởi
kiện;
g) Thời hạn người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải nộp ý kiến bằng văn
bản về yêu cầu của người khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo hoặc yêu cầu
độc lập (nếu có) cho Tòa án;
h) Hậu quả pháp lý của
việc người bị kiện, người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan không nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình về yêu cầu của người khởi
kiện.
Điều 127. Phân công Thẩm phán
giải quyết vụ án
1. Trên cơ sở báo cáo thụ lý vụ án của Thẩm phán được phân công thụ lý vụ
án, Chánh án Tòa án quyết định phân công Thẩm phán giải quyết vụ án bảo đảm
đúng nguyên tắc vô tư, khách quan, ngẫu nhiên.
2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày
thụ lý vụ án, Chánh án Tòa án quyết định phân công Thẩm phán giải quyết vụ án.
Đối với vụ án phức tạp, việc giải quyết có thể phải kéo dài thì Chánh án
Tòa án phân công Thẩm phán dự khuyết để bảo đảm xét xử theo đúng thời hạn quy
định của Luật này.
3. Trong quá trình giải quyết vụ án, nếu Thẩm phán được phân công không thể
tiếp tục tiến hành được nhiệm vụ thì Chánh án Tòa án phân công Thẩm phán khác
tiếp tục nhiệm vụ; trường hợp đang xét xử mà không có Thẩm phán dự khuyết thì
vụ án phải được xét xử lại từ đầu và
thông báo cho đương sự, Viện kiểm sát cùng cấp.
Điều 128. Quyền, nghĩa vụ của người được
thông báo
1. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được thông báo, người bị kiện,
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến
của mình về yêu cầu của người khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo hoặc yêu cầu độc
lập (nếu
có).
Trường hợp cần gia hạn thì người được thông báo phải có đơn xin gia hạn gửi
cho Tòa án nêu rõ lý do; nếu việc xin gia hạn là có căn cứ thì Tòa án gia hạn
một lần, nhưng không quá 07 ngày.
2. Trường hợp người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã nhận
được thông báo, nhưng không nộp ý kiến bằng văn bản trong thời hạn quy định tại
khoản 1 Điều này mà không có lý do chính đáng thì Tòa án tiếp tục giải quyết vụ
án theo quy định của Luật này.
3. Người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền yêu cầu
Tòa án cho ghi chép, sao chụp đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn
khởi kiện (nếu có), trừ tài liệu, chứng cứ quy định
tại khoản 2 Điều 96 của Luật này.
4. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được thông báo, Viện kiểm sát
phân công Kiểm sát viên, Kiểm sát viên dự khuyết (nếu có) thực hiện nhiệm vụ và thông báo cho Tòa án.
Điều 129. Quyền yêu cầu độc lập của
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
1. Trường hợp người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không tham gia tố tụng
với người khởi kiện hoặc với người bị kiện thì họ có quyền yêu cầu độc lập khi
có các điều kiện sau đây:
a) Việc giải quyết vụ án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ;
b) Yêu cầu độc lập của họ có liên quan đến vụ án đang được giải quyết;
c) Yêu cầu độc lập của họ được giải quyết trong cùng một vụ án làm cho việc
giải quyết vụ án được chính xác và nhanh hơn.
2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền đưa ra yêu cầu độc lập
đến thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ
và đối thoại.
Thủ tục yêu cầu độc lập được thực hiện theo quy định của Luật này về thủ
tục khởi kiện của người khởi kiện.
THỦ TỤC ĐỐI THOẠI VÀ CHUẨN BỊ XÉT XỬ
Điều 130. Thời hạn chuẩn bị xét xử
Thời hạn chuẩn bị xét xử các vụ án, trừ vụ án xét xử theo thủ tục rút
gọn,
vụ án có yếu
tố nước ngoài và vụ án khiếu kiện về danh sách cử tri được quy định như sau:
1. 04 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án đối với trường hợp quy định tại điểm a
khoản 2 Điều 116 của Luật này;
2. 02 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án đối với trường hợp quy định tại điểm b
khoản 2 Điều 116 của Luật này;
3. Đối với vụ án phức tạp hoặc có trở ngại khách quan thì Chánh án Tòa án
có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử một lần, nhưng không quá 02
tháng đối với trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này và không quá 01 tháng
đối với trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này;
4. Trường hợp có quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án thì thời hạn
chuẩn bị xét xử được tính lại kể từ ngày quyết định tiếp tục giải quyết vụ án
của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
Điều 131. Nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm
phán trong giai đoạn chuẩn bị xét xử
1. Lập hồ sơ vụ án.
2. Yêu cầu đương sự nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ, văn bản ghi ý kiến đối
với yêu cầu của người khởi kiện cho Tòa án; yêu cầu người khởi kiện nộp bản sao
tài liệu, chứng cứ để Tòa án gửi cho đương sự.
3. Xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ theo quy định của Luật này.
4. Quyết định việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời.
5. Tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ
và đối thoại theo quy định của Luật này; trừ vụ án theo thủ tục rút gọn và vụ
án khiếu kiện về danh sách cử tri.
6. Ra một trong các quyết định sau đây:
a) Đưa vụ án ra xét xử;
b) Tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án;
c) Đình chỉ việc giải quyết vụ án.
Điều 132. Lập hồ sơ vụ án hành
chính
1. Hồ sơ vụ án hành chính gồm đơn và tài liệu, chứng cứ của đương sự, người
tham gia tố tụng khác; tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập liên quan đến vụ
án; văn bản tố tụng của Tòa án, Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án hành
chính.
2. Các giấy tờ, tài liệu trong hồ sơ vụ án hành chính phải được đánh số bút
lục, sắp xếp theo thứ tự ngày, tháng, năm và phải được lưu giữ, quản lý, sử
dụng theo quy định của pháp luật.
Điều 133. Giao nộp tài liệu, chứng cứ
1. Thời hạn giao nộp tài liệu, chứng cứ theo quy định tại khoản 4 Điều 83 của Luật này.
2. Trường hợp sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục sơ
thẩm, đương sự mới giao nộp tài liệu, chứng cứ mà Tòa án đã yêu
cầu giao nộp trước đó thì đương sự phải chứng minh lý do của việc chậm giao nộp
tài liệu, chứng cứ. Đối với tài liệu, chứng cứ mà trước đó Tòa án không yêu cầu đương sự phải
giao nộp hoặc tài liệu, chứng cứ mà đương sự
không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm thì
đương sự có quyền giao nộp, trình bày tại phiên tòa sơ thẩm.
Điều 134. Nguyên tắc đối thoại
1. Trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, Tòa án tiến hành đối thoại để
các đương sự thống nhất với nhau về việc giải quyết vụ án, trừ những vụ án
không tiến hành đối thoại được, vụ án khiếu kiện về danh sách cử tri, vụ án xét
xử theo thủ tục rút gọn được quy định tại các
điều 135,
198 và 246 của Luật này.
2. Việc đối thoại phải được tiến hành theo các nguyên tắc sau đây:
a) Bảo đảm công khai, dân chủ, tôn trọng ý kiến của đương sự;
b) Không được ép buộc các đương sự thực hiện việc giải quyết vụ án hành
chính trái với ý chí của họ;
c) Nội dung đối thoại, kết quả đối thoại thành giữa các đương sự không trái
pháp luật, trái đạo đức xã hội.
Điều 135. Những vụ án hành chính
không tiến hành đối thoại được
1. Người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt.
2. Đương sự không thể tham gia đối thoại được vì có lý do chính đáng.
3. Các bên đương sự thống nhất đề
nghị không tiến hành đối thoại.
Điều 136. Thông báo về phiên họp
kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đối thoại
1. Trước khi tiến hành phiên họp kiểm tra việc
giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đối thoại giữa các đương sự, Thẩm phán phải thông báo cho các đương sự, người đại diện
hợp pháp của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự về
thời gian, địa điểm tiến hành phiên họp và nội dung của phiên họp.
2. Trường hợp vụ án hành chính không tiến hành đối thoại được theo quy định tại Điều 135 của Luật này thì Thẩm phán tiến
hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ mà không
tiến hành việc đối thoại.
Điều 137. Thành phần phiên họp
kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đối thoại
1. Thành phần tham gia phiên họp gồm có:
a) Thẩm phán chủ trì phiên họp;
b) Thư ký phiên họp ghi biên bản;
c) Đương sự hoặc người đại diện hợp
pháp của đương sự;
d) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự (nếu có);
đ) Người phiên dịch (nếu có).
2. Trường hợp cần thiết, Thẩm phán có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá
nhân có liên quan tham gia phiên họp.
3. Trong vụ án có nhiều đương sự, mà có đương sự vắng mặt, nhưng các đương
sự có mặt vẫn đồng ý tiến hành phiên họp và việc tiến hành phiên họp đó không
ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt thì Thẩm phán tiến hành
phiên họp giữa các đương sự có mặt; nếu các đương sự đề nghị hoãn phiên họp để
có mặt tất cả các đương sự trong vụ án thì Thẩm phán phải hoãn phiên họp và thông báo bằng văn
bản việc
hoãn phiên họp, mở lại phiên họp cho các đương
sự.
Điều 138. Trình tự phiên họp kiểm
tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đối thoại
1. Trước khi khai mạc phiên họp, Thư ký phiên họp báo cáo Thẩm phán về sự có mặt, vắng mặt của những người
tham gia phiên họp đã được Tòa án thông báo. Thẩm phán chủ trì phiên họp kiểm
tra lại sự có mặt và căn cước của những người tham gia, phổ biến cho đương sự
biết quyền và nghĩa vụ theo quy định của Luật này.
2. Khi tiến hành kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, Thẩm
phán công bố tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và hỏi đương sự về những
vấn đề sau đây:
a) Yêu cầu và phạm vi khởi kiện, sửa đổi, bổ sung, thay thế, rút yêu cầu
khởi kiện; yêu cầu độc lập; những vấn đề đã thống nhất, những vấn đề chưa thống
nhất yêu cầu Tòa án giải quyết;
b) Việc giao nộp tài liệu, chứng cứ cho
Tòa án và việc gửi tài liệu, chứng cứ cho đương sự khác;
c) Việc bổ sung tài liệu, chứng cứ, đề nghị Tòa án thu thập tài liệu, chứng cứ, triệu tập đương sự
khác, người làm chứng và người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa;
d) Vấn đề khác mà đương sự thấy cần thiết.
3. Sau khi các đương sự trình bày xong, Thẩm phán xem xét các ý kiến, giải
quyết các đề nghị của đương sự quy định tại khoản 2
Điều này; trường hợp đương sự vắng mặt thì Tòa án thông báo kết quả phiên họp
cho họ.
4. Sau khi tiến hành xong việc kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng
cứ quy định tại khoản 2 Điều này, Thẩm phán tiến hành thủ tục đối thoại như
sau:
a) Thẩm phán phổ biến cho đương sự biết các quy định của pháp luật có liên
quan đến việc giải quyết vụ án để các bên liên hệ đến quyền, nghĩa vụ của mình,
phân tích hậu quả pháp lý của việc đối thoại để họ tự nguyện thống nhất với
nhau về việc giải quyết vụ án;
b) Người khởi kiện trình bày bổ sung về yêu cầu khởi kiện, những căn cứ để
bảo vệ yêu cầu khởi kiện và đề xuất quan điểm của người khởi kiện về hướng giải
quyết vụ án (nếu có);
c) Người bị kiện trình bày bổ sung ý kiến về yêu cầu của người khởi kiện,
những căn cứ ban hành quyết định hành chính, thực hiện hành vi hành chính bị
khởi kiện và đề xuất hướng giải quyết vụ án (nếu có);
d) Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án trình bày bổ sung và đề
xuất ý kiến giải quyết phần liên quan đến họ (nếu có);
đ) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự hoặc người khác tham
gia phiên họp đối thoại (nếu có) phát biểu ý kiến;
e) Tùy từng trường hợp, Thẩm phán yêu
cầu đương sự nêu văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính có liên quan để
đánh giá tính hợp pháp của quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khởi
kiện, đồng thời kiểm tra hiệu lực pháp luật của văn bản đó. Thẩm phán có thể
phân tích để các đương sự nhận thức đúng về nội dung văn bản quy phạm pháp
luật, văn bản hành chính có liên quan để họ có sự lựa chọn và quyết định việc
giải quyết vụ án;
g) Sau khi các đương sự trình bày hết ý kiến của mình, Thẩm phán xác định
những vấn đề các bên đã thống nhất, những
vấn đề chưa thống nhất và yêu cầu các bên đương sự
trình bày bổ sung về những nội dung chưa rõ, chưa thống nhất;
h) Thẩm phán kết luận về những vấn đề các bên đương sự đã thống nhất và những
vấn đề chưa thống nhất.
5. Thư ký phiên họp ghi biên bản về diễn biến
phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đối thoại.
1. Biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ
phải có các nội dung sau đây:
a) Ngày, tháng, năm tiến hành phiên họp;
b) Địa điểm tiến hành phiên họp;
c) Thành phần tham gia phiên họp;
d) Ý kiến của đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của đương sự, người bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự về các nội dung quy định tại khoản 2
Điều 138 của Luật này;
đ) Các nội dung khác;
e) Kết luận của Thẩm phán về việc chấp nhận, không chấp nhận các đề nghị của đương sự.
2. Biên bản đối thoại phải có các nội dung sau đây:
a) Nội dung quy định tại các điểm a,
b và c khoản 1 Điều này;
b) Ý kiến của các đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của đương sự, người
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự;
c) Nội dung đã được đương sự thống nhất, không thống nhất.
3. Đối với trường hợp không tiến hành đối thoại được quy định tại Điều 135
của Luật này thì lập biên bản theo quy định tại khoản 1 Điều này.
4. Biên bản phải có đầy đủ chữ ký hoặc điểm chỉ của những người tham gia
phiên họp, chữ ký của Thư ký phiên họp ghi biên bản và của Thẩm
phán chủ trì phiên họp. Những người tham gia phiên họp có quyền được xem biên
bản phiên họp ngay sau khi kết thúc phiên họp, yêu cầu ghi những sửa đổi, bổ
sung vào biên bản phiên họp và ký tên hoặc điểm chỉ xác nhận.
Điều 140. Xử lý kết quả đối thoại
1. Trường hợp qua đối thoại
mà người khởi kiện vẫn giữ yêu cầu khởi kiện, người bị kiện giữ nguyên quyết
định, hành vi bị khởi kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu
độc lập vẫn giữ nguyên yêu cầu thì Thẩm phán tiến hành các thủ tục để mở phiên
tòa xét xử vụ án.
2. Trường hợp qua đối thoại mà người khởi kiện tự nguyện rút đơn khởi kiện
thì Thẩm phán lập biên bản về việc người khởi kiện tự nguyện rút đơn khởi kiện,
ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đối
với yêu cầu của người khởi kiện. Người khởi kiện được quyền khởi kiện lại vụ án nếu thời
hiệu khởi kiện vẫn còn.
3. Trường hợp qua đối thoại mà người bị kiện cam kết sửa đổi, bổ sung, thay
thế, hủy bỏ quyết định bị khởi kiện hoặc chấm dứt hành vi hành chính bị khởi
kiện và người khởi kiện cam kết rút đơn khởi kiện thì Tòa án lập biên bản về
việc cam kết của đương sự. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày lập biên bản,
người bị kiện phải gửi cho Tòa án quyết định hành chính mới hoặc thông báo về
việc chấm dứt hành vi hành chính bị khởi kiện và người khởi kiện phải gửi cho
Tòa án văn bản rút đơn khởi kiện. Hết thời hạn này mà một trong các đương sự
không thực hiện cam kết của mình thì Thẩm phán tiến hành các thủ tục để mở
phiên tòa xét xử vụ án .
Trường hợp nhận được quyết định hành chính mới hoặc văn bản rút đơn khởi
kiện thì Tòa án phải thông báo cho các đương sự khác biết. Trong thời hạn 07
ngày kể từ ngày nhận được thông báo của Tòa án, nếu các đương sự không có ý
kiến phản đối thì Thẩm phán ra quyết định công nhận kết quả đối thoại thành,
đình chỉ việc giải quyết vụ án và gửi ngay cho đương sự, Viện kiểm sát cùng
cấp. Quyết định này có hiệu lực thi hành ngay và không bị kháng cáo, kháng nghị
theo thủ tục phúc thẩm; trường hợp có căn cứ cho rằng nội dung các bên đã thống
nhất và cam kết là do bị nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa hoặc trái pháp luật, trái
đạo đức xã hội thì quyết định của Tòa án có thể được xem xét lại theo thủ tục
giám đốc thẩm.
Điều 141. Tạm đình chỉ giải quyết vụ án
1. Tòa án quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án khi thuộc một trong các trường hợp sau
đây:
a) Đương sự là cá nhân đã chết, cơ quan, tổ chức đã giải thể hoặc tuyên bố
phá sản mà chưa có cá nhân, cơ quan, tổ chức kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng;
b) Đương sự là người mất năng lực hành vi dân sự, người chưa thành niên mà chưa xác định được người đại
diện theo pháp luật;
c) Đã hết thời hạn chuẩn bị xét xử mà một trong các đương sự không thể có
mặt vì lý do chính đáng, trừ trường hợp có thể xét xử vắng mặt đương sự;
d) Cần đợi kết quả giải quyết của cơ quan khác hoặc kết quả giải quyết vụ
việc khác có liên quan;
đ) Cần đợi kết quả giám định bổ sung, giám định lại; cần đợi kết quả thực hiện ủy thác tư pháp, ủy thác
thu thập chứng cứ hoặc đợi cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu, chứng cứ theo
yêu cầu của Tòa án mới giải quyết được vụ án;
e) Cần đợi kết quả xử lý văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến
việc giải quyết vụ án có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên mà
Tòa án đã có văn bản kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ
sung hoặc bãi bỏ văn bản đó.
2. Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án có thể bị kháng cáo, kháng nghị
theo thủ tục phúc thẩm.
Điều 142. Hậu quả của việc tạm đình chỉ
giải quyết vụ án
1. Tòa án không xoá tên vụ án bị tạm đình chỉ giải quyết trong sổ thụ lý mà
chỉ ghi chú vào sổ thụ lý số và ngày, tháng, năm của quyết định tạm đình chỉ
giải quyết vụ án đó để theo dõi.
2. Khi lý do tạm đình chỉ quy định tại Điều 141 của Luật này không còn thì
Tòa án ra quyết định tiếp tục giải quyết vụ án và hủy bỏ quyết định tạm đình
chỉ giải quyết vụ án.
3. Tiền tạm ứng án phí, lệ phí mà đương sự đã nộp được xử lý khi Tòa án
tiếp tục giải quyết vụ án.
4. Trong thời gian tạm đình chỉ giải quyết vụ án, Thẩm phán được phân công
giải quyết vụ án vẫn phải có trách nhiệm về việc giải quyết vụ án.
Sau khi có quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án theo quy định tại khoản
1 Điều 141 của Luật này, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án có trách
nhiệm theo dõi, đôn đốc cơ quan, tổ chức, cá nhân khắc phục những lý do dẫn tới
vụ án bị tạm đình chỉ trong thời gian ngắn nhất để kịp thời đưa vụ án ra giải
quyết.
Điều 143. Đình chỉ giải quyết vụ án
1. Tòa án quyết định đình chỉ giải quyết vụ án trong các trường hợp sau
đây:
a) Người khởi kiện là cá nhân đã chết mà quyền, nghĩa vụ của họ không được
thừa kế; cơ quan, tổ chức đã giải thể hoặc tuyên bố phá sản mà không có cơ
quan, tổ chức, cá nhân kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng;
b) Người khởi kiện rút đơn khởi kiện trong trường hợp không có yêu cầu độc
lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Trường hợp có yêu cầu độc lập
của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mà người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan vẫn giữ nguyên yêu cầu độc lập của mình thì Tòa án ra quyết định đình chỉ giải
quyết vụ án đối với yêu cầu của người khởi kiện đã rút;
c) Người khởi kiện rút đơn khởi kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan rút đơn yêu cầu độc lập;
d) Người khởi kiện không nộp
tạm ứng chi phí định giá tài sản và chi phí tố tụng khác theo quy định của pháp
luật.
Trường hợp người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập mà không nộp tiền tạm ứng
chi phí định giá tài sản và chi phí tố tụng khác theo quy định của Luật này thì
Tòa án đình chỉ việc giải quyết yêu cầu độc lập của họ;
đ) Người khởi kiện đã được
triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt trừ trường hợp họ đề nghị Tòa án
xét xử vắng mặt hoặc trường hợp có sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan;
e) Người bị kiện hủy bỏ
quyết định hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết
khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh hoặc chấm dứt hành vi hành
chính bị khởi kiện và người khởi kiện đồng ý rút đơn khởi kiện, người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập đồng ý rút yêu cầu;
g) Thời hiệu khởi kiện đã
hết;
h) Các trường hợp quy định
tại khoản 1 Điều 123 của Luật này mà Tòa án đã thụ lý.
2. Khi ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án, Tòa án trả lại đơn khởi
kiện, tài liệu, chứng cứ cho đương sự nếu có yêu cầu.
3. Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án có thể bị kháng cáo, kháng nghị
theo thủ tục phúc thẩm.
Điều 144. Hậu quả của việc đình chỉ giải
quyết vụ án
1. Khi có quyết định đình chỉ giải quyết vụ án, đương sự không có quyền
khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án đó, nếu việc khởi kiện này không
có gì khác với vụ án đã bị đình chỉ về người khởi kiện, người bị kiện và quan
hệ pháp luật có tranh chấp, trừ các trường hợp bị đình chỉ theo quy định tại
các điểm b, c và
e khoản 1 Điều 123, điểm b và điểm đ khoản 1 Điều 143 của Luật này và trường hợp khác theo quy định của
pháp luật.
2. Tiền tạm ứng án phí, lệ phí mà đương sự đã nộp được xử lý theo quy định
của pháp luật về án phí, lệ phí Tòa án.
1. Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án có thẩm quyền ra quyết định
tạm đình chỉ, quyết định tiếp tục giải quyết vụ án hoặc quyết định đình chỉ
giải quyết vụ án đó.
2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày
Thẩm phán ra một trong các quyết định quy định tại khoản 1 Điều này, Tòa án
phải gửi quyết định đó cho đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp.
Điều 146. Quyết định đưa vụ án ra xét xử
1. Quyết định đưa vụ án ra xét xử phải có các nội dung chính sau đây:
a) Ngày, tháng, năm, địa điểm mở phiên tòa;
b) Việc xét xử được tiến hành công khai hay xét xử kín;
c) Tên, địa chỉ của người tham gia tố tụng;
d) Nội dung việc khởi kiện;
đ) Họ, tên của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên;
Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên dự khuyết
(nếu có).
2. Quyết định đưa vụ án ra xét xử phải được gửi cho đương sự, Viện kiểm sát
cùng cấp ngay sau khi ra quyết định.
Điều 147. Gửi hồ sơ cho Viện kiểm
sát
Tòa án phải gửi hồ sơ vụ án cùng với việc gửi quyết định đưa vụ án ra xét
xử cho Viện kiểm sát cùng cấp nghiên cứu. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày
nhận được hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát phải trả lại hồ sơ vụ án cho Tòa án.
Chương XI
YÊU CẦU CHUNG VỀ PHIÊN TÒA SƠ THẨM
Điều 148. Yêu cầu chung đối với phiên
tòa sơ thẩm
Phiên tòa sơ thẩm phải được tiến hành đúng thời gian, địa điểm đã được ghi
trong quyết định đưa vụ án ra xét xử hoặc trong giấy báo mở lại phiên tòa trong
trường hợp phải hoãn phiên tòa.
Điều 149. Thời hạn mở phiên tòa
Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án
phải mở phiên tòa; trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn mở phiên tòa có
thể kéo dài nhưng không quá 30 ngày.
Điều 150. Địa điểm tổ chức phiên
tòa
Phiên tòa được tổ chức tại trụ sở Tòa án hoặc có thể ngoài trụ sở Tòa án
nhưng phải bảo đảm tính trang nghiêm và hình thức phòng xử án quy định tại Điều
151 của Luật này.
Điều 151. Hình thức bố trí phòng
xử án
1. Quốc huy nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được treo chính giữa
phía trên phòng xử án và phía trên chỗ ngồi của Hội đồng xét xử.
2. Phòng xử án phải có các khu vực được bố trí riêng cho Hội đồng xét xử,
Kiểm sát viên, Thư ký phiên tòa, đương sự, người bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, những người tham gia tố tụng khác và
người tham dự phiên tòa.
Điều 152. Xét xử trực tiếp, bằng lời nói
1. Việc xét xử bằng lời nói
và phải được tiến hành tại phòng xử án.
2. Hội đồng xét xử phải trực tiếp xác định những
tình tiết của vụ án tại phiên tòa bằng cách hỏi và nghe trình bày, tranh luận trực
tiếp về tình tiết, chứng cứ của vụ án của người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người đại diện hợp pháp, người bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của đương sự và những người tham gia tố tụng khác, cơ quan,
tổ chức được mời tham dự phiên tòa, nghe Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện
kiểm sát.
1. Khi vào phòng xử án, mọi người đều phải chấp hành việc kiểm tra an ninh
của lực lượng có trách nhiệm bảo vệ phiên tòa.
2. Nghiêm cấm mang vũ khí, hung khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất
phóng xạ, đồ vật cấm lưu hành, truyền đơn, khẩu hiệu và tài liệu, đồ vật khác
ảnh hưởng đến sự tôn nghiêm của phiên tòa vào phòng xử án, trừ vật chứng của vụ
án phục vụ cho công tác xét xử hoặc vũ khí, công cụ hỗ trợ được người có thẩm
quyền mang theo để làm nhiệm vụ bảo vệ phiên tòa.
3. Người tham gia phiên tòa theo yêu cầu của Tòa án phải xuất trình giấy
triệu tập, giấy mời, giấy tờ có liên quan khác cho Thư ký phiên tòa tại bàn Thư
ký chậm nhất là 15 phút, trước giờ khai mạc phiên tòa và ngồi đúng vị trí trong
phòng xử án theo hướng dẫn của Thư ký phiên tòa; trường hợp đến muộn thì phải
xuất trình giấy triệu tập, giấy mời, giấy tờ có liên quan khác cho Thư ký phiên
tòa thông qua lực lượng làm nhiệm vụ bảo vệ phiên tòa.
4. Nhà báo tham dự phiên tòa để đưa tin về diễn biến phiên tòa phải chấp
hành sự điều khiển của Chủ tọa phiên tòa về khu vực tác nghiệp. Nhà báo ghi âm
lời nói, ghi hình ảnh của Hội đồng xét xử phải được sự đồng ý của Chủ tọa phiên
tòa. Việc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh của đương sự, những người tham gia tố
tụng khác phải được sự đồng ý của họ.
5. Mọi người tham dự phiên tòa phải có trang phục nghiêm chỉnh; có thái độ
tôn trọng Hội đồng xét xử, giữ trật tự và tuân theo sự điều khiển của Chủ tọa
phiên tòa.
6. Không đội mũ, nón, đeo kính màu trong phòng xử án, trừ trường hợp có lý
do chính đáng và được Chủ tọa phiên tòa cho phép; không sử dụng điện thoại di
động trong phòng xử án; không hút thuốc, không ăn uống trong phòng xử án hoặc
có hành vi khác ảnh hưởng đến sự tôn nghiêm của phiên tòa.
7. Người tham gia phiên tòa theo yêu cầu của Tòa án phải có mặt tại phiên
tòa trong suốt thời gian xét xử vụ án, trừ trường hợp được Chủ tọa phiên tòa đồng ý cho rời khỏi phòng xử án nếu có lý do chính đáng.
Người dưới mười sáu tuổi không được vào phòng
xử án, trừ trường hợp được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa.
8. Mọi người trong phòng xử án phải đứng dậy khi Hội đồng xét xử vào phòng
xử án và khi tuyên án, trừ trường hợp được sự
đồng ý của
Chủ tọa phiên tòa.
9. Chỉ những người được Hội đồng xét xử đồng
ý mới được
hỏi, trả lời hoặc phát biểu. Người hỏi, trả lời hoặc phát biểu phải đứng dậy,
trừ trường hợp vì lý do sức khỏe được Chủ tọa phiên tòa đồng ý cho ngồi để hỏi, trả lời hoặc phát biểu.
Điều 154. Thành phần Hội đồng xét xử sơ
thẩm
Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm một Thẩm phán và 02 Hội thẩm nhân dân, trừ trường hợp quy định tại khoản
1 Điều 249
của Luật
này. Hội đồng xét xử sơ thẩm có thể gồm 02
Thẩm phán và
03 Hội thẩm nhân dân trong trường hợp sau đây:
1. Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh liên quan đến nhiều đối tượng;
2. Vụ án phức tạp.
Điều 155. Sự có mặt của thành viên Hội
đồng xét xử và Thư ký Tòa án
1. Phiên tòa chỉ được tiến hành khi có đủ thành viên Hội đồng xét xử và Thư
ký phiên tòa án.
2. Trường hợp có Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân vắng mặt hoặc không thể tiếp
tục tham gia xét xử vụ án nhưng có Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân dự khuyết tham
gia phiên tòa từ đầu thì những người này được thay thế thành viên Hội đồng xét
xử vắng mặt để tham gia xét xử vụ án.
3. Trường hợp không có Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân dự khuyết để thay thế
thành viên Hội đồng xét xử theo quy định tại khoản 2 Điều này thì phải hoãn
phiên tòa.
4. Trường hợp Thư ký phiên tòa vắng mặt hoặc không thể
tiếp tục tham gia phiên tòa mà không có người thay thế thì phải hoãn phiên tòa.
Điều 156. Sự có mặt của Kiểm sát viên
1. Kiểm sát viên được Viện
trưởng Viện kiểm sát cùng cấp phân công có nhiệm vụ tham gia phiên tòa, nếu vắng mặt thì Hội đồng
xét xử vẫn tiến hành xét xử.
2. Trường hợp Kiểm sát viên bị thay đổi tại phiên tòa hoặc không thể tiếp
tục tham gia phiên tòa xét xử, nhưng có Kiểm sát viên dự khuyết thì người này
được tham gia phiên tòa xét xử tiếp vụ án nếu họ có mặt tại phiên tòa từ đầu.
1. Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất, đương sự hoặc người đại diện của
họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt tại phiên tòa; trường hợp có người vắng mặt thì Hội đồng xét xử
hoãn phiên tòa, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Tòa án thông báo cho đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của đương sự biết việc hoãn phiên tòa.
2. Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, đương sự hoặc người đại diện của
họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt tại phiên
tòa, nếu vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan thì xử lý như sau:
a) Đối với người khởi kiện, người đại diện theo pháp luật của người khởi
kiện mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là
từ bỏ việc khởi kiện và Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đối với
yêu cầu khởi kiện của người đó, trừ trường hợp họ có đơn đề nghị xét xử vắng
mặt. Người khởi kiện có quyền khởi kiện lại, nếu thời hiệu khởi kiện vẫn còn;
b) Đối với người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có
yêu cầu độc lập mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì Tòa án tiến
hành xét xử vắng mặt họ;
c) Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập mà
không có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ yêu cầu độc lập
của mình và Tòa án ra quyết định đình chỉ việc giải quyết đối với yêu cầu độc
lập của người đó, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có quyền khởi kiện lại đối
với yêu cầu độc lập đó, nếu thời hiệu khởi kiện vẫn còn;
d) Đối với người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thì Tòa án
vẫn tiến hành xét xử vắng mặt họ.
Điều 158. Xét xử trong trường hợp
đương sự vắng mặt tại phiên tòa
Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án trong các trường hợp sau đây:
1. Người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
và người đại diện của họ vắng mặt tại phiên tòa có đơn đề nghị Tòa án xét xử
vắng mặt;
2. Người khởi kiện, người bị kiện hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan vắng mặt tại phiên tòa nhưng có người đại diện tham gia phiên tòa;
3. Trường hợp quy định tại điểm b và điểm d khoản 2 Điều 157 của Luật này.
Điều 159. Sự có mặt của người làm chứng
1. Người làm chứng có nghĩa vụ tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập của
Tòa án để trình bày tình tiết của vụ án mà họ biết. Trường hợp người làm chứng
vắng mặt nhưng trước đó đã có lời khai trực tiếp với Tòa án hoặc gửi lời khai
cho Tòa án thì Chủ tọa phiên tòa công bố lời khai đó.
2. Trường hợp người làm chứng vắng mặt thì Hội đồng xét xử quyết định hoãn
phiên tòa hoặc vẫn tiến hành xét xử. Trường hợp người làm chứng vắng mặt tại
phiên tòa không có lý do chính đáng và việc vắng mặt của họ gây trở ngại cho
việc xét xử thì có thể bị dẫn giải đến phiên tòa theo quyết định của Hội đồng
xét xử.
Điều 160. Sự có mặt của người giám định
1. Người giám định có nghĩa vụ tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập của
Tòa án để làm rõ những vấn đề liên quan đến việc giám định và kết luận giám
định.
2. Trường hợp người giám định vắng mặt thì Hội đồng xét xử quyết định hoãn
phiên tòa hoặc vẫn tiến hành xét xử.
Điều 161. Sự có mặt của người phiên dịch
1. Người phiên dịch có nghĩa vụ tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập của
Tòa án.
2. Trường hợp người phiên dịch vắng mặt mà không có người khác thay thế thì
Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa.
1. Các trường hợp phải hoãn phiên tòa:
a) Trường hợp quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 155, khoản 1 Điều 157,
khoản 2 Điều 161 của Luật này;
b) Thành viên của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, người phiên dịch bị
thay đổi mà không có người thay thế ngay;
c) Trường hợp phải tiến hành giám định lại theo quy định tại
Điều 170 của Luật này.
2. Trường hợp hoãn phiên tòa được quy định tại khoản 2 Điều 159 và khoản 2
Điều 160 của Luật này.
Điều 163. Thời hạn, quyết định và thẩm
quyền hoãn phiên tòa
1. Thời hạn hoãn phiên tòa sơ thẩm không quá 30 ngày kể từ ngày Hội đồng
xét xử ra quyết định hoãn phiên tòa, trừ phiên tòa xét xử vụ án theo thủ tục
rút gọn thì thời hạn hoãn là 15 ngày.
2. Quyết định hoãn phiên tòa phải có các nội dung chính sau đây:
a) Ngày, tháng, năm ra quyết định;
b) Tên Tòa án và họ, tên những người tiến hành tố tụng;
c) Vụ án được đưa ra xét xử;
d) Lý do của việc hoãn phiên tòa;
đ) Thời gian, địa điểm mở lại phiên tòa.
3. Quyết định hoãn phiên tòa phải được Chủ tọa phiên tòa thay mặt Hội đồng
xét xử ký tên. Trường hợp Chủ tọa phiên tòa vắng mặt thì Chánh án Tòa án ra
quyết định hoãn phiên tòa. Quyết định hoãn phiên tòa được thông báo ngay cho
những người tham gia tố tụng biết; đối với người vắng mặt thì Tòa án gửi ngay
cho họ quyết định đó, đồng thời gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp.
4. Trường hợp sau khi hoãn phiên tòa mà Tòa án không thể mở lại phiên tòa
đúng thời gian, địa điểm mở lại phiên tòa ghi trong quyết định hoãn phiên tòa
thì Tòa án phải thông báo ngay cho những người tham gia tố tụng và Viện kiểm
sát cùng cấp biết về thời gian, địa điểm mở lại phiên tòa.
Điều 164. Thủ tục ra bản án, quyết định
của Tòa án tại phiên tòa
1. Bản án phải được Hội đồng xét xử thảo luận và thông qua tại phòng nghị
án.
2. Quyết định thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người
phiên dịch, chuyển vụ án, tạm đình chỉ hoặc đình chỉ giải quyết vụ án, hoãn
phiên tòa phải được thảo luận, thông qua tại phòng nghị án và phải được lập
thành văn bản.
3. Quyết định về các vấn đề khác được Hội đồng xét xử thảo luận và thông
qua tại phòng xử án, không phải viết thành văn bản, nhưng phải được ghi vào
biên bản phiên tòa.
Điều 165. Tạm đình chỉ, đình chỉ giải
quyết vụ án tại phiên tòa
1. Tại phiên tòa, nếu có một trong các trường hợp quy định tại các điểm a,
b, c, d và e khoản 1 Điều 141 của Luật này thì Hội đồng xét xử ra quyết định
tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án.
2. Tại phiên tòa, nếu có một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều
143 của Luật này thì Hội đồng xét xử ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ
án.
3. Trường hợp đương sự xuất trình quyết định hành chính mới mà quyết định
hành chính đó liên quan đến quyết định bị khởi kiện và không thuộc thẩm quyền
của Tòa án đang xét xử sơ thẩm vụ án thì Hội đồng xét xử đình chỉ việc xét xử
và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án có thẩm quyền.
1. Biên bản phiên tòa phải ghi đầy đủ các nội dung sau đây:
a) Các nội dung quy định tại khoản 1 Điều 146 của Luật này;
b) Mọi diễn biến tại phiên tòa từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc phiên
tòa;
c) Các câu hỏi, câu trả lời và phát biểu tại phiên tòa;
d) Các nội dung khác phải được ghi vào biên bản phiên tòa theo quy định của
Luật này.
2. Ngoài việc ghi biên bản phiên tòa, Tòa án có thể thực hiện việc ghi âm,
ghi hình về diễn biến phiên tòa.
3. Sau khi kết thúc phiên tòa, Hội đồng xét xử phải kiểm tra biên bản; Chủ
tọa phiên tòa và Thư ký phiên tòa ký vào biên bản.
4. Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng có quyền được xem biên bản
phiên tòa, yêu cầu ghi những sửa đổi, bổ sung vào biên bản phiên tòa và ký xác
nhận.
Điều 167. Chuẩn bị khai mạc phiên tòa
Trước khi khai mạc phiên tòa, Thư ký phiên tòa phải tiến hành các công việc
sau đây:
1. Phổ biến nội quy phiên tòa;
2. Kiểm tra, xác định sự có mặt, vắng mặt của những người tham gia phiên
tòa theo giấy triệu tập của Tòa án; nếu có người vắng mặt thì cần phải làm rõ
lý do;
3. Ổn định trật tự trong phòng xử án;
4. Yêu cầu mọi người trong phòng xử án đứng dậy khi Hội đồng xét xử vào
phòng xử án.
Điều 168. Thủ tục xét xử vắng mặt
tất cả những người tham gia tố tụng
1. Tòa án căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ để xét xử vắng mặt
đương sự, người tham gia tố tụng theo quy định của Luật này khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Người khởi kiện, người đại diện hợp pháp của người khởi kiện có đơn đề
nghị xét xử vắng mặt;
b) Người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người đại diện
hợp pháp của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn đề
nghị xét xử vắng mặt hoặc đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt;
c) Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện, người bị kiện,
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn đề nghị xét xử vắng mặt hoặc đã
được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt.
2. Chủ tọa phiên tòa công bố lý do đương sự vắng mặt hoặc đơn của đương sự
đề nghị xét xử vắng mặt.
3. Chủ tọa phiên tòa công bố tóm tắt nội dung vụ án và tài liệu, chứng cứ
có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử thảo luận về những vấn đề cần giải quyết
trong vụ án.
4. Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát.
5. Hội đồng xét xử tiến hành nghị án và tuyên án theo quy định của Luật
này.
THỦ TỤC
BẮT ĐẦU PHIÊN TÒA
1. Chủ tọa phiên tòa khai mạc phiên tòa và đọc quyết định đưa vụ án ra xét
xử.
2. Thư ký phiên tòa báo cáo với Hội đồng xét
xử về sự có mặt, vắng mặt của những người tham gia phiên tòa theo giấy triệu
tập, giấy báo của Tòa án và lý do vắng mặt.
3. Chủ tọa phiên tòa kiểm tra lại sự có mặt của những người tham gia phiên
tòa theo giấy triệu tập, giấy báo của Tòa án và kiểm tra căn cước của đương sự.
4. Chủ tọa phiên tòa phổ biến quyền, nghĩa vụ của các đương sự và của những
người tham gia tố tụng khác.
5. Chủ tọa phiên tòa giới thiệu họ, tên thành
viên Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, Kiểm sát viên, người giám định, người phiên
dịch.
6. Chủ tọa phiên tòa hỏi những người có quyền yêu cầu thay đổi những người
tiến hành tố tụng, người phiên dịch xem họ có yêu cầu thay đổi ai không; hỏi
những người có quyền về người giám định có vi phạm quy định tại khoản 3 Điều 63 của Luật này không.
7. Chủ tọa phiên tòa yêu cầu người làm chứng phải cam kết khai báo đúng sự
thật, nếu khai không đúng phải chịu trách nhiệm trước pháp luật,
trừ trường hợp người làm chứng là người chưa thành niên.
8. Chủ tọa phiên tòa yêu cầu người giám định, người phiên dịch cam kết cung
cấp kết quả giám định chính xác, phiên dịch đúng nội dung cần phiên dịch.
Điều 170. Giải quyết yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người
giám định, người phiên dịch
Trường hợp tại phiên tòa
có người yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch thì Hội đồng xét xử phải xem
xét, quyết định việc chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu theo quy định của
Luật này; nếu không chấp nhận thì phải nêu rõ lý do và ghi vào biên bản
phiên tòa.
Trường hợp có ý kiến về người giám định vi phạm một trong các quy định tại
khoản 3 Điều 63 của Luật này, Hội đồng
xét xử phải xem xét; nếu có căn cứ thì quyết định tiến hành giám định lại theo
quy định của pháp luật.
Điều 171. Bảo đảm tính khách quan của
người làm chứng
1. Trước khi người làm chứng được hỏi về những vấn đề mà họ biết được có
liên quan đến việc giải quyết vụ án, Chủ tọa phiên tòa có thể quyết định những
biện pháp cần thiết để những người làm chứng không nghe được lời khai của nhau
hoặc tiếp xúc với những người có liên quan.
2. Trường hợp lời khai của đương sự và người làm chứng có ảnh hưởng lẫn
nhau thì Chủ tọa phiên tòa có thể quyết định cách ly đương sự với người làm
chứng trước khi hỏi người làm chứng.
Điều 172. Hỏi đương sự về việc thay đổi,
bổ sung, rút yêu cầu
1. Chủ tọa phiên tòa hỏi người khởi kiện về việc thay đổi, bổ sung, rút một
phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện.
2. Chủ tọa phiên tòa hỏi người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có
yêu cầu độc lập về việc thay đổi, bổ sung, rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu
độc lập.
Điều 173. Xem xét việc thay đổi, bổ
sung, rút yêu cầu
1. Hội đồng xét xử chấp nhận việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự
nếu việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của họ không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi
kiện hoặc yêu cầu độc lập ban đầu.
2. Trường hợp đương sự rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của mình và việc
rút yêu cầu của họ là tự nguyện thì Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét
xử đối với phần yêu cầu hoặc toàn bộ yêu cầu mà đương sự đã rút.
Điều 174. Thay đổi địa vị tố tụng
Trường hợp người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện nhưng người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vẫn giữ yêu cầu độc lập của mình thì người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trở thành người khởi kiện.
TRANH TỤNG TẠI PHIÊN TÒA
Điều 175. Nội dung và phương thức tranh
tụng tại phiên tòa
1. Tranh
tụng tại phiên tòa bao gồm việc trình bày chứng cứ, hỏi, đối đáp, trả lời và
phát biểu quan điểm, lập luận về đánh giá chứng cứ, tình tiết của vụ án, quan
hệ pháp luật tranh chấp và pháp luật áp dụng để giải quyết yêu cầu của đương sự
trong vụ án.
2. Việc tranh tụng tại phiên tòa được tiến hành theo sự điều khiển của Chủ
tọa phiên tòa.
3. Chủ tọa phiên tòa không được hạn chế thời gian tranh tụng, tạo điều kiện
cho những người tham gia tranh tụng trình bày hết ý kiến, nhưng có quyền cắt ý
kiến không liên quan đến vụ án.
Điều 176. Trình bày của đương sự
1. Trường hợp đương sự vẫn giữ yêu cầu, quan điểm của mình và không thống nhất
với nhau về việc giải quyết vụ án thì Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung yêu cầu
của đương sự, thông báo kết luận tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp
cận, công khai chứng cứ và đối thoại, những vấn đề cần tranh tụng, yêu cầu
đương sự trình bày về vấn đề chưa rõ, còn mâu thuẫn theo trình tự sau đây:
a) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện trình bày về
vấn đề chưa rõ, còn mâu thuẫn và chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của người
khởi kiện là có căn cứ và hợp pháp. Người khởi kiện có quyền bổ sung ý kiến.
Trường hợp cơ quan, tổ chức khởi kiện vụ án thì đại diện cơ quan, tổ chức trình
bày về vấn đề chưa rõ, còn mâu thuẫn và chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu khởi
kiện là có căn cứ và hợp pháp;
b) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện trình bày ý
kiến của người bị kiện đối với yêu cầu của người khởi kiện; yêu cầu, đề nghị
của người bị kiện và chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp
pháp. Người bị kiện có quyền bổ sung ý kiến;
c) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan trình bày ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đối với
yêu cầu, đề nghị của người khởi kiện, người bị kiện; yêu cầu độc lập, đề nghị
của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và chứng cứ để chứng minh cho đề
nghị đó là có căn cứ và hợp pháp. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có
quyền bổ sung ý kiến.
2. Trường hợp người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan không có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình thì họ tự
trình bày về yêu cầu, đề nghị của mình và chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu,
đề nghị đó là có căn cứ và hợp pháp.
3. Tại phiên tòa, đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
đương sự chỉ có quyền bổ sung chứng cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 133 của
Luật này để chứng minh cho yêu cầu, đề nghị của mình.
Điều 177. Thứ tự và nguyên tắc
hỏi tại phiên tòa
1. Sau khi nghe xong lời trình bày của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của đương sự theo quy định tại Điều 176 của Luật này, theo sự điều hành của Chủ tọa phiên tòa, thứ tự hỏi của từng người được thực hiện
như sau:
a) Người khởi kiện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi
kiện hỏi trước, tiếp đến người bị kiện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của người bị kiện, sau đó là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan,
người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
b) Người tham gia tố tụng khác;
c) Chủ tọa phiên tòa, Hội thẩm nhân dân;
d) Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
2. Việc đặt câu hỏi phải rõ ràng, nghiêm túc, không trùng lặp, không lợi dụng việc hỏi và trả lời để xâm phạm danh dự,
nhân phẩm của những người tham gia tố tụng.
1. Trường hợp có nhiều người khởi kiện thì phải hỏi riêng từng người một.
2. Chỉ hỏi người khởi kiện về vấn đề mà người khởi kiện, người bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện trình bày chưa rõ, có mâu thuẫn với
nhau hoặc mâu thuẫn với lời khai của họ trước đó, mâu thuẫn với lời trình bày
của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của những người này.
3. Người khởi kiện có thể tự mình trả lời hoặc người bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của người khởi kiện trả lời thay cho người khởi kiện và sau đó
người khởi kiện trả lời bổ sung.
Điều 179. Hỏi người bị kiện
1. Trường hợp có nhiều người bị kiện thì phải hỏi riêng từng người một.
2. Chỉ hỏi người bị kiện về vấn đề mà người bị kiện, người bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của người bị kiện trình bày chưa rõ, có mâu thuẫn với nhau
hoặc mâu thuẫn với lời khai của họ trước đó, mâu thuẫn với lời trình bày của
người khởi kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của những người này.
3. Người bị kiện có thể tự mình trả lời hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của người bị kiện trả lời thay cho người bị kiện và sau đó người bị
kiện trả lời bổ sung.
Điều 180. Hỏi người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan
1. Trường hợp có nhiều người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì phải hỏi
riêng từng người một.
2. Chỉ hỏi người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về vấn đề mà người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ
trình bày chưa rõ, có mâu thuẫn với nhau hoặc mâu thuẫn với lời khai của họ
trước đó, mâu thuẫn với lời trình bày của người khởi kiện, người bị kiện, người
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của những người này.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có thể tự mình trả lời hoặc người
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ trả lời thay cho họ và sau đó người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trả lời bổ sung.
1. Trường hợp có nhiều người làm chứng thì phải hỏi riêng từng người một.
2. Trước khi hỏi người làm chứng, Chủ tọa phiên tòa phải hỏi rõ về quan hệ
giữa họ với các đương sự trong vụ án; nếu người làm chứng là người chưa thành
niên thì Chủ tọa phiên tòa có thể yêu cầu cha, mẹ, người giám hộ hoặc thầy
giáo, cô giáo giúp đỡ để hỏi.
3. Chủ tọa phiên tòa yêu cầu người làm chứng trình bày rõ tình tiết của vụ
án mà họ biết. Sau khi người làm chứng trình bày xong thì chỉ hỏi thêm người
làm chứng về vấn đề mà họ trình bày chưa rõ, chưa đầy đủ hoặc có mâu thuẫn với
nhau, mâu thuẫn với những lời khai của họ trước đó, mâu thuẫn với lời trình bày
của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.
4. Sau khi trình bày xong, người làm chứng ở lại phòng xử án để có thể được
hỏi thêm.
5. Trường hợp cần thiết phải bảo đảm an toàn cho người làm chứng và những
người thân thích của họ, Hội đồng xét xử quyết định không tiết lộ những thông
tin về nhân thân của người làm chứng và không để những người trong phiên tòa
nhìn thấy họ.
6. Đương
sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự hỏi người làm chứng sau
khi được sự đồng ý của Chủ tọa phiên tòa.
Điều 182. Công bố các tài liệu
của vụ án
1. Hội đồng xét xử công bố các tài liệu của vụ án trong các trường hợp sau
đây:
a) Người tham gia tố tụng không có mặt tại phiên tòa mà trong giai đoạn
chuẩn bị xét xử đã có lời khai;
b) Lời khai của người tham gia tố tụng tại phiên tòa mâu thuẫn với lời khai
trước đó;
c) Khi Hội đồng xét xử thấy cần thiết hoặc khi có yêu cầu của đương sự, người bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người tham gia tố tụng khác, Kiểm sát viên.
2. Trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật nhà nước, giữ gìn thuần phong, mỹ tục
của dân tộc, giữ bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật cá nhân hoặc để
bảo vệ người chưa thành niên theo yêu cầu của đương sự thì Hội đồng xét
xử không công bố các tài liệu có trong hồ sơ vụ án.
Theo yêu cầu của đương
sự, người bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của đương sự, người tham gia tố tụng khác hoặc của Kiểm sát viên hoặc khi
xét thấy cần thiết, Hội đồng xét xử cho nghe băng ghi âm, đĩa ghi âm, xem băng
ghi hình, đĩa ghi hình, thiết bị khác lưu trữ âm
thanh, hình ảnh tại phiên tòa, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 182 của Luật này.
1. Vật chứng, ảnh hoặc biên bản xác nhận vật chứng được đưa ra để xem xét
tại phiên tòa.
2. Hội đồng xét xử có thể cùng với các đương sự đến xem xét tại chỗ vật
chứng không thể đưa đến phiên tòa được nếu xét thấy cần thiết.
1. Chủ tọa phiên tòa yêu cầu người giám định trình bày kết luận của mình về
vấn đề được giao giám định. Khi trình bày, người giám định có quyền giải thích
về kết luận giám định, căn cứ để đưa ra kết luận giám định.
2. Kiểm sát viên, những người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa có
quyền nhận xét về kết luận giám định, được hỏi những vấn đề còn chưa rõ hoặc có
mâu thuẫn trong kết luận giám định hoặc có mâu thuẫn với chứng cứ khác của vụ
án.
3. Trường hợp người giám định không có mặt tại phiên tòa thì Chủ tọa phiên
tòa công bố kết luận giám định.
4. Khi có người tham gia tố tụng không đồng ý với kết luận giám định được
công bố tại phiên tòa và có yêu cầu giám định bổ sung hoặc giám định lại;
trường hợp xét thấy việc giám định bổ sung, giám định lại không cần thiết thì
Hội đồng xét xử vẫn tiếp tục phiên tòa; trường hợp xét thấy việc giám định bổ
sung, giám định lại cần thiết cho việc giải quyết vụ án thì Hội đồng xét xử
quyết định giám định bổ sung, giám định lại và tạm ngừng phiên tòa để chờ kết
quả giám định bổ sung, giám định lại.
Điều 186. Kết thúc việc hỏi tại phiên
tòa
Khi nhận thấy các tình tiết của vụ án đã được xem xét đầy đủ thì Chủ tọa
phiên tòa hỏi Kiểm sát viên, đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của đương sự và những người tham gia tố tụng khác xem họ có yêu cầu hỏi vấn đề
gì nữa không; trường hợp có người yêu cầu và xét thấy yêu cầu đó là có căn cứ
thì Chủ tọa phiên tòa quyết định tiếp tục việc hỏi.
1. Trong quá trình xét xử, Hội đồng xét xử có quyền tạm ngừng phiên tòa khi
có một trong các căn cứ sau đây:
a) Do
tình trạng sức khỏe hoặc do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan khác mà
người tiến hành tố tụng không thể tiếp tục tiến hành phiên tòa, trừ trường hợp thay
thế được người tiến hành tố tụng;
b) Do tình trạng sức khỏe hoặc do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách
quan khác mà người tham gia tố tụng không thể tiếp tục tham gia phiên tòa, trừ
trường hợp người tham gia tố tụng có yêu cầu xét xử vắng mặt;
c) Cần phải xác minh, thu thập bổ sung tài liệu, chứng cứ mà không thực
hiện thì không thể giải quyết được vụ án và không thể thực hiện được ngay tại
phiên tòa;
d) Cần phải báo cáo với Chánh án Tòa án có thẩm quyền để đề nghị,
kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp
luật theo quy định tại Điều 111 của Luật này;
đ) Các bên đương sự đề nghị Tòa án tạm ngừng phiên tòa để các bên đương sự
tự đối thoại;
e) Chờ kết quả giám định bổ sung, giám định lại quy định tại khoản 4 Điều 185 của Luật này.
2. Việc tạm ngừng phiên tòa phải được ghi vào biên bản phiên tòa. Thời hạn
tạm ngừng phiên tòa không được quá 30 ngày kể từ ngày Hội đồng xét xử quyết
định tạm ngừng phiên tòa. Hội đồng xét xử tiếp tục tiến hành phiên tòa, nếu lý
do để tạm ngừng phiên tòa không còn. Hết thời hạn này, nếu lý do tạm ngừng
phiên tòa chưa được khắc phục, Hội đồng xét xử ra quyết định tạm đình chỉ giải
quyết vụ án và thông báo bằng văn bản cho những
người tham gia tố tụng và Viện kiểm sát cùng cấp về thời gian tiếp tục phiên
tòa.
Điều 188. Trình tự phát biểu khi tranh
luận
1. Sau khi kết thúc việc hỏi, việc tranh luận tại phiên tòa
được thực hiện như sau:
a) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện trình bày.
Người khởi kiện có quyền bổ sung ý kiến. Trường hợp cơ quan, tổ chức khởi kiện
thì đại diện cơ quan, tổ chức trình bày ý kiến;
b) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện tranh luận, đối
đáp. Người bị kiện có quyền bổ sung ý kiến;
c) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan trình bày. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền bổ sung ý
kiến;
d) Các đương sự đối đáp theo sự điều khiển của Chủ tọa phiên tòa;
đ) Khi xét thấy cần thiết, Hội đồng xét xử có thể yêu cầu các bên đương sự
tranh luận bổ sung về những vấn đề cụ thể để làm căn cứ giải quyết vụ án.
2. Trường hợp người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan không có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình thì họ tự
trình bày khi tranh luận.
3. Trường hợp vắng mặt một trong các bên đương sự, người bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của đương sự và người tham gia tố tụng khác thì Chủ tọa phiên
tòa phải công bố lời khai của họ, văn bản bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
đương sự, trên cơ sở đó các đương sự có mặt tại phiên tòa tranh luận và đối
đáp.
Điều 189. Phát biểu khi tranh
luận và đối đáp
Khi phát biểu về đánh giá chứng cứ, đề xuất quan điểm của mình về việc giải
quyết vụ án, người tham gia tranh luận phải căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã
thu thập được và đã được xem xét, kiểm tra tại phiên tòa cũng như kết quả việc
hỏi tại phiên tòa. Người tham gia tranh luận có quyền đáp lại ý kiến của người
khác.
Điều 190. Phát biểu của Kiểm sát viên
Sau khi những người tham gia tố tụng tranh luận và đối đáp xong, Kiểm sát viên phát biểu
ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng
trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội
đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án.
Ngay sau khi kết thúc phiên tòa, Kiểm sát viên phải
gửi văn bản phát biểu ý kiến cho Tòa án để lưu vào hồ sơ vụ án.
1. Sau khi kết thúc phần tranh luận, Hội đồng xét xử vào phòng nghị án để
nghị án.
2. Chỉ có các thành viên của Hội đồng xét xử mới có quyền nghị án. Khi nghị
án, các thành viên của Hội đồng xét xử phải giải quyết tất cả các vấn đề của vụ
án bằng cách biểu quyết theo đa số về từng vấn đề. Hội thẩm nhân dân biểu quyết
trước, Thẩm phán biểu quyết sau cùng. Trường hợp Hội đồng xét xử gồm 05 thành
viên thì Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa là người biểu quyết sau cùng. Người có ý
kiến thiểu số có quyền trình bày ý kiến của mình bằng văn bản và được đưa vào
hồ sơ vụ án.
3. Khi nghị án, Hội đồng xét xử chỉ được căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã
được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa, kết quả việc tranh tụng tại phiên tòa, ý
kiến của Kiểm sát viên, các quy định của pháp luật và nghiên cứu, áp dụng án lệ
hành chính (nếu có) liên quan để quyết định về các vấn đề sau đây:
a) Tính hợp pháp và có căn cứ về hình thức, nội dung của quyết định hành
chính hoặc việc thực hiện hành vi hành chính bị khởi kiện;
b) Tính hợp pháp về thẩm quyền, trình tự, thủ tục ban hành quyết định hành
chính hoặc việc thực hiện hành vi hành chính;
c) Thời hiệu, thời hạn ban hành quyết định hành chính hoặc thực hiện hành
vi hành chính;
d) Mối liên hệ giữa quyết định hành chính, hành vi hành chính với quyền và
lợi ích hợp pháp của người khởi kiện và những người có liên quan;
đ) Tính hợp pháp và có căn cứ của văn bản hành chính có liên quan (nếu có);
e) Vấn đề bồi thường thiệt hại và vấn đề khác (nếu có).
4. Khi nghị án phải có biên bản ghi lại ý kiến đã thảo luận và quyết định
của Hội đồng xét xử. Biên bản nghị án phải được các thành viên Hội đồng xét xử
ký tên tại phòng nghị án trước khi tuyên án.
5. Trường hợp vụ án có nhiều tình tiết phức tạp, việc nghị án đòi hỏi phải
có thêm thời gian thì Hội đồng xét xử có thể quyết định kéo dài thời gian nghị
án, nhưng không quá 05 ngày làm việc kể từ khi kết thúc tranh luận tại phiên
tòa.
Hội đồng xét xử phải thông báo cho những người có mặt tại phiên tòa và
người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa biết ngày, giờ và địa điểm tuyên
án; nếu Hội đồng xét xử đã thực hiện việc thông báo mà có người tham gia tố
tụng vắng mặt thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành việc tuyên án theo quy định tại
Điều 195 của Luật này.
Điều 192. Trở lại việc hỏi và tranh luận
Qua tranh luận hoặc qua nghị án, nếu xét thấy có tình tiết của vụ án chưa
được xem xét, việc xét hỏi chưa đầy đủ hoặc cần xem xét thêm chứng cứ thì Hội
đồng xét xử quyết định trở lại việc hỏi và tranh luận.
Điều 193. Thẩm quyền của Hội đồng
xét xử
1. Hội đồng xét xử xem xét tính hợp pháp của quyết định hành chính, hành vi
hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại
về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, danh sách cử tri bị khởi kiện, quyết
định giải quyết khiếu nại và văn bản quy phạm pháp luật có liên quan.
2. Hội đồng xét xử có quyền quyết định:
a) Bác yêu cầu khởi kiện, nếu yêu cầu đó không có căn cứ pháp luật;
b) Chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện, tuyên hủy một phần
hoặc toàn bộ quyết định hành chính trái pháp luật và quyết định giải quyết
khiếu nại có liên quan (nếu có); buộc cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền
trong cơ quan nhà nước thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật;
đồng thời kiến nghị cách thức xử lý đối với quyết định hành chính trái pháp
luật đã bị hủy;
c) Chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện, tuyên bố hành vi hành
chính là trái pháp luật, tuyên hủy một phần hoặc toàn bộ quyết định giải quyết
khiếu nại có liên quan (nếu có); buộc cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền
trong cơ quan nhà nước chấm dứt hành vi hành chính trái pháp luật;
d) Chấp nhận yêu cầu khởi kiện, tuyên hủy quyết định kỷ luật buộc thôi việc
trái pháp luật; buộc người đứng đầu cơ quan, tổ chức thực hiện nhiệm vụ, công
vụ theo quy định của pháp luật;
đ) Chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện, tuyên hủy một phần
hoặc toàn bộ quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh
tranh trái pháp luật; buộc cơ quan, người có thẩm quyền ra quyết định giải
quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh giải quyết lại vụ việc
theo quy định của Luật cạnh tranh;
e) Chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện; buộc cơ quan lập danh
sách cử tri sửa đổi, bổ sung danh sách cử tri theo quy định của pháp luật;
g) Buộc cơ quan, tổ chức bồi thường thiệt hại, khôi phục quyền, lợi ích hợp
pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân bị xâm phạm do quyết định hành chính, hành
vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định xử lý vụ việc cạnh
tranh trái pháp luật gây ra;
h) Kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền, người đứng đầu của cơ quan
nhà nước có thẩm quyền xem xét trách nhiệm của cơ quan nhà nước, người có thẩm
quyền của cơ quan nhà nước.
3. Trường hợp cần phải yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền xem xét, xử lý
văn bản hành chính liên quan đến quyết định hành chính, hành vi hành chính bị
khởi kiện quy định tại khoản 1 Điều 6 của Luật này thì Hội đồng xét xử báo cáo
Chánh án Tòa án đang giải quyết vụ án đó
có văn bản yêu
cầu cơ quan, người có thẩm quyền xem xét, xử lý văn bản hành chính đó. Trường
hợp này, Hội đồng xét xử có quyền tạm ngừng phiên tòa để chờ kết quả giải quyết
của cơ quan, người có thẩm quyền. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được
quyết định của Tòa án thì cơ quan, người có thẩm quyền phải trả lời bằng văn bản về kết quả xử lý cho Tòa án biết để làm căn cứ cho
việc giải quyết vụ án. Quá thời hạn này mà không
nhận được văn bản trả lời của cơ quan, người có thẩm quyền thì Hội đồng xét xử có quyền
áp dụng văn bản của cơ quan quản lý nhà nước cấp trên để quyết định theo quy
định tại khoản 2 Điều này.
4. Trường hợp phát hiện văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến việc
giải quyết vụ án hành chính mà có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm
pháp luật của
cơ quan nhà nước cấp trên thì Hội đồng xét xử tạm
ngừng phiên tòa theo quy định tại Điều 112 của Luật này.
1. Tòa án ra bản án nhân danh nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
2. Bản án gồm có phần mở đầu, phần nội dung vụ án và nhận định và phần
quyết định của Tòa án, cụ thể như sau:
a) Trong phần mở đầu phải ghi rõ tên Tòa án xét xử sơ thẩm; số và ngày thụ
lý vụ án; số bản án và ngày tuyên án; họ, tên của thành viên Hội đồng xét xử,
Thư ký phiên tòa, Kiểm sát viên, người giám định,
người phiên dịch; tên, địa chỉ của người khởi kiện, người bị kiện, người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; cơ quan, tổ chức khởi kiện; người đại diện hợp
pháp, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; đối tượng khởi kiện;
số, ngày, tháng, năm của quyết định đưa vụ án ra xét xử; xét xử công khai hoặc
xét xử kín; thời gian và địa điểm xét xử;
b) Trong phần nội dung vụ án và nhận định của Tòa án phải ghi yêu cầu khởi
kiện của người khởi kiện, khởi kiện của cơ quan, tổ chức; đề nghị, yêu cầu độc
lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Tòa án phải căn cứ vào kết quả tranh tụng, các chứng cứ đã được xem xét tại
phiên tòa để phân tích, đánh giá, nhận định đầy đủ, khách quan về các tình tiết
của vụ án, những căn cứ pháp luật, án lệ (nếu
có) mà Tòa
án áp dụng để chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu, đề nghị của đương sự,
người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự và giải quyết các vấn đề
khác có liên quan;
c) Trong phần quyết định phải ghi rõ các căn cứ pháp luật, quyết định của
Hội đồng xét xử về từng vấn đề phải giải quyết trong vụ án, về áp dụng biện
pháp khẩn cấp tạm thời, về án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo đối với
bản án; trường hợp có quyết định phải thi hành ngay thì phải ghi rõ quyết định
đó.
3. Khi xét xử lại vụ án mà bản án, quyết định đã bị hủy một phần hoặc toàn
bộ theo quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm, Tòa án phải giải quyết vấn đề tài
sản, nghĩa vụ đã được thi hành theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật
nhưng bị hủy và ghi rõ trong bản án.
Hội đồng xét xử tuyên đọc bản án có mặt các đương sự. Trường hợp đương sự
có mặt tại phiên tòa nhưng vắng mặt khi tuyên án hoặc vắng mặt theo quy định
tại khoản 5 Điều 191 của Luật này thì Hội đồng xét xử vẫn tuyên đọc bản án.
Trường hợp xét xử kín theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Luật này thì Hội
đồng xét xử tuyên công khai phần mở đầu
và phần quyết
định của bản án.
Khi tuyên án, mọi người trong phòng xử án phải đứng dậy, trừ trường hợp đặc
biệt có sự đồng ý của Chủ tọa phiên tòa. Chủ tọa phiên tòa hoặc một thành viên
khác của Hội đồng xét xử tuyên đọc bản án và có thể giải thích thêm về việc thi
hành bản án và quyền kháng cáo.
Trường hợp có đương sự không biết tiếng Việt thì sau khi tuyên án, người
phiên dịch phải dịch cho họ nghe toàn bộ bản án sang ngôn ngữ mà họ biết.
Điều 196. Cấp, gửi trích lục bản án, bản
án
1. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày kết thúc phiên tòa, các đương
sự được Tòa án cấp trích lục bản án.
2. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày tuyên án, Tòa án phải cấp, gửi bản án
cho các đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp.
3. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị mà
không có kháng cáo, kháng nghị, Tòa án cấp, gửi bản án đã có hiệu lực pháp luật
cho đương sự, Viện kiểm sát cùng cấp, cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp, cơ
quan cấp trên trực tiếp của người bị kiện.
4. Bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp sơ thẩm được công bố
trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có), trừ bản án của Tòa án có chứa
thông tin quy định tại khoản 2 Điều 96 của Luật này.
Điều 197. Sửa chữa, bổ sung bản
án, quyết định của Tòa án
1. Sau khi bản án, quyết định của Tòa án được ban hành thì không được sửa
chữa, bổ sung, trừ trường hợp phát hiện lỗi rõ ràng về chính tả, về số liệu do
nhầm lẫn hoặc tính toán sai. Văn bản sửa chữa, bổ sung phải được Tòa án gửi
ngay cho đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp; trường hợp bản án, quyết định đã
có hiệu lực pháp luật còn phải gửi cho cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp, cơ
quan cấp trên trực tiếp của người bị kiện.
2. Việc sửa chữa, bổ sung bản án, quyết định quy định tại khoản 1 Điều này
do Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa phối hợp với các thành viên Hội đồng xét xử vụ
án hoặc Thẩm phán Chủ tọa phiên họp thực hiện. Trường hợp một trong những thành
viên của Hội đồng xét xử hoặc Thẩm phán Chủ tọa phiên họp không thể thực hiện
được việc sửa chữa, bổ sung thì việc sửa chữa, bổ sung do Chánh án Tòa án thực
hiện.
Chương XII
Điều 198. Nhận đơn khởi kiện và thụ lý
vụ án
Ngay sau khi nhận được đơn khởi kiện về danh sách cử tri, Chánh án Tòa án
phân công một Thẩm phán thụ lý ngay vụ án.
Điều 199. Thời hạn giải quyết vụ án
1. Trong thời hạn 02 ngày kể từ ngày thụ lý vụ án, Thẩm phán được phân công
thụ lý vụ án phải ra một trong các quyết định sau đây:
a) Quyết định đưa vụ án ra xét xử;
b) Đình chỉ vụ án và trả lại đơn khởi kiện.
2. Sau khi ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải gửi ngay quyết
định đó cho đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp.
3. Trong thời hạn 02 ngày kể từ ngày ra quyết định đưa vụ án ra xét
xử, Tòa án phải mở phiên tòa xét xử.
Điều 200. Sự có mặt của đương sự, đại
diện Viện kiểm sát
Đương sự, Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp phải có mặt tại phiên tòa,
nếu vắng mặt thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Điều 201. Áp dụng các quy định khác của
Luật này
Các quy định khác của Luật này được áp dụng để giải quyết vụ án hành chính
đối với khiếu kiện về danh sách cử tri trong trường hợp Chương này không quy
định, trừ các quy định về hoãn phiên tòa, gửi hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát
nghiên cứu trước khi mở phiên tòa và các quy định về thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm,
tái thẩm.
Điều 202. Hiệu lực của bản án, quyết
định đình chỉ vụ án của Tòa án
1. Bản án, quyết định đình chỉ vụ án giải quyết khiếu kiện về danh sách cử
tri có hiệu lực thi hành ngay. Đương sự không có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát
không có quyền kháng nghị.
2. Tòa án phải gửi ngay bản án, quyết định đình chỉ vụ án cho đương sự và
Viện kiểm sát cùng cấp.
Chương XIII
QUY ĐỊNH CHUNG VỀ THỦ TỤC PHÚC THẨM
Điều 203. Tính chất của xét xử
phúc thẩm
Xét xử phúc thẩm là việc Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án mà bản án,
quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc
kháng nghị.
Điều 204. Người có quyền kháng cáo
Đương sự hoặc người đại diện hợp pháp
của đương sự
có quyền kháng cáo bản án, quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ việc giải quyết vụ
án của Tòa án cấp sơ thẩm để yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết lại theo
thủ tục phúc thẩm.
1. Khi thực hiện quyền kháng cáo, người kháng cáo phải làm đơn kháng cáo.
Đơn kháng cáo phải có các nội dung chính sau đây:
a) Ngày, tháng, năm làm đơn kháng cáo;
b) Tên, địa chỉ; số điện thoại, fax, địa chỉ thư điện tử (nếu có) của người
kháng cáo;
c) Kháng cáo toàn bộ hoặc một phần của bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp
luật;
d) Lý do của việc kháng cáo và yêu cầu của người kháng cáo;
đ) Chữ ký hoặc điểm chỉ của người kháng cáo.
2. Người kháng cáo là cá nhân có năng lực
hành vi tố tụng hành chính đầy đủ có thể tự mình làm đơn kháng cáo. Tại mục tên,
địa chỉ của người kháng cáo trong đơn phải ghi họ, tên, địa chỉ của đương sự có
kháng cáo; đồng thời ở phần cuối đơn kháng
cáo, đương sự đó phải ký tên hoặc điểm chỉ.
3. Người kháng cáo quy định tại khoản 2 Điều
này nếu không tự mình kháng cáo thì có thể ủy
quyền cho
người khác đại diện cho mình kháng cáo. Tại mục tên, địa chỉ của người kháng
cáo trong đơn phải ghi họ, tên, địa chỉ của người đại diện theo ủy quyền có kháng cáo; họ, tên, địa chỉ của đương sự ủy quyền kháng cáo và văn bản ủy quyền;
đồng thời ở phần cuối đơn kháng cáo, người đại diện theo ủy quyền phải ký tên hoặc điểm chỉ.
4. Người đại diện theo pháp luật của đương sự là cơ quan, tổ chức có thể tự
mình làm đơn kháng cáo. Tại mục tên, địa chỉ của người kháng cáo trong đơn phải
ghi tên, địa chỉ của đương sự là cơ quan, tổ chức; họ, tên, chức vụ của người
đại diện theo pháp luật của đương sự là cơ quan, tổ chức; đồng thời ở phần cuối
đơn kháng cáo, người đại diện theo pháp luật phải ký tên và đóng dấu của cơ
quan, tổ chức đó, trường hợp tổ chức kháng cáo là doanh nghiệp thì việc sử dụng
con dấu theo quy định của Luật doanh nghiệp.
Trường hợp người đại diện theo pháp luật của đương sự là cơ quan, tổ chức
ủy quyền cho người khác đại diện cho cơ quan, tổ chức kháng cáo thì tại mục
tên, địa chỉ của người kháng cáo trong đơn phải ghi họ, tên, địa chỉ của người
đại diện theo ủy quyền kháng cáo; tên, địa chỉ của đương sự là cơ quan, tổ chức
ủy quyền; họ, tên, chức vụ của người đại diện theo pháp luật của đương sự là cơ
quan, tổ chức đó và văn bản ủy quyền; đồng thời ở phần cuối đơn kháng cáo,
người đại diện theo ủy quyền phải ký tên hoặc điểm chỉ.
5. Người đại diện theo pháp luật của đương sự là người chưa thành niên,
người mất năng lực hành vi dân sự có thể tự mình làm đơn kháng cáo. Tại mục
tên, địa chỉ của người kháng cáo trong đơn phải ghi họ, tên, địa chỉ của người
đại diện theo pháp luật; họ, tên, địa chỉ của đương sự là người chưa thành
niên, người mất năng lực hành vi dân sự; đồng thời ở phần cuối đơn kháng cáo,
người kháng cáo phải ký tên hoặc điểm chỉ.
Trường hợp người đại diện theo pháp luật của đương sự ủy quyền cho người
khác đại diện cho mình kháng cáo thì tại mục tên, địa chỉ của người kháng cáo
trong đơn phải ghi họ, tên, địa chỉ của người đại diện theo ủy quyền và văn bản
ủy quyền; họ, tên, địa chỉ của người đại diện theo pháp luật của đương sự ủy
quyền; họ, tên, địa chỉ của đương sự là người chưa thành niên, người mất năng
lực hành vi dân sự; đồng thời ở phần cuối đơn kháng cáo, người đại diện theo ủy
quyền phải ký tên hoặc điểm chỉ.
6. Việc ủy quyền quy định tại các khoản 3, 4 và 5 Điều này phải được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực hợp pháp, trừ
trường hợp văn bản ủy quyền đó được lập tại Tòa án có sự chứng kiến của Thẩm
phán hoặc người được Chánh án Tòa án phân công.
Trong văn bản ủy quyền phải có nội dung đương sự ủy quyền cho người đại diện
theo ủy quyền kháng cáo bản án, quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ
án của Tòa án cấp sơ thẩm.
7. Đơn kháng cáo phải được gửi cho Tòa án cấp sơ thẩm đã ra bản án, quyết
định bị kháng cáo. Kèm theo đơn kháng cáo người kháng cáo gửi tài liệu, chứng cứ bổ sung (nếu
có) để chứng minh cho kháng cáo của mình là có căn cứ và hợp pháp.
Trường hợp đơn kháng cáo được gửi cho Tòa án cấp phúc thẩm thì Tòa án đó
phải chuyển cho Tòa án cấp sơ thẩm để tiến hành các thủ tục cần thiết theo quy
định tại Điều 216 của Luật này.
1. Thời hạn kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày kể
từ ngày tuyên án; đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt
khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án
được giao cho họ hoặc được niêm yết.
Đối với trường hợp đương sự đã tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt khi Tòa án
tuyên án mà không có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo kể từ ngày tuyên
án.
2. Thời hạn kháng cáo đối với quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết
vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm là 07 ngày kể từ ngày người có quyền kháng cáo
nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết tại trụ sở Ủy ban
nhân dân cấp xã nơi họ cư trú hoặc nơi có trụ sở trong trường hợp người có
quyền kháng cáo là cơ quan, tổ chức.
3. Trường hợp đơn kháng cáo gửi qua dịch vụ bưu chính thì ngày kháng cáo
được tính căn cứ vào ngày tổ chức dịch vụ bưu chính nơi gửi đóng dấu ở phong
bì. Trường hợp người kháng cáo đang bị tạm giữ hoặc bị tạm giam thì ngày kháng
cáo là ngày làm đơn kháng cáo theo xác nhận của người có thẩm quyền của nhà tạm
giữ, trại tạm giam.
Điều 207. Kiểm tra đơn kháng cáo
1. Sau khi nhận được đơn kháng cáo, Tòa án cấp sơ thẩm phải kiểm tra tính
hợp lệ của đơn kháng cáo theo quy định tại Điều 205 của Luật này.
2. Trường hợp đơn kháng cáo quá hạn thì Tòa án cấp sơ thẩm yêu cầu người
kháng cáo trình bày rõ lý do và xuất trình tài liệu, chứng cứ (nếu có) để chứng
minh cho lý do nộp đơn kháng cáo quá hạn là chính đáng.
3. Trường hợp đơn kháng cáo chưa đúng quy định tại Điều 205 của Luật này
thì Tòa án cấp sơ thẩm yêu cầu người kháng cáo làm lại đơn kháng cáo hoặc sửa
đổi, bổ sung trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu của
Tòa án.
4. Tòa án trả lại đơn kháng cáo trong các trường hợp sau đây:
a) Người kháng cáo không có quyền kháng cáo;
b) Người kháng cáo không làm lại đơn kháng cáo hoặc không sửa đổi, bổ sung
đơn kháng cáo mặc dù đã có yêu cầu của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều
này;
c) Trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 209 của Luật này.
Điều 208. Kháng cáo quá hạn và
xem xét kháng cáo quá hạn
1. Kháng cáo quá thời hạn quy định tại Điều 206 của Luật này là kháng cáo
quá hạn. Sau khi nhận được đơn kháng cáo quá hạn, Tòa án cấp sơ thẩm phải gửi
đơn kháng cáo, bản tường trình của người kháng cáo về lý do kháng cáo quá hạn
và tài liệu, chứng cứ (nếu có) cho Tòa án cấp phúc thẩm.
2. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được đơn kháng cáo quá hạn và tài
liệu, chứng cứ kèm theo do Tòa án cấp sơ thẩm chuyển đến, Tòa án cấp phúc thẩm
thành lập Hội đồng gồm 03 Thẩm phán để xem xét kháng cáo quá hạn. Phiên họp xem
xét kháng cáo quá hạn có sự tham gia của Kiểm
sát viên Viện
kiểm sát cùng cấp và người kháng cáo quá hạn. Trường hợp Kiểm sát viên, người kháng cáo quá hạn vắng
mặt thì Tòa án vẫn tiến hành phiên họp.
3. Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có liên quan đến việc kháng cáo quá hạn, ý
kiến của đương sự kháng cáo quá hạn, đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Hội
đồng xét kháng cáo quá hạn quyết định theo đa số về việc chấp nhận hoặc không
chấp nhận việc kháng cáo quá hạn và phải ghi rõ lý do của việc chấp nhận hoặc
không chấp nhận trong quyết định. Tòa án cấp phúc thẩm phải gửi quyết định cho
người kháng cáo quá hạn, Viện kiểm sát cùng cấp và Tòa án cấp sơ thẩm; nếu Tòa
án cấp phúc thẩm chấp nhận việc kháng cáo quá hạn thì yêu cầu Tòa án cấp sơ
thẩm tiến hành các thủ tục quy định tại
các điều 209, 210 và 216 của Luật này.
Điều 209. Thông báo nộp tiền tạm
ứng án phí phúc thẩm
1. Sau khi chấp nhận đơn kháng cáo hợp lệ, Tòa án cấp sơ thẩm phải thông
báo cho người kháng cáo biết để họ nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo quy
định của pháp luật, nếu họ không thuộc trường hợp được miễn hoặc không phải nộp
tiền tạm ứng án phí phúc thẩm.
2. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được thông báo của Tòa án về việc
nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm, người kháng cáo phải nộp tiền tạm ứng án phí
và nộp cho Tòa án cấp sơ thẩm biên lai thu
tiền tạm ứng
án phí. Hết thời hạn này mà người kháng cáo không nộp tiền tạm ứng án phí phúc
thẩm thì được coi là họ từ bỏ việc kháng cáo.
Khi nhận biên lai thu tiền tạm ứng án phí của
người kháng cáo thì Tòa án phải cấp cho họ giấy xác nhận về việc nhận biên lai thu tiền tạm ứng án phí.
Trường hợp sau khi hết thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được thông báo của
Tòa án về việc nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm, người kháng cáo mới nộp cho
Tòa án biên lai thu tiền tạm ứng án phí phúc thẩm mà
không nêu rõ lý do thì Tòa án cấp sơ thẩm yêu cầu người kháng cáo trong thời
hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu
cầu của Tòa án phải có văn bản trình bày lý do chậm nộp biên lai thu tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nộp cho Tòa án cấp sơ thẩm
để đưa vào hồ sơ vụ án. Trường hợp này được xử lý theo thủ tục xem xét kháng
cáo quá hạn.
Điều 210. Thông báo về việc kháng
cáo
1. Khi gửi hồ sơ vụ án và đơn kháng cáo cho Tòa án cấp phúc thẩm, Tòa án
cấp sơ thẩm phải thông báo ngay bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp và
đương sự có liên quan đến kháng cáo biết về việc kháng cáo.
2. Đương sự được thông báo về việc kháng cáo có quyền gửi văn bản ghi ý
kiến của mình về nội dung kháng cáo cho Tòa án cấp phúc thẩm. Văn bản ghi ý
kiến của họ được đưa vào hồ sơ vụ án.
Điều 211. Kháng nghị của Viện
kiểm sát
Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp và cấp trên trực tiếp có quyền kháng
nghị bản án, quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án của
Tòa án cấp sơ thẩm để yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết lại theo thủ tục
phúc thẩm.
Điều 212. Quyết định kháng nghị
của Viện kiểm sát
1. Quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát phải bằng văn bản và có các nội
dung chính sau đây:
a) Ngày, tháng, năm ra quyết định kháng nghị và số của quyết định kháng
nghị;
b) Tên của Viện kiểm sát ra quyết định kháng nghị;
c) Kháng nghị toàn bộ hoặc một phần của bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu
lực pháp luật;
d) Lý do và căn cứ của việc kháng nghị và yêu cầu của Viện kiểm sát;
đ) Họ, tên của người ký quyết định kháng nghị và đóng dấu của Viện kiểm sát
ra quyết định kháng nghị.
2. Quyết định kháng nghị phải được gửi ngay cho Tòa án cấp sơ thẩm đã ra
bản án, quyết định bị kháng nghị để Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành các thủ tục
quy định tại Điều 216 của Luật này. Kèm theo quyết định kháng nghị là tài liệu,
chứng cứ bổ sung (nếu có) để chứng minh cho kháng nghị của Viện kiểm sát là có
căn cứ và hợp pháp.
1. Thời hạn kháng nghị đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm của Viện kiểm
sát cùng cấp là 15 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 30 ngày kể từ
ngày tuyên án.
2. Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp đối với quyết định tạm
đình chỉ, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm là 07
ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 10 ngày kể từ ngày Viện kiểm sát
cùng cấp nhận được quyết định.
3. Khi Tòa án nhận được quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát mà quyết
định kháng nghị đó đã quá thời hạn quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì
Tòa án cấp sơ thẩm yêu cầu Viện kiểm sát giải thích bằng văn bản và nêu rõ lý
do.
Điều 214. Thông báo về việc kháng nghị
1. Viện kiểm sát ra quyết định kháng nghị phải gửi ngay quyết định kháng
nghị cho đương sự có liên quan đến kháng nghị.
2. Người được thông báo về việc kháng nghị có quyền gửi văn bản ghi ý kiến
của mình về nội dung kháng nghị cho Tòa án cấp phúc thẩm. Văn bản ghi ý kiến
của họ được đưa vào hồ sơ vụ án.
Điều 215. Hậu quả của việc kháng cáo,
kháng nghị
1. Phần của bản án, quyết định của
Tòa án cấp sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thì chưa được đưa ra thi hành, trừ
trường hợp pháp luật quy định được thi hành ngay.
2. Bản án, quyết định hoặc phần của bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ
thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị thì có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết
thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Điều 216. Gửi hồ sơ vụ án và
kháng cáo, kháng nghị
Tòa án cấp sơ thẩm phải gửi hồ sơ vụ án, kháng cáo, kháng nghị và tài liệu,
chứng cứ kèm theo cho Tòa án cấp phúc thẩm trong thời hạn 05 ngày làm việc kể
từ ngày hết thời hạn kháng nghị và hết thời hạn kháng cáo, người kháng cáo nộp
cho Tòa án cấp sơ thẩm biên lai thu tiền tạm ứng án phí phúc
thẩm.
Điều 217. Thụ lý vụ án để xét xử
phúc thẩm
1. Ngay sau khi nhận được hồ sơ vụ án, đơn kháng cáo, quyết định kháng nghị
và tài liệu, chứng cứ kèm theo, Tòa án cấp phúc thẩm phải vào sổ thụ lý.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày thụ lý vụ án, Tòa án phải thông
báo bằng văn bản cho các đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp về việc Tòa án đã
thụ lý vụ án và thông báo trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có).
2. Chánh án Tòa án cấp phúc thẩm thành lập Hội đồng xét xử phúc thẩm và
phân công một Thẩm phán làm Chủ tọa phiên tòa, phiên họp.
Điều 218. Thay đổi, bổ sung, rút kháng
cáo, kháng nghị
1. Trường hợp chưa hết thời hạn kháng cáo theo quy định tại Điều 206 của Luật này thì người đã
kháng cáo có quyền thay đổi, bổ sung kháng cáo mà không bị giới hạn bởi phạm vi
kháng cáo ban đầu.
Trường hợp chưa hết thời hạn kháng nghị theo quy định tại Điều 213 của Luật
này thì Viện kiểm sát đã kháng nghị có quyền thay đổi, bổ sung kháng nghị mà
không bị giới hạn bởi phạm vi kháng nghị ban đầu.
2. Trước khi bắt đầu phiên tòa hoặc tại phiên tòa phúc thẩm, người kháng
cáo có quyền thay đổi, bổ sung kháng cáo, Viện kiểm sát ra quyết định kháng
nghị có quyền thay đổi, bổ sung kháng nghị, nhưng không được vượt quá phạm vi
kháng cáo, kháng nghị ban đầu, nếu thời hạn kháng cáo, kháng nghị đã hết.
3. Trước khi bắt đầu phiên tòa hoặc tại phiên tòa phúc thẩm, người kháng
cáo có quyền rút kháng cáo, Viện kiểm sát ra quyết định kháng nghị hoặc Viện
kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền rút kháng nghị.
Tòa án cấp phúc thẩm đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với phần của vụ án mà
người kháng cáo đã rút kháng cáo hoặc Viện kiểm sát đã rút kháng nghị.
Việc đình chỉ xét xử phúc thẩm trước khi mở phiên tòa do Thẩm phán Chủ tọa
phiên tòa quyết định, tại phiên tòa do Hội đồng xét xử quyết định.
4. Việc thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo, kháng nghị trước khi mở phiên tòa
phải được lập thành văn bản và gửi cho Tòa án
cấp phúc thẩm. Tòa án cấp phúc thẩm phải thông báo cho các đương sự về việc
thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo, kháng nghị;
thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp về việc thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo của đương sự.
Việc thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo, kháng nghị tại phiên tòa phải được
ghi vào biên bản phiên tòa.
Điều 219. Bổ sung chứng cứ mới
1. Trước khi mở phiên tòa hoặc tại phiên tòa phúc thẩm, người kháng cáo,
Viện kiểm sát kháng nghị, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến kháng cáo,
kháng nghị, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có quyền bổ
sung chứng cứ mới.
2. Tòa án cấp phúc thẩm tự mình hoặc theo yêu cầu của đương sự tiến hành
xác minh chứng cứ mới được bổ sung. Tòa án có thể thực hiện ủy thác xác minh
chứng cứ theo quy định tại Điều 92 của Luật này.
Điều 220. Phạm vi xét xử phúc
thẩm
Tòa án cấp phúc thẩm chỉ xem xét lại phần bản án, quyết định của Tòa án cấp
sơ thẩm có kháng cáo, kháng nghị hoặc có liên quan đến nội dung kháng cáo,
kháng nghị.
Điều 221. Thời hạn chuẩn bị xét xử phúc
thẩm
Trừ vụ án xét xử phúc thẩm theo thủ tục rút gọn hoặc vụ án có yếu tố nước
ngoài, thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm được quy định như sau:
1. Trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày thụ lý vụ án, Thẩm phán được phân công
làm Chủ tọa phiên tòa phải ra một trong các quyết định sau đây:
a) Tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án;
b) Đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án;
c) Đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm.
2. Đối với vụ án có tính chất phức tạp hoặc do trở ngại khách quan thì
Chánh án Tòa án cấp phúc thẩm có thể quyết định kéo dài thời hạn chuẩn bị xét
xử quy định tại khoản 1 Điều này, nhưng không được quá 30 ngày.
3. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa
án phải mở phiên tòa phúc thẩm; trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn này
là 60 ngày.
4. Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm phải được gửi cho Viện kiểm sát
cùng cấp và những người có liên quan đến kháng cáo, kháng nghị.
5. Trường hợp có quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án thì thời
hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm được tính lại kể từ ngày quyết định tiếp tục giải
quyết vụ án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
Điều 222. Thành phần Hội đồng xét
xử phúc thẩm
Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm 03 Thẩm phán, trừ trường hợp quy định tại
khoản 1 Điều 253 của Luật này.
Điều 223. Sự có mặt của thành
viên Hội đồng xét xử phúc thẩm và Thư ký phiên tòa
1. Phiên tòa chỉ được tiến hành khi có đủ thành viên Hội đồng xét xử và Thư
ký phiên tòa.
2. Trường hợp có Thẩm phán vắng mặt hoặc không thể tiếp tục tham gia xét xử
vụ án nhưng có Thẩm phán dự khuyết tham gia phiên tòa từ đầu thì người này được
thay thế Thẩm phán vắng mặt hoặc không thể tiếp tục tham gia xét xử vụ án.
3. Trường hợp không có Thẩm phán dự khuyết để thay thế thành viên Hội đồng
xét xử theo quy định tại khoản 2 Điều này thì phải hoãn phiên tòa.
4. Trường hợp Thư ký phiên tòa vắng mặt hoặc không thể
tiếp tục tham gia phiên tòa mà không có người thay thế thì phải hoãn phiên tòa.
Điều 224. Sự có mặt của Kiểm sát
viên
1. Kiểm sát viên được Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp phân công có nhiệm
vụ tham gia phiên tòa. Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa khi Kiểm sát
viên vắng mặt trong trường hợp Viện kiểm sát có kháng nghị.
2. Trường hợp Kiểm sát viên vắng mặt hoặc không thể tiếp tục tham gia phiên
tòa, nhưng có Kiểm sát viên dự khuyết tham gia phiên tòa từ đầu thì người này
được thay thế Kiểm sát viên vắng mặt tham gia phiên tòa xét xử vụ án.
1. Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất, người kháng cáo, người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng cáo, kháng nghị, người bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của họ phải có mặt; trường hợp có người vắng mặt thì Hội đồng
xét xử hoãn phiên tòa.
Tòa án thông báo cho người kháng cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan đến việc kháng cáo, kháng nghị và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của họ biết về việc hoãn phiên tòa.
2. Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, người kháng cáo, người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng cáo, kháng nghị, người bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của họ phải có mặt tại phiên tòa, nếu vắng mặt không vì sự
kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan thì xử lý như sau:
a) Đối với người kháng cáo mà không có người đại diện tham gia phiên tòa
thì bị coi là từ bỏ việc kháng cáo và Tòa án ra quyết định đình chỉ việc xét xử
phúc thẩm đối với bản án, quyết định hoặc phần bản
án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm có kháng cáo của người kháng cáo vắng
mặt;
b) Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến kháng cáo, kháng
nghị, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thì Tòa án tiến hành
xét xử vắng mặt họ.
3. Sự có mặt của người làm chứng, người giám định, người phiên dịch trong
phiên tòa phúc thẩm được thực hiện theo quy định tại các điều 159, 160 và 161
của Luật này.
4. Trường hợp người tham gia tố tụng có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt
thì Tòa án tiến hành phiên tòa phúc thẩm xét xử vắng mặt họ.
1. Hội đồng xét xử phúc thẩm không phải mở phiên tòa trong các trường hợp
sau đây:
a) Xét kháng cáo, kháng nghị quá hạn;
b) Trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 209 của Luật này; xét kháng cáo,
kháng nghị về phần án phí;
c) Xét kháng cáo, kháng nghị những quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm.
2. Trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, Hội đồng xét xử không phải
triệu tập đương sự, trừ trường hợp xét kháng cáo quá hạn quy định tại khoản 2
Điều 208 của Luật này hoặc cần nghe ý kiến của họ. Nếu người được triệu
tập vắng mặt thì Tòa án vẫn tiến hành phiên họp.
Điều 227. Giao nộp tài liệu,
chứng cứ tại Tòa án cấp phúc thẩm
1. Đương sự được quyền giao nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ trong giai đoạn
chuẩn bị xét xử phúc thẩm trong những trường hợp sau đây:
a) Những tài liệu, chứng cứ mà Tòa án cấp sơ thẩm đã yêu cầu giao nộp nhưng
đương sự không giao nộp được vì có lý do chính đáng;
b) Những tài liệu, chứng cứ mà Tòa án cấp sơ thẩm không yêu cầu đương sự
giao nộp hoặc đương sự không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ án
theo thủ tục sơ thẩm.
2. Thủ tục giao nộp tài liệu, chứng cứ được thực hiện theo quy định tại
Điều 83 của Luật này.
Điều 228. Tạm đình chỉ xét xử
phúc thẩm vụ án
1. Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án,
hậu quả của việc tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án và tiếp tục xét xử phúc
thẩm vụ án được thực hiện theo quy định tại Điều 141 và Điều 142 của Luật này.
2. Quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án có hiệu lực thi
hành ngay.
3. Quyết định tạm đình chỉ phải được gửi ngay cho đương sự và Viện kiểm sát
cùng cấp.
Điều 229. Đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án
1. Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án trong
các trường hợp sau đây:
a) Trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 143 của Luật này;
b) Trường hợp trả lại đơn kháng cáo theo quy định của Luật này mà Tòa án
cấp phúc thẩm đã thụ lý hồ sơ vụ án;
c) Người kháng cáo rút toàn bộ kháng cáo hoặc Viện kiểm sát rút toàn bộ kháng nghị;
d) Người kháng cáo được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn
vắng mặt, trừ trường hợp họ đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt hoặc trường hợp có
sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách
quan;
đ) Các trường hợp khác mà pháp luật có quy định.
2. Trường hợp người kháng cáo rút toàn bộ kháng cáo hoặc Viện kiểm sát rút
toàn bộ kháng nghị trước khi Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định đưa vụ án ra
xét xử phúc thẩm thì Thẩm phán được phân công làm Chủ tọa phiên tòa ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm;
trong trường hợp người kháng cáo rút toàn bộ kháng cáo, Viện kiểm sát rút toàn
bộ kháng nghị sau khi Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định đưa vụ án ra xét xử
phúc thẩm thì Hội đồng xét xử phúc thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử phúc
thẩm.
Trong các trường hợp này, bản án, quyết định sơ thẩm có hiệu lực pháp luật
từ ngày Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm.
3. Trường hợp người kháng cáo rút một phần kháng cáo hoặc Viện kiểm sát rút
một phần kháng nghị thì Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định về việc người kháng
cáo rút một phần kháng cáo, Viện kiểm sát rút một phần kháng nghị và quyết định
đình chỉ xét xử phần kháng cáo, kháng nghị đó trong bản án phúc thẩm.
4. Trường hợp Hội đồng xét xử đình chỉ việc xét xử phúc thẩm theo quy định
tại khoản 2 Điều này mà phát hiện bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm
thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 255 của Luật này thì
phải kiến nghị với Chánh án Tòa án có thẩm quyền để xem xét theo thủ tục giám
đốc thẩm.
5. Quyết định đình chỉ phải được gửi ngay cho đương sự và Viện kiểm sát
cùng cấp.
Điều 230. Quyết định áp dụng,
thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp phúc thẩm có quyền quyết định
áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định tại Chương
V của Luật này.
Điều 231. Chuyển hồ sơ vụ án cho
Viện kiểm sát
1. Tòa án cấp phúc thẩm phải chuyển hồ sơ vụ án cùng với quyết định đưa vụ
án ra xét xử cho Viện kiểm sát cùng cấp.
2. Thời hạn nghiên cứu hồ sơ của Viện kiểm sát cùng cấp là 15 ngày kể từ
ngày nhận được hồ sơ vụ án; hết thời hạn đó, Viện kiểm sát phải trả hồ sơ vụ án
cho Tòa án.
Điều 232. Hoãn phiên tòa phúc
thẩm
1. Các trường hợp phải hoãn phiên tòa:
a) Các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 161, khoản 3 và khoản 4 Điều
223, khoản 1 Điều 225 của Luật này;
b) Thành viên Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, Thư ký phiên tòa, người phiên
dịch bị thay đổi mà không có người thay thế ngay;
c) Người giám định bị thay đổi;
d) Cần phải xác minh, thu thập bổ sung tài liệu, chứng cứ mà không thể thực hiện được
ngay tại phiên tòa.
2. Trường hợp hoãn phiên tòa được quy định tại khoản 2 Điều 159 và khoản 2
Điều 160 của Luật này.
3. Thời hạn hoãn phiên tòa và quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm được thực
hiện theo quy định tại Điều 163 của Luật này.
THỦ TỤC BẮT ĐẦU PHIÊN TÒA
PHÚC THẨM
Điều 233. Thủ tục xét xử phúc
thẩm
1. Chuẩn bị khai mạc phiên tòa, thủ tục bắt đầu phiên tòa phúc thẩm, thủ
tục công bố tài liệu, xem xét vật chứng tại phiên tòa phúc thẩm, nghị án và
tuyên án, sửa chữa, bổ sung bản án phúc thẩm được thực hiện tương tự thủ tục
xét xử sơ thẩm theo quy định của Luật này.
2. Sau
khi kết thúc thủ tục bắt đầu phiên tòa phúc thẩm thì một thành viên của Hội
đồng xét xử phúc thẩm công bố nội dung vụ án, quyết định của bản án sơ thẩm và
nội dung kháng cáo, kháng nghị.
3. Chủ tọa phiên tòa hỏi về vấn đề sau đây:
a) Hỏi người khởi kiện có rút đơn khởi kiện hay không;
b) Hỏi người kháng cáo, Kiểm sát viên có thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo,
kháng nghị hay không;
c) Hỏi đương sự có thống nhất được với nhau về việc giải quyết vụ án hay
không.
4. Trường hợp người kháng cáo rút một phần kháng cáo, Kiểm sát viên
rút một phần kháng nghị thì Tòa án chấp nhận việc rút kháng cáo, kháng nghị.
Trường hợp người kháng cáo, Kiểm sát viên bổ sung nội dung mới không thuộc phạm
vi kháng cáo, kháng nghị ban đầu thì Tòa án không xem xét nội dung đó.
5. Việc hỏi đương sự, Kiểm sát viên về việc thay đổi, bổ sung, rút kháng
cáo, kháng nghị tại phiên tòa được Chủ tọa phiên tòa thực hiện như sau:
a) Hỏi người khởi kiện có rút đơn khởi kiện hay không;
b) Hỏi người kháng cáo, Kiểm sát viên có thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo,
kháng nghị hay không.
6. Trường hợp Viện kiểm sát kháng nghị thì Kiểm sát viên phát biểu quan
điểm kháng nghị của Viện kiểm sát đối với quyết định của bản án sơ thẩm bị
kháng nghị.
Điều 234. Người khởi kiện rút đơn
khởi kiện trước khi mở phiên tòa hoặc tại phiên tòa phúc thẩm
1. Trước khi mở phiên tòa hoặc tại phiên tòa phúc thẩm mà người khởi kiện
rút đơn khởi kiện thì Hội đồng xét xử phúc thẩm phải hỏi người bị kiện có đồng
ý hay không và tùy từng trường hợp mà giải quyết như sau:
a) Người bị kiện không đồng ý thì không chấp nhận việc rút đơn khởi kiện
của người khởi kiện;
b) Đương sự đồng ý thì chấp nhận việc rút đơn khởi kiện của người khởi
kiện. Hội đồng xét xử phúc thẩm ra quyết định hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ
giải quyết vụ án. Trường hợp này, đương sự vẫn phải chịu án phí sơ thẩm theo
quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm và phải chịu một nửa án phí phúc thẩm theo
quy định của pháp luật.
2. Trường hợp Hội đồng xét xử phúc thẩm ra quyết định đình chỉ giải quyết
vụ án thì người khởi kiện có quyền khởi kiện lại vụ án theo thủ tục do Luật này
quy định nếu thời hiệu khởi kiện vẫn còn.
1. Trường hợp người bị kiện sửa đổi, hủy bỏ quyết định hành chính, quyết
định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử
lý vụ việc cạnh tranh hoặc dừng, khắc phục hành vi hành chính bị khởi kiện liên
quan đến quyền, nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân và người khởi kiện đồng
ý rút đơn khởi kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập
đồng ý rút yêu cầu thì Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án, quyết định sơ thẩm
và đình chỉ giải quyết vụ án; trong quyết định của bản án phải ghi rõ cam kết
của đương sự để bảo đảm thi hành án hành chính.
2. Trường hợp người bị kiện sửa đổi, hủy bỏ quyết định hành chính, quyết
định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử
lý vụ việc cạnh tranh hoặc dừng, khắc phục hành vi hành chính bị khởi kiện mà
việc sửa đổi, hủy bỏ quyết định hành chính, dừng, khắc phục hành vi hành chính
đó liên quan đến quyền, nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác và họ chưa
được tham gia tố tụng tại cấp sơ thẩm thì:
a) Nếu người khởi kiện rút đơn khởi kiện và người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan có yêu cầu độc lập rút yêu cầu thì Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản
án, quyết định sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án. Trường hợp này cơ quan, tổ
chức, cá nhân có quyền, nghĩa vụ liên quan đến việc sửa đổi, hủy bỏ quyết định
hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý
vụ việc cạnh tranh hoặc dừng, khắc phục hành vi hành chính bị khởi kiện có
quyền khởi kiện vụ án hành chính theo thủ tục chung;
b) Nếu người khởi kiện không rút đơn khởi kiện và người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan có yêu cầu độc lập không rút yêu cầu thì Hội đồng xét xử phúc thẩm
hủy bản án, quyết định sơ thẩm để xét xử sơ thẩm lại. Trường hợp này, Tòa án
cấp sơ thẩm phải đưa cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền, nghĩa vụ liên quan đến
việc sửa đổi, hủy bỏ quyết định hành chính, quyết định kỷ luật luật buộc thôi
việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh hoặc dừng, khắc
phục hành vi hành chính bị khởi kiện vào tham gia tố tụng với tư cách là người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
TRANH TỤNG TẠI PHIÊN TÒA
PHÚC THẨM
Điều 236. Nội dung và phương thức
tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm
Nội dung và phương thức tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm được thực hiện
như quy định tại Điều 175 của Luật này.
Điều 237. Trình bày của đương sự,
Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm
1. Trường hợp có đương sự vẫn giữ kháng cáo hoặc Viện kiểm sát vẫn giữ
kháng nghị thì việc trình bày tại phiên tòa phúc thẩm được tiến hành như sau:
a) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người kháng cáo trình bày về
nội dung kháng cáo và các căn cứ của việc kháng cáo. Người kháng cáo có quyền
bổ sung ý kiến.
Trường hợp tất cả đương sự đều kháng cáo thì việc trình bày được thực hiện
theo thứ tự người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện kháng
cáo và người khởi kiện; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị
kiện kháng cáo và người bị kiện; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan kháng cáo và người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan;
b) Trường hợp chỉ có Viện kiểm sát kháng nghị thì Kiểm sát viên trình bày
về nội dung kháng nghị và các căn cứ của việc kháng nghị. Trường hợp vừa có
kháng cáo, vừa có kháng nghị thì đương sự trình bày về nội dung kháng cáo và
các căn cứ của việc kháng cáo trước, sau đó Kiểm sát viên trình bày về
nội dung kháng nghị và các căn cứ của việc kháng nghị;
c) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự khác có liên quan
đến kháng cáo, kháng nghị trình bày ý kiến về nội dung kháng cáo, kháng nghị.
Đương sự có quyền bổ sung ý kiến.
2. Trường hợp đương sự không có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
mình thì họ tự trình bày ý kiến về nội dung kháng cáo, kháng nghị và đề nghị
của mình.
3. Tại phiên tòa phúc thẩm, đương sự, Kiểm sát viên có quyền xuất trình bổ
sung tài liệu, chứng cứ.
Điều 238. Tạm ngừng phiên tòa
phúc thẩm
Việc tạm ngừng phiên tòa phúc thẩm được thực hiện theo quy định tại Điều
187 của Luật này.
Điều 239. Tranh luận tại phiên tòa phúc thẩm
1. Tại phiên tòa phúc thẩm, đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của đương sự chỉ được tranh luận về những vấn đề thuộc phạm vi xét xử phúc
thẩm và đã được hỏi tại phiên tòa phúc thẩm.
2. Trình tự phát biểu khi tranh luận được thực hiện như sau:
a) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người kháng cáo trình bày.
Người kháng cáo có quyền bổ sung ý kiến;
b) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự tranh luận, đối đáp.
Đương sự có quyền bổ sung ý kiến;
c) Các đương sự đối đáp theo sự điều khiển của Chủ tọa phiên tòa;
d) Khi xét thấy cần thiết, Hội đồng xét xử có thể yêu cầu các bên đương sự
tranh luận bổ sung về những vấn đề cụ thể để làm căn cứ giải quyết vụ án.
3. Trình
tự tranh luận đối với kháng nghị của Viện kiểm sát được thực hiện như sau:
a) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phát biểu về tính
hợp pháp, tính có căn cứ đối với kháng nghị của Viện kiểm sát. Đương sự có
quyền bổ sung ý kiến;
b) Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về những vấn đề mà người bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của đương sự, đương sự đã nêu.
4. Trường hợp đương sự không có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
mình thì họ tự mình tranh luận.
5. Trường hợp vắng mặt một trong các bên đương sự và người tham gia tố tụng
khác thì Chủ tọa phiên tòa phải công bố lời khai của họ để trên cơ sở đó các
đương sự có mặt tại phiên tòa tranh luận và đối đáp.
Điều 240. Phát biểu của Kiểm sát
viên tại phiên tòa phúc thẩm
Sau khi những người tham gia tố tụng phát biểu tranh luận và đối đáp xong,
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật
trong quá trình giải quyết vụ án hành chính ở giai đoạn phúc thẩm.
Ngay sau khi kết thúc phiên tòa, Kiểm sát viên phải
gửi văn bản phát biểu ý kiến cho Tòa án để lưu vào hồ sơ vụ án.
Điều 241. Thẩm quyền của Hội đồng
xét xử phúc thẩm
1. Bác kháng cáo, kháng nghị và giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
2. Sửa một phần hoặc toàn bộ bản án sơ thẩm nếu Tòa án cấp sơ thẩm quyết
định không đúng pháp luật trong các trường hợp sau đây:
a) Việc chứng minh, thu thập chứng cứ đã thực hiện đầy đủ và theo đúng quy
định tại Chương VI của Luật này;
b) Việc chứng minh, thu thập chứng cứ chưa thực hiện đầy đủ ở cấp sơ thẩm
nhưng tại phiên tòa phúc thẩm đã được bổ sung đầy đủ.
3. Hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm xét xử
lại trong trường hợp có vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng hoặc phải thu
thập chứng cứ mới quan trọng mà Tòa án cấp phúc thẩm không thể bổ sung ngay
được.
4. Hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ việc giải quyết vụ án nếu trong quá trình
xét xử sơ thẩm có một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 143 của
Luật này.
5. Đình chỉ xét xử phúc thẩm, nếu việc xét xử phúc thẩm vụ án cần phải có
mặt người kháng cáo và họ đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng
mặt. Trường hợp này bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật.
6. Trường hợp cần phải yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền xem xét, xử lý
văn bản hành chính quy định tại khoản 1 Điều 6 của Luật này thì Hội đồng xét xử
có quyền tạm ngừng phiên tòa để chờ kết quả giải quyết của cơ quan, người có
thẩm quyền và báo cáo Chánh án Tòa án có văn bản yêu cầu cơ quan, người có thẩm
quyền xem xét, xử lý văn bản hành chính đó. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày
nhận được văn bản của Tòa án thì cơ quan, người có thẩm quyền phải trả lời bằng
văn bản về kết quả xử lý cho Tòa án biết để làm căn cứ cho việc giải quyết vụ
án. Quá thời hạn này mà không nhận được văn bản trả lời của cơ quan, người có
thẩm quyền thì Hội đồng xét xử có quyền áp dụng văn bản của cơ quan quản lý nhà
nước cấp trên để giải quyết vụ án.
7. Trường hợp phát hiện văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến việc giải quyết vụ án hành chính có dấu hiệu trái với Hiến
pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên thì Hội đồng xét xử đề nghị Chánh án Tòa án đang giải
quyết vụ án đó thực hiện việc kiến nghị hoặc đề nghị người có thẩm quyền theo quy định
tại Điều 112
của Luật này
thực hiện việc kiến nghị. Trường hợp này, Hội đồng xét xử tạm ngừng phiên tòa để
chờ ý kiến của Chánh án Tòa án hoặc tạm đình chỉ giải quyết vụ án khi có văn
bản kiến nghị của Chánh án Tòa án có thẩm quyền.
1. Hội đồng xét xử phúc thẩm ra bản án phúc thẩm nhân danh nước Cộng hoà xã
hội chủ nghĩa Việt Nam.
2. Bản án phúc thẩm gồm có:
a) Phần mở đầu;
b) Phần nội dung vụ án, kháng cáo, kháng nghị và nhận định;
c) Phần quyết định.
3. Trong phần mở đầu phải ghi rõ tên của Tòa án xét xử phúc thẩm; số và
ngày thụ lý vụ án; số bản án và ngày tuyên án; họ, tên của các thành viên Hội
đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, Kiểm sát viên, người
giám định, người phiên dịch; tên, địa chỉ của người khởi kiện, người bị kiện,
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, cơ quan, tổ chức khởi kiện; người đại
diện hợp pháp, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ; người kháng cáo,
Viện kiểm sát kháng nghị; xét xử công khai hoặc xét xử kín; thời gian và địa
điểm xét xử.
4. Trong phần nội dung vụ án, kháng cáo, kháng nghị và nhận định phải tóm
tắt nội dung vụ án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm; nội dung kháng cáo,
kháng nghị.
Tòa án phải căn cứ vào kết quả tranh tụng, các chứng cứ đã được xem xét tại
phiên tòa để phân tích, đánh giá, nhận định về kháng cáo, kháng nghị, các tình tiết của vụ án, việc giải quyết, xét xử của Tòa
án cấp sơ thẩm, những căn cứ pháp luật, án lệ (nếu có) mà Tòa án áp dụng để
chấp nhận hoặc không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị và giải quyết các vấn đề
khác có liên quan.
5. Trong phần quyết định phải ghi rõ các căn cứ pháp luật, quyết định của
Hội đồng xét xử về từng vấn đề phải giải quyết trong vụ án, về áp dụng biện
pháp khẩn cấp tạm thời, về án phí sơ thẩm, phúc thẩm, chi phí tố tụng (nếu có).
6. Khi xét xử lại vụ án mà bản án, quyết định đã bị hủy một phần hoặc toàn
bộ theo quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm, Tòa án phải giải quyết vấn đề tài
sản, nghĩa vụ đã được thi hành theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật
nhưng bị hủy.
7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Điều 243. Thủ tục phúc thẩm đối với
quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị
1. Tòa án cấp phúc thẩm phải tổ chức phiên họp và ra quyết định giải quyết
việc kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được kháng
cáo, kháng nghị.
2. Một thành viên Hội đồng xét xử phúc thẩm xét quyết định bị kháng cáo,
kháng nghị trình bày tóm tắt nội dung quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng
nghị, nội dung của kháng cáo, kháng nghị và tài liệu, chứng cứ kèm theo (nếu
có).
3. Đương sự kháng cáo được mời tham gia phiên họp trình bày ý kiến về việc
kháng cáo, nếu vắng mặt thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành phiên họp.
4. Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp tham gia phiên họp phúc thẩm và
phát biểu ý kiến về việc giải quyết kháng cáo, kháng nghị trước khi Hội đồng
xét xử phúc thẩm ra quyết định. Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên họp khi
Kiểm sát viên vắng mặt trong trường hợp Viện kiểm sát có kháng nghị.
5. Khi xem xét quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị,
Hội đồng xét xử phúc thẩm có quyền:
a) Giữ nguyên quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm;
b) Sửa quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm;
c) Hủy quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án
cấp sơ thẩm để tiếp tục giải quyết vụ án.
6. Quyết định phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.
Điều 244. Gửi bản án, quyết định phúc thẩm
1. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày ra bản án, quyết định phúc thẩm, Tòa
án cấp phúc thẩm phải gửi bản án, quyết định phúc thẩm cho các đương sự, Viện
kiểm sát và Tòa án đã giải quyết vụ án ở cấp sơ thẩm, Viện kiểm sát cùng cấp,
cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền và cơ quan cấp trên trực tiếp của
người bị kiện.
2. Bản án phúc thẩm được Tòa án cấp phúc thẩm công bố trên Cổng thông tin
điện tử của Tòa án (nếu có), trừ bản án của Tòa án có chứa thông tin quy định
tại khoản 2 Điều 96 của Luật này.
GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÀNH CHÍNH THEO
THỦ TỤC RÚT GỌN TẠI TÒA ÁN
GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÀNH CHÍNH THEO THỦ TỤC RÚT GỌN TẠI
TÒA ÁN CẤP SƠ THẨM
Điều 245. Phạm vi áp dụng thủ tục
rút gọn
1. Thủ tục rút gọn trong tố tụng hành chính là thủ tục giải quyết vụ án
hành chính khi có các điều kiện theo quy định của Luật này nhằm rút ngắn về
thời gian và thủ tục so với thủ tục giải quyết vụ án hành chính thông thường
nhưng vẫn bảo đảm giải quyết vụ án đúng pháp luật.
2. Tòa án áp dụng những quy định của Chương này, đồng thời áp dụng những
quy định khác của Luật này không trái với những quy định của Chương này để giải
quyết vụ án theo thủ tục rút gọn.
3. Trường hợp luật khác có quy định về khiếu kiện hành chính áp dụng thủ
tục rút gọn thì thực hiện theo quy định của Luật này.
Điều 246. Điều kiện áp dụng thủ
tục rút gọn
1. Vụ án
được giải quyết theo thủ tục rút gọn khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Vụ án có tình tiết đơn giản, tài liệu, chứng cứ đầy đủ, rõ ràng, bảo đảm
đủ căn cứ giải quyết vụ án và Tòa án không phải thu thập tài liệu, chứng cứ;
b) Các đương sự đều có địa chỉ nơi cư trú, trụ sở rõ ràng;
c) Không có đương sự cư trú ở nước ngoài, trừ trường hợp đương sự ở
nước ngoài có thỏa thuận với đương sự ở Việt Nam đề nghị Tòa án giải quyết theo
thủ tục rút gọn.
2. Trong quá trình giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn, Tòa án ra quyết
định chuyển vụ án sang giải quyết theo thủ tục thông thường nếu thuộc một trong những trường hợp sau đây:
a) Phát sinh các tình tiết mới mà các đương sự không thống nhất và cần phải
xác minh, thu thập thêm tài liệu, chứng cứ hoặc cần phải tiến hành giám định;
b) Cần phải định giá tài sản nếu các đương sự không thống
nhất về giá;
c) Cần phải áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;
d) Phát sinh người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
đ) Phát sinh yêu cầu độc lập;
e) Phát sinh đương sự cư trú ở nước ngoài mà cần phải thực hiện ủy thác tư
pháp, trừ trường hợp quy định tại điểm
c khoản 1 Điều này.
3. Trường hợp chuyển vụ án sang giải quyết theo thủ tục thông thường thì
thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án được tính lại kể từ ngày ra quyết định chuyển vụ
án sang giải quyết theo thủ tục thông thường.
Điều 247. Quyết định đưa vụ án ra
giải quyết theo thủ tục rút gọn
1. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày thụ lý vụ án theo quy định tại Điều
125 của Luật này thì Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án phải ra quyết
định đưa vụ án ra giải quyết theo thủ tục rút gọn và mở phiên tòa xét xử trong
thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định.
2. Quyết định đưa vụ án ra giải quyết theo thủ tục rút gọn phải có các nội
dung chính sau đây:
a) Ngày, tháng, năm ra quyết định;
b) Tên Tòa án ra quyết định;
c) Vụ án được đưa ra giải quyết theo thủ tục rút gọn;
d) Tên, địa chỉ; số fax, thư điện tử (nếu có) của người khởi
kiện, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
đ) Họ, tên Thẩm phán, Thư ký phiên tòa, Kiểm sát viên; họ, tên Thẩm phán,
Kiểm sát viên dự khuyết (nếu có);
e) Ngày, giờ, tháng, năm, địa điểm mở phiên tòa;
g) Xét xử công khai hoặc xét xử kín;
h) Họ, tên những người được triệu tập tham gia phiên tòa.
3. Quyết định đưa vụ án ra giải quyết theo thủ tục rút gọn phải được gửi
cho đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp cùng hồ sơ vụ án ngay sau khi ra quyết
định. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án, Viện
kiểm sát nghiên cứu và trả lại hồ sơ vụ án cho Tòa án.
1. Trong thời hạn 03 ngày
làm việc kể từ ngày nhận được quyết định đưa vụ án ra giải quyết theo thủ tục rút gọn
của Tòa án, đương sự có quyền khiếu nại, Viện
kiểm sát cùng cấp có quyền kiến nghị với Chánh án Tòa án đã ra quyết định.
2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được khiếu nại, kiến
nghị về quyết
định đưa vụ án ra giải quyết theo thủ tục rút gọn, Chánh án Tòa án phải ra một
trong các quyết định sau đây:
a) Giữ nguyên quyết định đưa vụ án ra giải quyết theo thủ tục rút gọn;
b) Hủy quyết
định đưa vụ án ra giải quyết theo thủ tục rút gọn và chuyển vụ án sang giải
quyết theo thủ tục thông thường.
3. Quyết định giải quyết khiếu nại, kiến nghị của Chánh án Tòa án là quyết
định cuối cùng và phải được gửi ngay cho đương sự, Viện kiểm sát cùng cấp.
Điều 249. Phiên tòa theo thủ tục
rút gọn
1. Việc xét xử sơ thẩm vụ án hành chính theo thủ tục rút gọn do một Thẩm
phán thực hiện.
2. Thẩm phán tiến hành thủ tục khai mạc phiên tòa theo quy định tại
Điều 169 của Luật này.
3. Sau khi khai mạc phiên tòa, Thẩm phán tiến hành đối thoại, trừ trường
hợp không tiến hành đối thoại được theo quy định tại Điều 135 của Luật này.
Trường hợp đương sự thống nhất được với nhau về việc giải quyết vụ án thì Thẩm
phán lập biên bản đối thoại thành và ra quyết định công nhận kết quả đối thoại thành theo quy định tại Điều
140 của Luật này. Trường hợp đương sự không thống nhất được với nhau về việc
giải quyết vụ án thì Thẩm phán tiến hành xét xử.
Việc trình bày, tranh luận, đối đáp, đề xuất quan điểm về việc giải quyết
vụ án được thực hiện theo quy định tại Mục 3 Chương XI của Luật này.
4. Trường hợp tại phiên tòa mà phát sinh tình tiết mới quy định tại khoản 2
Điều 246 của Luật này làm cho vụ án không còn đủ điều kiện để áp dụng thủ tục rút gọn thì Thẩm
phán xem xét, quyết định chuyển vụ án sang giải quyết theo thủ tục thông thường
và thời hạn chuẩn bị xét xử được tính lại theo quy định tại khoản 3 Điều
246 của Luật này.
Điều 250. Hiệu lực của bản án,
quyết định theo thủ tục rút gọn
1. Bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án theo thủ tục rút gọn có thể bị
kháng cáo, kháng nghị để yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết lại theo thủ
tục rút gọn phúc thẩm.
2. Bản án, quyết định theo thủ tục rút gọn có thể bị kháng nghị theo thủ
tục giám đốc thẩm, tái thẩm theo quy định của Luật này.
GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÀNH CHÍNH THEO THỦ TỤC RÚT GỌN TẠI
TÒA ÁN CẤP PHÚC THẨM
Điều 251. Thời hạn kháng cáo,
kháng nghị đối với bản án, quyết định theo thủ tục rút gọn
1. Thời hạn kháng cáo đối với bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm
theo thủ tục rút gọn là 07 ngày kể từ ngày tuyên án. Trường hợp đương sự không
có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án, quyết định
được giao cho họ hoặc được niêm yết.
2. Thời hạn kháng nghị đối với bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm
theo thủ tục rút gọn của Viện kiểm sát cùng cấp là 07 ngày, của Viện kiểm sát
cấp trên trực tiếp là 10 ngày kể từ ngày nhận được bản án, quyết định.
Điều 252. Thời hạn chuẩn bị xét
xử phúc thẩm
1. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày thụ lý vụ án, tùy từng trường hợp, Tòa
án cấp phúc thẩm ra một trong các quyết định sau đây:
a) Tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án;
b) Đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án;
c) Đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm.
2. Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm phải có nội dung quy định tại
khoản 2 Điều 247 của Luật này.
3. Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm phải được gửi cho những người
có liên quan đến kháng cáo, kháng nghị và Viện kiểm sát cùng cấp kèm theo hồ sơ
vụ án. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án, Viện
kiểm sát nghiên cứu và trả lại hồ sơ vụ án cho Tòa án.
Trường hợp Tòa án ra quyết định chuyển vụ án sang giải quyết theo thủ tục
thông thường theo quy định tại khoản 2 Điều 246 của Luật này thì thời
hạn chuẩn bị
xét xử vụ án được tính theo quy định tại khoản 3 Điều
246 của Luật này.
4. Trường hợp có quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án thì thời
hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm được tính lại kể từ ngày quyết định hủy bỏ, quyết định tạm đình chỉ vụ án của Tòa án có hiệu lực pháp
luật.
1. Việc
xét xử phúc thẩm vụ án hành chính theo thủ tục rút gọn do một Thẩm phán thực
hiện. Trong thời hạn 15 ngày
kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán phải mở phiên tòa phúc thẩm.
2. Phiên tòa có mặt các đương sự, Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp.
Trường hợp Kiểm sát viên vắng mặt thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử, trừ
trường hợp Viện kiểm sát có kháng nghị phúc thẩm.
Trường hợp đương sự đã được triệu tập hợp lệ mà vắng mặt không có lý do
chính đáng hoặc đã có đơn xin xét xử vắng mặt thì Thẩm phán vẫn tiến hành phiên
tòa.
3. Thẩm phán trình bày tóm tắt nội dung bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng
cáo, kháng nghị, nội dung của kháng cáo, kháng nghị và tài liệu, chứng
cứ kèm theo (nếu có).
4. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
đương sự trình bày, đương sự bổ sung ý kiến về nội dung kháng cáo, kháng nghị,
tranh luận, đối đáp, đề xuất quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án.
5. Sau khi kết thúc việc tranh luận và đối đáp, Kiểm sát viên phát biểu ý
kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết
vụ án hành chính ở giai đoạn phúc thẩm.
6. Khi xem xét bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm bị kháng cáo,
kháng nghị, Thẩm phán có các quyền sau đây:
a) Giữ nguyên bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm;
b) Sửa bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm;
c) Hủy bản án, quyết định của Tòa án cấp
sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm để giải quyết lại vụ án
theo thủ tục rút gọn hoặc theo thủ tục thông thường nếu không còn đủ các điều
kiện giải quyết theo thủ tục rút gọn;
d) Hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án;
đ) Đình chỉ xét xử phúc thẩm và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
7. Bản án, quyết định phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra bản án, quyết định.
Điều 254. Tính chất của giám đốc
thẩm
Giám đốc thẩm là xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp
luật nhưng bị kháng nghị giám đốc thẩm khi có căn cứ quy định tại Điều 255 của
Luật này.
Điều 255. Căn cứ, điều kiện để kháng
nghị theo thủ tục giám đốc thẩm
1. Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị
theo thủ tục giám đốc thẩm khi có một trong những căn cứ sau đây:
a) Kết luận trong bản án, quyết định không phù hợp với những tình tiết
khách quan của vụ án gây thiệt hại đến quyền,
lợi ích hợp
pháp của đương sự;
b) Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng làm cho đương sự không thực hiện
được quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình, dẫn đến quyền, lợi ích hợp pháp của họ
không được bảo vệ theo đúng quy định của pháp luật;
c) Có sai lầm trong việc áp dụng pháp luật dẫn đến việc ra bản án, quyết định không đúng gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, lợi ích công cộng, lợi ích
của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của
người thứ ba.
2. Người có thẩm quyền kháng nghị quy định tại Điều 260 của Luật này kháng
nghị bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật khi có một trong
các căn cứ quy định tại khoản 1 Điều này và có đơn của người đề nghị theo quy
định tại Điều 257 và Điều 258 của Luật này, trừ trường hợp xâm phạm đến lợi ích
công cộng, lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của
người thứ ba thì không cần thiết phải có đơn đề nghị.
1. Trong thời hạn 01 năm kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp
luật, nếu phát hiện có một trong các căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 255 của Luật này thì đương sự có
quyền đề nghị bằng văn bản với những người có thẩm quyền kháng nghị quy định tại Điều 260 của Luật này để xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc
thẩm.
2. Trường hợp Tòa án, Viện kiểm sát hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác phát hiện có một trong các căn cứ quy định
tại khoản 1 Điều 255 của Luật này thì phải thông báo bằng văn bản cho những
người có thẩm quyền kháng nghị quy định tại
Điều 260 của Luật này.
3. Chánh án Tòa án cấp tỉnh kiến nghị với Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao hoặc Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao kiến nghị Chánh án
Tòa án nhân dân tối cao xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án,
quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nếu phát hiện có một trong các
căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 255 của Luật này.
1. Đơn đề nghị phải có các nội dung chính sau đây:
a) Ngày, tháng, năm làm đơn đề nghị;
b) Tên, địa chỉ của người đề nghị;
c) Tên bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật đề nghị xem
xét theo thủ tục giám đốc thẩm;
d) Lý do và căn cứ đề nghị, yêu cầu của người đề nghị;
đ) Người đề nghị là cá nhân phải ký tên hoặc điểm chỉ; người đề nghị là cơ
quan, tổ chức thì người đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó phải ký tên
và đóng dấu vào phần cuối đơn. Trường hợp tổ chức đề nghị là doanh nghiệp thì
việc sử dụng con dấu được thực hiện theo quy định của Luật doanh nghiệp.
2. Người đề nghị phải gửi đơn kèm theo bản án, quyết định của Tòa án đã có
hiệu lực pháp luật; tài liệu, chứng cứ (nếu có) để chứng minh cho những yêu cầu của mình là có căn cứ.
3. Đơn đề nghị và tài liệu, chứng cứ được gửi cho người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm quy định tại
Điều 260 của Luật này.
1. Tòa án, Viện kiểm sát nhận đơn đề nghị do đương sự nộp trực tiếp tại Tòa
án, Viện kiểm sát hoặc gửi qua dịch vụ bưu chính và phải ghi vào sổ nhận đơn, cấp giấy xác nhận đã nhận
đơn cho đương sự. Ngày gửi đơn được tính từ ngày đương sự nộp đơn tại Tòa án,
Viện kiểm sát hoặc ngày có dấu của tổ
chức dịch vụ bưu chính nơi gửi.
Trường hợp nhận được thông báo, kiến nghị của cơ quan, tổ chức, cá nhân quy
định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 256 của Luật này thì Tòa án, Viện kiểm sát
phải vào sổ thụ lý để giải quyết.
2. Tòa án, Viện kiểm sát thụ lý đơn đề nghị khi có đủ nội dung và tài liệu
kèm theo quy định tại Điều 257 của Luật này. Tòa án, Viện kiểm sát có thể yêu cầu đương sự bổ sung nội dung đơn và tài
liệu trong trường hợp chưa đầy đủ. Trường hợp đương sự không thực hiện theo yêu
cầu bổ sung thì Tòa án, Viện kiểm sát thông
báo bằng văn bản trả lại đơn đề nghị cho đương sự và ghi chú vào sổ nhận đơn.
3. Người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ
tục giám đốc thẩm phân công người có trách nhiệm tiến hành nghiên cứu đơn,
thông báo, kiến nghị, hồ sơ vụ án và báo cáo người có thẩm quyền kháng nghị xem xét, quyết định. Trường hợp không
kháng nghị thì thông báo bằng văn bản cho đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân
có văn bản thông báo, kiến nghị.
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao phân công Thẩm phán Tòa án nhân dân tối
cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao phân công Kiểm sát viên Viện
kiểm sát nhân dân tối cao nghiên cứu đơn, thông báo, kiến nghị, hồ sơ vụ án và báo cáo Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân tối cao xem xét, quyết định kháng nghị. Trường hợp không
kháng nghị thì Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân
dân tối cao tự mình hoặc ủy quyền cho Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Kiểm
sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao thông báo bằng văn bản cho đương sự, cơ
quan, tổ chức, cá nhân có văn bản thông báo, kiến nghị.
Điều 259. Bổ sung, xác minh tài
liệu, chứng cứ trong thủ tục giám đốc thẩm
1. Đương sự được quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án, Viện kiểm
sát có thẩm quyền xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm, nếu những tài liệu, chứng
cứ đó chưa được Tòa án cấp sơ thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm yêu cầu đương sự giao
nộp hoặc đã yêu cầu giao nộp nhưng đương sự không giao nộp được vì có lý do chính
đáng hoặc những tài liệu, chứng cứ mà đương sự không thể biết được trong quá
trình giải quyết vụ án.
2. Trong quá trình giải quyết đơn đề nghị giám đốc thẩm, Tòa án, Viện kiểm
sát có quyền yêu cầu người có đơn bổ sung tài liệu, chứng cứ hoặc tự mình kiểm tra,
xác minh tài liệu, chứng cứ cần thiết.
Điều 260. Người có thẩm quyền kháng nghị
theo thủ tục giám đốc thẩm
1. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối
cao có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục
giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân
cấp cao; những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án khác khi
xét thấy cần thiết, trừ quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối
cao.
2. Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp
cao có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục
giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp tỉnh,
Tòa án cấp huyện thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ.
Điều 261. Hoãn, tạm đình chỉ thi
hành bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật
1. Người có thẩm quyền kháng nghị bản án,
quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án có quyền hoãn thi hành bản án,
quyết định để xem xét việc kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm. Thời hạn hoãn
không quá 03 tháng.
Đối với quyết định về phần dân sự trong bản án, quyết định
hành chính của Tòa án thì người có thẩm quyền kháng nghị có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân
sự hoãn thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.
2. Người đã kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có
hiệu lực pháp luật có quyền quyết định tạm đình chỉ thi hành bản án, quyết định
đó cho đến khi có quyết định giám đốc thẩm.
Điều 262. Quyết định kháng nghị
giám đốc thẩm
Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm phải có các nội dung chính sau đây:
1. Số, ngày, tháng, năm của quyết định kháng nghị;
2. Chức vụ của người ra quyết định kháng nghị;
3. Số, ngày, tháng, năm của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị
kháng nghị;
4. Phần quyết định của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng
nghị;
5. Nhận xét, phân tích những vi phạm, sai lầm của bản án, quyết định đã có
hiệu lực pháp luật bị kháng nghị;
6. Căn cứ pháp luật để quyết định kháng nghị;
7. Quyết định kháng nghị một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định đã có
hiệu lực pháp luật;
8. Tên của Tòa án có thẩm quyền giám đốc thẩm vụ án đó;
9. Đề nghị của người kháng nghị.
Điều 263. Thời hạn kháng nghị theo thủ
tục giám đốc thẩm
1. Người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ
tục giám đốc thẩm được quyền kháng nghị trong thời hạn 03 năm kể từ ngày bản
án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
2. Thời hạn kháng nghị phần dân sự trong bản án, quyết định hành chính của Tòa án được thực hiện theo quy định của pháp
luật về tố tụng dân sự.
Điều 264. Gửi quyết định kháng nghị giám
đốc thẩm
1. Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm phải được gửi ngay cho Tòa án đã ra
bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị, đương sự, cơ quan
thi hành án dân sự có thẩm quyền và những người khác có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan đến nội dung kháng nghị.
2. Trường hợp Chánh án Tòa án nhân dân tối cao hoặc Chánh án Tòa án nhân
dân cấp cao kháng nghị thì quyết định kháng nghị cùng hồ sơ vụ án phải được gửi
ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp. Trong thời hạn 15 ngày kể
từ ngày nhận được hồ sơ vụ án Viện kiểm sát nghiên cứu và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án có thẩm quyền giám đốc
thẩm.
3. Trường hợp Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân cấp cao kháng nghị thì quyết định kháng nghị phải được
gửi ngay cho Tòa án có thẩm quyền giám đốc thẩm.
4. Trường hợp Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kháng nghị bản án, quyết
định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án khác theo quy định tại khoản 1 Điều
260 của Luật này thì có quyền giao cho Tòa án nhân dân cấp cao xét xử theo thủ
tục giám đốc thẩm.
Điều 265. Thay đổi, bổ sung, rút kháng
nghị
1. Người đã kháng nghị giám đốc thẩm có quyền thay đổi, bổ sung quyết định
kháng nghị, nếu chưa hết thời hạn kháng nghị quy định tại Điều 263 của Luật này.
2. Trước khi mở phiên tòa hoặc tại phiên tòa, người kháng nghị có quyền rút
kháng nghị. Việc rút kháng nghị trước khi mở phiên tòa phải được lập thành văn bản và được gửi theo quy định tại Điều 264 của
Luật này. Việc rút kháng nghị tại phiên tòa phải được ghi vào biên bản phiên
tòa và Hội đồng xét xử giám đốc thẩm ra quyết
định đình chỉ xét xử giám đốc thẩm.
Điều 266. Thẩm quyền giám đốc
thẩm
1. Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao giám đốc thẩm bản án, quyết
định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp tỉnh, Tòa án cấp huyện trong phạm
vi thẩm quyền theo lãnh thổ bị kháng nghị như sau:
a) Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao xét xử giám đốc thẩm bằng Hội
đồng xét xử gồm 03 Thẩm phán đối với bản án, quyết định của Tòa án cấp tỉnh,
Tòa án cấp huyện có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục
giám đốc thẩm;
b) Toàn thể Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao xét xử giám đốc thẩm
đối với bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật quy định tại điểm a
khoản 1 Điều này nhưng có tính chất phức tạp hoặc bản án, quyết định đã được Ủy
ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao xét xử giám đốc thẩm bằng Hội đồng xét xử
gồm 03 Thẩm phán nhưng không đạt được sự thống nhất khi biểu quyết thông qua
quyết định về việc giải quyết vụ án.
2. Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao giám đốc thẩm bản án, quyết
định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp cao bị kháng nghị như
sau:
a) Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm bằng Hội
đồng xét xử gồm 05 Thẩm phán đối với bản án, quyết định của Tòa án nhân dân cấp
cao bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm;
b) Toàn thể Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm
đối với bản án, quyết định có hiệu lực
pháp luật quy
định tại điểm a khoản này nhưng có tính chất phức tạp hoặc bản án, quyết định
đã được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm bằng
Hội đồng xét xử gồm 05 Thẩm phán nhưng không đạt được sự thống nhất khi biểu
quyết thông qua quyết định về việc giải quyết vụ án.
3. Những vụ án phức tạp quy định tại điểm b khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều
này là những vụ án thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Quy định của pháp luật về vấn đề cần giải quyết trong vụ án chưa rõ
ràng, chưa được hướng dẫn áp dụng thống nhất;
b) Việc đánh giá chứng cứ, áp dụng pháp luật có nhiều ý kiến khác nhau;
c) Việc giải quyết vụ án liên quan đến lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà
nước, bảo vệ quyền con người, quyền công dân được dư luận xã hội đặc biệt quan
tâm.
4. Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao xem xét, quyết định việc tổ chức xét xử
giám đốc thẩm trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này. Chánh án Tòa
án nhân dân tối cao xem xét, quyết định việc tổ chức xét xử giám đốc thẩm trong
các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
5. Trường hợp những bản án,
quyết định đã có hiệu lực pháp luật về cùng một
vụ án hành chính cùng thuộc thẩm quyền giám đốc
thẩm của Tòa án nhân dân cấp cao và Tòa án nhân dân tối cao thì Tòa án nhân dân
tối cao có thẩm quyền giám đốc thẩm toàn bộ vụ án.
Điều 267. Những người tham gia phiên
tòa giám đốc thẩm
1. Phiên tòa giám đốc thẩm phải có sự tham gia của Viện kiểm sát cùng cấp.
2. Khi xét thấy cần thiết, Tòa án triệu tập đương sự, người đại diện hợp
pháp, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người tham gia tố
tụng khác có liên quan đến việc kháng nghị tham gia phiên tòa giám đốc
thẩm. Trường hợp họ vắng mặt tại phiên tòa thì Hội đồng xét xử giám đốc
thẩm vẫn tiến hành phiên tòa.
Điều 268. Thời hạn mở phiên tòa
giám đốc thẩm
Trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày nhận được kháng
nghị kèm theo hồ sơ vụ án, Tòa án có thẩm quyền giám đốc thẩm phải mở phiên
tòa.
Điều 269. Chuẩn bị phiên tòa giám
đốc thẩm
Chánh án Tòa án phân công một Thẩm phán làm bản thuyết trình về vụ án tại
phiên tòa. Bản thuyết trình tóm tắt nội dung vụ án và các bản án, quyết định
của các cấp Tòa án, nội dung của kháng nghị. Bản thuyết trình phải được gửi cho
các thành viên Hội đồng xét xử giám đốc thẩm chậm nhất
là 07 ngày trước ngày mở phiên tòa giám đốc thẩm.
Điều 270. Thủ tục phiên tòa giám
đốc thẩm
1. Sau khi chủ tọa khai mạc phiên tòa, một thành viên của Hội đồng xét xử
giám đốc thẩm trình bày tóm tắt nội dung vụ án, quá trình xét xử vụ án, quyết
định của bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị,
các căn cứ, nhận định của kháng nghị và đề nghị của người kháng nghị. Trường
hợp Viện kiểm sát kháng nghị thì đại diện Viện kiểm sát trình bày nội dung
kháng nghị.
2. Đương sự, người đại diện hợp pháp, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của đương sự, người tham gia tố tụng khác được Tòa án triệu tập đến phiên
tòa giám đốc thẩm trình bày ý kiến về những vấn đề mà Hội đồng xét xử giám đốc thẩm yêu cầu. Trường hợp họ vắng mặt nhưng có
văn bản trình bày ý kiến thì Hội đồng xét xử giám đốc thẩm công bố ý kiến của
họ.
3. Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về quyết định kháng nghị và việc
giải quyết vụ án.
Ngay sau khi kết thúc phiên tòa, Kiểm sát viên phải
gửi văn bản phát biểu ý kiến cho Tòa án để lưu vào hồ sơ vụ án.
4. Các thành viên của Hội đồng xét xử giám đốc thẩm phát biểu ý kiến và
thảo luận. Hội đồng xét xử giám đốc thẩm nghị án, biểu
quyết về việc giải quyết vụ án và công bố nội dung quyết định về việc giải
quyết vụ án tại phiên tòa. Việc nghị án phải được thực hiện theo các nguyên tắc
quy định tại Điều 191 của Luật này.
5. Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao xét xử theo quy định tại điểm a
khoản 1 Điều 266 của Luật này thì quyết định của Hội đồng xét xử phải
được tất cả thành viên tham gia Hội đồng biểu quyết tán thành.
Trường hợp xét xử theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 266 của Luật này
thì phiên tòa xét xử của toàn thể Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao phải
có ít nhất hai phần ba tổng số thành viên tham gia; quyết định của Ủy ban Thẩm
phán phải được quá nửa tổng số thành viên biểu quyết tán thành.
6. Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử theo quy định tại điểm
a khoản 2 Điều 266 của Luật này thì quyết định của Hội đồng xét xử phải được
tất cả thành viên tham gia Hội đồng biểu quyết tán thành.
Trường hợp xét xử theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 266 của Luật này
thì phiên tòa xét xử của toàn thể Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
phải có ít nhất hai phần ba tổng số thành viên tham gia; quyết định của Hội
đồng Thẩm phán phải được quá nửa tổng số thành viên biểu quyết tán thành.
Điều 271. Phạm vi giám đốc thẩm
1. Hội đồng xét xử giám đốc thẩm chỉ xem xét phần quyết định của bản án,
quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị hoặc có liên quan đến việc
xem xét nội dung kháng nghị.
2. Hội đồng xét xử giám đốc thẩm có quyền
xem xét phần quyết định của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật không
bị kháng nghị hoặc không có liên quan đến nội dung kháng nghị, nếu phần quyết
định đó xâm phạm đến lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba không
phải là đương sự trong vụ án.
Điều 272. Thẩm quyền của Hội đồng giám
đốc thẩm
1. Không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án, quyết định đã có hiệu
lực pháp luật.
2. Hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị và giữ
nguyên bản án, quyết định đúng pháp luật của Tòa án cấp dưới đã bị hủy hoặc bị
sửa.
3. Hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị để xét xử
sơ thẩm hoặc phúc thẩm lại.
4. Hủy bản án, quyết định của Tòa án đã giải quyết vụ án và đình chỉ việc
giải quyết vụ án.
5. Sửa một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực
pháp luật.
Hội đồng xét xử giám đốc thẩm ra quyết định hủy bản án, quyết định đã có
hiệu lực pháp luật bị kháng nghị và giữ nguyên bản án, quyết định của Tòa án
cấp dưới xét xử đúng pháp luật, nhưng đã bị bản án, quyết định đã có hiệu lực
pháp luật bị kháng nghị hủy bỏ, sửa đổi một phần hoặc toàn bộ.
Trường hợp bản án, quyết định của Tòa án đã thi hành được một phần hoặc
toàn bộ thì Hội đồng xét xử giám đốc thẩm phải giải quyết hậu quả của việc thi
hành án.
Hội đồng xét xử giám đốc thẩm ra quyết định hủy bản án, quyết định đã có
hiệu lực pháp luật bị kháng nghị để xét xử sơ thẩm lại hoặc xét xử phúc thẩm
lại trong các trường hợp sau đây:
1. Việc thu thập chứng cứ và chứng minh chưa thực hiện đầy đủ hoặc không
đúng quy định tại Chương VI của Luật này;
2. Kết luận trong bản án, quyết định không phù hợp với những tình tiết
khách quan của vụ án hoặc có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật;
3. Thành phần của Hội đồng xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm không đúng quy
định của Luật này hoặc có vi phạm nghiêm trọng khác về thủ tục tố tụng.
Điều 275. Hủy bản án, quyết định
của Tòa án đã giải quyết vụ án và đình chỉ việc giải quyết vụ án
Hội đồng xét xử giám đốc thẩm ra quyết định hủy bản án,
quyết định của Tòa án đã giải quyết vụ án và đình chỉ việc giải quyết vụ án,
nếu trong quá trình xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm có một trong các trường
hợp quy định tại khoản 1 Điều 143 của Luật này. Tòa án cấp giám đốc thẩm giao
lại hồ sơ vụ án cho Tòa án đã xét xử sơ thẩm để trả lại đơn khởi kiện cùng tài
liệu, chứng cứ kèm theo cho người khởi kiện, nếu có yêu cầu.
Trường hợp bản án, quyết định của Tòa án đã thi hành được một phần hoặc
toàn bộ thì Hội đồng xét xử giám đốc thẩm phải giải quyết hậu quả của việc thi
hành án.
Điều 276. Sửa một phần hoặc toàn
bộ bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật
1. Hội đồng xét xử giám đốc
thẩm ra quyết định sửa một phần hoặc toàn bộ bản án,
quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Tài liệu, chứng cứ trong
hồ sơ vụ án đã đầy đủ, rõ ràng; có đủ căn cứ để làm rõ các tình tiết trong vụ
án;
b) Việc sửa bản án, quyết
định bị kháng nghị không ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá
nhân khác.
2. Trường hợp bản án, quyết
định của Tòa án đã thi hành được một phần hoặc toàn bộ thì Hội đồng xét xử giám
đốc thẩm phải giải quyết hậu quả của việc thi hành án.
Điều 277. Quyết định giám đốc
thẩm
1. Hội đồng xét xử giám đốc thẩm ra quyết định giám đốc thẩm nhân danh nước
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
2. Quyết định giám đốc thẩm phải có các nội dung sau đây:
a) Ngày, tháng, năm và địa điểm mở phiên tòa;
b) Họ, tên các thành viên Hội đồng xét
xử giám đốc
thẩm. Trường hợp Hội đồng xét xử giám đốc thẩm là Ủy ban
Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao hoặc Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối
cao thì ghi họ, tên, chức vụ của Chủ tọa phiên tòa và số lượng thành viên tham
gia xét xử;
c) Họ, tên Thư ký phiên tòa, Kiểm sát viên tham gia
phiên tòa;
d) Tên vụ án mà Hội đồng đưa ra xét xử giám đốc thẩm;
đ) Tên, địa chỉ của đương sự trong vụ án;
e) Tóm tắt nội dung vụ án, phần quyết định của bản án, quyết định đã có
hiệu lực pháp luật bị kháng nghị;
g) Quyết định kháng nghị, lý do kháng nghị;
h) Nhận định của Hội đồng xét xử giám đốc thẩm trong đó
phải phân tích những căn cứ để chấp nhận hoặc không chấp nhận kháng nghị; lập
luận của Hội đồng xử giám đốc thẩm về các vấn
đề pháp lý đặt ra và được giải quyết trong vụ án (nếu có);
i) Điểm, khoản, điều của Luật tố tụng hành chính mà Hội đồng xét xử giám đốc thẩm căn cứ để ra quyết định;
k) Quyết định của Hội đồng xét xử giám đốc thẩm.
3. Quyết định của Hội đồng
xét xử giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao cần có lập luận để làm rõ quy định của pháp luật còn có
cách hiểu khác nhau; phân tích, giải thích các vấn đề, sự kiện pháp lý và chỉ
ra nguyên nhân, đường lối xử lý, quy phạm pháp luật cần áp dụng (nếu có).
Điều 278. Hiệu lực của quyết định
giám đốc thẩm
Quyết định giám đốc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày Hội đồng xét xử giám đốc thẩm ra quyết định.
Điều 279. Gửi quyết định giám đốc
thẩm
Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định, Hội đồng xét xử giám đốc thẩm phải gửi quyết định giám đốc thẩm cho các
cơ quan, tổ chức, cá nhân sau đây:
1. Đương sự;
2. Tòa án ra bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị, bị
hủy, bị sửa;
3. Viện kiểm sát cùng cấp và Viện kiểm sát có thẩm quyền kiểm sát thi hành
án;
4. Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền;
5. Cơ quan cấp trên trực tiếp của người bị kiện.
6. Quyết định giám đốc thẩm được Tòa án cấp giám đốc thẩm công bố trên Cổng
thông tin điện tử của Tòa án (nếu có), trừ quyết định của Tòa án có chứa thông
tin quy định tại khoản 2 Điều 96 của Luật này.
Điều 280. Tính chất của tái thẩm
Tái thẩm là xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị
kháng nghị vì có những tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản
nội dung của bản án, quyết định mà Tòa án, đương sự không biết được khi Tòa án
ra bản án, quyết định đó.
Điều 281. Căn cứ để kháng nghị
theo thủ tục tái thẩm
Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo
thủ tục tái thẩm khi có một trong những căn cứ sau đây:
1. Mới phát hiện được tình tiết quan trọng của vụ án mà Tòa án, đương sự đã
không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ án;
2. Có cơ sở chứng minh kết luận của người giám định, lời dịch của người
phiên dịch không đúng sự thật hoặc có giả mạo chứng cứ;
3. Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên cố ý làm sai lệch hồ sơ vụ
án hoặc cố ý kết luận trái pháp luật;
4. Bản án, quyết định của Tòa án hoặc quyết định của cơ quan nhà nước mà
Tòa án căn cứ vào đó để giải quyết vụ án đã bị hủy bỏ.
Điều 282. Thông báo và xác minh
những tình tiết mới được phát hiện
1. Đương sự hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác khi phát
hiện tình tiết mới của vụ án thì có quyền đề nghị bằng văn bản với người có thẩm quyền kháng nghị quy định tại Điều 283 của Luật này để
xem xét kháng nghị theo thủ tục tái thẩm.
2. Trường hợp phát hiện tình tiết mới của vụ án, Viện kiểm sát, Tòa án phải
thông báo bằng văn bản cho những người có thẩm
quyền kháng
nghị quy định tại Điều 283 của Luật này.
3. Trường hợp phát hiện tình tiết mới của vụ án, Chánh án Tòa án cấp tỉnh
kiến nghị với Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao hoặc với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Chánh án tòa án nhân dân cấp cao kiến nghị với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao
để xem xét kháng nghị theo thủ tục tái thẩm.
Điều 283. Người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm
1. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối
cao có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục tái
thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp cao;
bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án khác khi xét thấy cần
thiết, trừ quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
2. Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp
cao có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục tái
thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp tỉnh, Tòa án
cấp huyện trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ.
3. Người đã kháng nghị bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật có quyền
quyết định tạm đình chỉ thi hành bản án, quyết định đó cho đến khi có quyết
định tái thẩm.
Điều 284. Thời hạn kháng nghị
theo thủ tục tái thẩm
Thời hạn kháng nghị theo thủ tục tái thẩm là 01 năm kể từ ngày người có thẩm quyền kháng nghị biết được căn cứ để kháng nghị theo thủ
tục tái thẩm quy định tại Điều 281 của Luật này.
Điều 285. Thẩm quyền của Hội đồng
tái thẩm
1. Không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án, quyết định đã có hiệu
lực pháp luật.
2. Hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để xét xử sơ thẩm lại
theo thủ tục do Luật này quy định.
3. Hủy bản án, quyết định của Tòa án đã xét xử vụ án và đình chỉ giải quyết
vụ án.
Điều 286. Áp dụng các quy định
của thủ tục giám đốc thẩm
Các quy định khác về thẩm quyền, thủ tục tái thẩm được thực hiện như các
quy định về thủ tục giám đốc thẩm theo quy định của Luật này.
THỦ TỤC ĐẶC BIỆT XEM XÉT LẠI
QUYẾT ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
1. Quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân
tối cao khi có căn cứ xác định có vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc phát hiện
tình tiết quan trọng mới có thể làm thay đổi cơ bản nội dung quyết định mà Hội
đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, đương sự không biết được khi ra quyết
định đó thì được xem xét lại nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Theo yêu cầu của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
b) Theo kiến nghị của Ủy ban tư pháp của Quốc hội;
c) Theo kiến nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân
dân tối cao;
d) Theo đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
2. Trường hợp có yêu cầu của Ủy ban thường vụ Quốc
hội, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có trách nhiệm báo cáo Hội đồng Thẩm phán
Tòa án nhân dân tối cao để xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao.
3. Trường hợp có kiến nghị của Ủy ban tư pháp của
Quốc hội, kiến nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc đề nghị
của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao phát hiện vi phạm, tình tiết quan trọng
mới thì Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có trách nhiệm báo cáo Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao xem xét kiến nghị, đề nghị đó.
Trường hợp nhất trí với kiến nghị của Ủy ban tư pháp
của Quốc hội, kiến nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc đề
nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao thì Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân
dân tối cao ra quyết định giao Chánh án Tòa án nhân dân tối cao tổ chức nghiên
cứu hồ sơ vụ án, báo cáo Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xem xét,
quyết định. Trường hợp Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao không nhất
trí với kiến nghị, đề nghị thì phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do.
4. Phiên họp của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân
tối cao xem xét kiến nghị, đề nghị quy định tại khoản 3 Điều này phải có sự
tham dự của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Sau khi nhận được yêu cầu của Ủy ban thường vụ Quốc hội, kiến nghị của Ủy
ban tư pháp của Quốc hội hoặc sau khi Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có văn
bản đề nghị xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối
cao theo quy định tại khoản 1 Điều 287 của Luật này, Tòa án nhân dân tối cao gửi cho Viện kiểm sát nhân dân
tối cao bản sao văn bản yêu cầu, kiến nghị hoặc đề nghị đó kèm theo hồ sơ vụ án
để Viện kiểm sát nhân dân tối cao nghiên cứu và chuẩn bị ý kiến phát biểu tại
phiên họp xem xét kiến nghị, đề nghị theo quy định tại Điều 291 của Luật này. Trong thời hạn 15 ngày
kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải trả lại
hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tối cao.
Điều 289. Thời hạn mở phiên họp
và thông báo mở phiên họp xem xét kiến nghị, đề nghị
1. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được kiến nghị của Ủy ban tư pháp
của Quốc hội, kiến nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc kể
từ ngày Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có văn bản đề nghị thì Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao phải mở phiên họp xem xét kiến nghị của Ủy ban tư
pháp của Quốc hội, kiến nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao
hoặc đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao theo quy định tại khoản 3
Điều 287 của Luật này.
2. Tòa án nhân dân tối cao thông báo bằng văn bản cho Viện trưởng Viện kiểm
sát nhân dân tối cao về thời gian mở phiên họp để xem xét kiến nghị, đề nghị
quy định tại khoản 3 Điều 287 của Luật này.
1. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao tham dự phiên họp của Hội
đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để xem xét kiến nghị của Ủy ban tư pháp
của Quốc hội, kiến nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc đề
nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao theo quy định tại khoản 4 Điều 287
của Luật này.
2. Đại diện Ủy ban tư pháp của Quốc hội được mời
tham dự phiên họp của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để xem xét
kiến nghị của Ủy ban tư pháp của Quốc hội.
1. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao tự mình hoặc phân công một thành viên
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao trình bày tóm tắt nội dung vụ án và
quá trình giải quyết vụ án
2. Đại diện Ủy ban tư pháp của Quốc hội, Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có kiến
nghị, đề nghị xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối
cao trình bày về các vấn đề sau đây:
a) Nội dung, căn cứ của việc kiến nghị, đề nghị;
b) Phân tích đánh giá các tình tiết của vụ án, chứng cứ cũ và chứng cứ mới
bổ sung (nếu có) để làm rõ việc vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong quyết định
của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hoặc có tình tiết quan trọng mới
có thể làm thay đổi cơ bản nội dung quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao.
3. Trường hợp xem xét kiến nghị của Ủy ban tư pháp của Quốc hội hoặc xem
xét đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao thì Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân tối cao phát biểu quan điểm và lý do nhất trí hoặc không nhất trí với
kiến nghị, đề nghị đó.
Ý kiến phát biểu của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải thể
hiện bằng văn bản, có chữ ký của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và
phải được gửi cho Tòa án nhân dân tối cao trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ
ngày kết thúc phiên họp.
4. Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thảo luận và biểu quyết theo
đa số về việc nhất trí hoặc không nhất trí với kiến nghị, đề nghị xem xét lại
quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
5. Trường hợp nhất trí kiến nghị của Ủy ban tư pháp của Quốc hội, kiến nghị
của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc đề nghị của Chánh án Tòa án
nhân dân tối cao thì Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quyết định việc
mở phiên họp để xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân
tối cao, đồng thời giao cho Chánh án Tòa án nhân dân tối cao tổ chức nghiên cứu
hồ sơ báo cáo Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xem xét, quyết định
tại phiên họp xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối
cao.
6. Trường hợp không nhất trí kiến nghị, đề nghị thì Hội đồng Thẩm phán Tòa
án nhân dân tối cao phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan, cá nhân quy định tại Điều 292 của Luật này và nêu rõ lý
do.
7. Mọi diễn biến tại phiên họp xem xét kiến nghị, đề nghị và các quyết định
được thông qua tại phiên họp phải được ghi vào biên bản phiên họp và lưu hồ sơ
xem xét kiến nghị, đề nghị.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày kết thúc phiên họp xem xét kiến
nghị, đề nghị xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối
cao, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao gửi cho Viện trưởng Viện kiểm
sát nhân dân tối cao, Ủy ban tư pháp của Quốc hội
văn bản thông báo việc Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nhất trí hoặc
không nhất trí với kiến nghị, đề nghị xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao.
Điều 293. Tổ chức nghiên cứu hồ
sơ vụ án
1. Trường hợp có yêu cầu của Ủy ban thường vụ Quốc hội hoặc có quyết định
của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao theo quy định tại khoản 5 Điều
291 của Luật này thì Chánh án Tòa án nhân dân tối cao tổ chức việc nghiên cứu
hồ sơ vụ án, xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ trong trường hợp cần thiết.
2. Việc nghiên cứu hồ sơ vụ án, xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ phải
làm rõ có hay không có vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc tình tiết quan trọng
mới có thể làm thay đổi cơ bản nội dung quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa
án nhân dân tối cao.
Điều 294. Mở phiên họp xem xét
lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
1. Trong thời hạn 04 tháng kể từ ngày nhận được yêu cầu của Ủy ban thường
vụ Quốc hội theo quy định tại khoản 2 Điều 287 của
Luật này hoặc kể từ ngày có quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân
tối cao theo quy định tại khoản 5 Điều 291 của Luật này, Hội đồng Thẩm phán Tòa
án nhân dân tối cao phải mở phiên họp với sự tham gia của toàn thể Thẩm phán
Tòa án nhân dân tối cao để xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao.
2. Tòa án nhân dân tối cao gửi cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao văn bản thông
báo về thời gian mở phiên họp xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa
án nhân dân tối cao kèm theo hồ sơ vụ án. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày
nhận được hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải trả lại hồ sơ vụ án
cho Tòa án nhân dân tối cao.
1. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải tham dự phiên họp xem
xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao theo quy định tại khoản 4 Điều 287 của Luật này và phát biểu
quan điểm về việc có hay không có vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc tình tiết
quan trọng mới làm thay đổi cơ bản nội dung
quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và quan điểm về việc
giải quyết vụ án.
2. Ý kiến phát biểu của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải thể
hiện bằng văn bản, có chữ ký của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và
phải được gửi cho Tòa án nhân dân tối cao trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ
ngày kết thúc phiên họp.
Điều 296. Thẩm quyền xem xét
lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
1. Sau khi nghe Chánh án Tòa án nhân dân tối cao báo
cáo, nghe ý kiến của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, của cơ quan,
tổ chức, cá nhân có liên quan được mời tham dự (nếu có), Hội đồng Thẩm phán Tòa
án nhân dân tối cao ra quyết định hủy quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao có vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc có tình tiết quan trọng
mới làm thay đổi cơ bản nội dung quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân
dân tối cao; hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực của Tòa án cấp dưới có vi
phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc có tình tiết quan trọng mới làm thay đổi cơ
bản nội dung bản án, quyết định và tùy từng trường hợp mà quyết định như sau:
a) Bác yêu cầu khởi kiện, nếu yêu cầu đó không có căn
cứ pháp luật;
b) Chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện,
tuyên hủy một phần hoặc toàn bộ quyết định hành chính trái pháp luật; buộc cơ
quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước thực hiện nhiệm
vụ, công vụ theo quy định của pháp luật;
c) Chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện,
tuyên bố hành vi hành chính là trái pháp luật; buộc cơ quan nhà nước hoặc người
có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước chấm dứt hành vi hành chính trái pháp
luật;
d) Chấp nhận yêu cầu khởi kiện, tuyên hủy quyết định
kỷ luật buộc thôi việc trái pháp luật; buộc người đứng đầu cơ quan, tổ chức
thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật;
đ) Chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện,
tuyên hủy một phần hoặc toàn bộ quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định
xử lý vụ việc cạnh tranh trái pháp luật; buộc cơ quan, người có thẩm quyền ra
quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh giải
quyết lại vụ việc theo quy định của Luật cạnh tranh;
e) Xác định trách nhiệm bồi thường đối với các trường
hợp quy định tại các điểm b, c, d và đ khoản 1 Điều này, buộc cơ quan, tổ chức
bồi thường thiệt hại, khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân,
lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ
ba bị xâm phạm do quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật
buộc thôi việc, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh trái pháp luật gây ra; xác
định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Tòa án nhân dân tối cao có quyết định
vi phạm pháp luật nghiêm trọng bị hủy do lỗi vô ý hoặc cố ý và gây thiệt hại
cho đương sự hoặc xác định trách nhiệm bồi hoàn giá trị tài sản theo quy định
của pháp luật;
g) Kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền,
người đứng đầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét trách nhiệm của cơ
quan nhà nước, người có thẩm quyền của cơ quan nhà nước trong trường hợp cố ý
vi phạm pháp luật, gây hậu quả nghiêm trọng cho cơ quan, tổ chức, cá nhân.
2. Quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao phải được ít nhất ba phần tư tổng số thành viên của Hội đồng
Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao biểu quyết tán thành.
Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
ra quyết
định quy định tại khoản 1 Điều 296 của Luật này thì Tòa án nhân dân tối cao gửi
quyết định cho Ủy ban thường vụ Quốc hội, Ủy ban tư pháp của Quốc hội, Viện
kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án đã giải quyết vụ án và các đương sự.
THỦ TỤC GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÀNH
CHÍNH CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI
1. Chương này quy định thủ tục giải quyết vụ án hành
chính có yếu tố nước ngoài. Trường hợp trong Chương này không có quy định thì
được áp dụng các quy định khác có liên quan của Luật này để giải quyết.
2. Vụ án hành chính có yếu tố nước ngoài là vụ án
hành chính thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Có đương sự là người nước ngoài, cơ quan, tổ chức
nước ngoài, chi nhánh, văn phòng đại diện của cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ
chức quốc tế, cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế tại Việt Nam;
b) Có đương sự là công dân Việt Nam cư trú ở nước
ngoài;
c) Việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ
pháp luật hành chính đó xảy ra ở nước ngoài;
d) Có liên quan đến tài sản ở nước ngoài.
1. Người nước ngoài, cơ quan, tổ chức nước ngoài, chi
nhánh, văn phòng đại diện của cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế, cơ
quan đại diện của tổ chức quốc tế tại Việt Nam có quyền khởi kiện đến Tòa án
Việt Nam để yêu cầu xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính khi
có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật và xâm phạm đến
quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
2. Khi tham gia tố tụng hành chính, cơ quan, tổ chức,
cá nhân nước ngoài, chi nhánh, văn phòng đại diện của cơ quan, tổ chức nước
ngoài, tổ chức quốc tế, cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế tại Việt Nam có
quyền, nghĩa vụ tố tụng như công dân, cơ quan, tổ chức Việt Nam.
3. Nhà nước Việt Nam có thể áp dụng nguyên tắc có đi
có lại để hạn chế quyền tố tụng hành chính tương ứng của người nước ngoài, cơ
quan, tổ chức nước ngoài, chi nhánh, văn phòng đại diện của cơ quan, tổ chức
nước ngoài, cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế tại Việt Nam mà Tòa án của
nước đó đã hạn chế quyền tố tụng hành chính đối với công dân Việt Nam, cơ quan,
tổ chức Việt Nam, chi nhánh, văn phòng đại diện của cơ quan, tổ chức Việt Nam
tại nước ngoài.
1. Năng lực pháp luật tố tụng hành chính và năng lực hành vi tố tụng hành
chính của người nước ngoài được xác định như sau:
a) Theo pháp luật của nước mà người nước ngoài có quốc tịch. Trường hợp
người nước ngoài là người không quốc tịch thì theo pháp luật của nước nơi người
đó cư trú. Nếu người không quốc tịch thường trú tại Việt Nam thì theo pháp luật
Việt Nam;
b) Theo pháp luật của nước nơi người nước ngoài có quốc tịch và cư trú tại
một trong các nước mà họ có quốc tịch nếu họ có nhiều quốc tịch nước ngoài.
Trường hợp người nước ngoài có nhiều quốc tịch và cư trú ở nước mà không
cùng với quốc tịch của nước đó thì theo pháp luật của nước nơi người nước ngoài
có thời gian mang quốc tịch dài nhất;
c) Theo pháp luật Việt Nam nếu người nước ngoài có nhiều quốc tịch và một
trong các quốc tịch đó là quốc tịch Việt
Nam hoặc người nước ngoài có thẻ thường trú hoặc thẻ tạm trú tại Việt Nam.
2. Người nước ngoài có thể được công nhận có năng lực hành vi tố tụng hành
chính tại Tòa án Việt Nam, nếu theo quy định của pháp luật nước ngoài thì họ
không có năng lực hành vi tố tụng hành chính, nhưng theo quy định của pháp luật
Việt Nam thì họ có năng lực hành vi tố tụng hành chính.
1. Năng lực pháp luật tố tụng hành chính của cơ quan, tổ chức nước
ngoài được xác định theo pháp luật của nước nơi cơ quan, tổ chức đó được thành
lập.
Năng lực pháp luật tố tụng hành chính của chi nhánh, văn phòng đại diện của cơ quan, tổ
chức nước ngoài tại Việt Nam được xác định theo pháp luật Việt Nam.
2. Năng lực pháp luật tố tụng hành chính của tổ chức quốc tế, cơ quan đại diện của tổ chức quốc
tế được xác định trên cơ sở điều ước quốc tế là căn cứ để thành lập tổ chức đó, quy
chế hoạt động của tổ chức quốc tế hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt
Nam và tổ chức quốc tế đó cùng là thành viên.
Trường hợp tổ chức quốc tế tuyên bố từ bỏ quyền ưu
đãi, quyền miễn trừ thì năng lực pháp luật tố tụng hành chính của tổ chức quốc
tế đó được xác định theo quy định của pháp luật Việt Nam.
Đương sự là người nước ngoài, cơ quan, tổ chức nước ngoài, chi
nhánh, văn phòng đại diện của cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế, cơ quan đại diện của tổ chức quốc
tế tại Việt Nam tham gia tố tụng tại Tòa án Việt Nam có quyền nhờ luật sư bảo
vệ quyền
và lợi ích hợp pháp cho mình theo quy định của pháp luật Việt Nam.
Điều 303. Các phương thức
tống đạt, thông báo văn bản tố tụng của Tòa án cho đương sự ở nước ngoài
1. Tòa án thực hiện việc tống đạt, thông báo văn bản
tố tụng của Tòa án theo một trong các phương thức sau đây:
a) Theo phương thức được quy định tại điều ước quốc
tế mà Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;
b) Theo đường ngoại giao đối với đương sự cư trú ở
nước mà nước đó và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chưa cùng là thành viên của điều ước quốc
tế;
c) Theo đường dịch vụ bưu chính đến địa chỉ của đương sự đang
cư trú ở nước ngoài với điều kiện pháp luật nước đó đồng ý với phương thức tống
đạt này;
d) Theo đường dịch vụ bưu chính đến cơ quan đại diện nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài để tống đạt cho đương sự là
công dân Việt Nam ở nước ngoài;
đ) Đối với cơ quan, tổ chức nước ngoài có văn phòng
đại diện, chi nhánh tại Việt Nam thì việc tống đạt có thể được thực hiện qua
văn phòng đại diện, chi nhánh của họ tại Việt Nam theo quy định của Luật này;
e) Theo đường dịch vụ bưu chính cho người đại diện theo pháp
luật hoặc đại diện theo ủy quyền tại Việt Nam của đương sự ở nước ngoài.
2. Các phương thức tống đạt quy định tại điểm a và
điểm b khoản 1 Điều này được thực hiện theo pháp luật về tương trợ tư pháp.
3. Trường hợp các phương thức
tống đạt quy định tại khoản 1 Điều này thực hiện không có kết quả thì Tòa án tiến hành niêm yết công khai tại trụ sở cơ quan đại diện
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, Tòa án đang giải quyết vụ việc hoặc tại nơi cư trú cuối
cùng của đương sự tại Việt Nam trong thời hạn 30 ngày và
thông báo trên Cổng
thông tin điện tử của Tòa án (nếu có), Cổng thông tin điện tử của cơ quan đại diện nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài; trường hợp cần thiết, Tòa án có thể
thông báo qua kênh dành cho người nước ngoài của Đài phát thanh hoặc Đài truyền hình của trung ương ba lần trong 03 ngày liên tiếp.
Điều 304. Thông báo về việc
thụ lý, ngày mở phiên họp, phiên tòa
1. Tòa án phải gửi thông báo thụ lý vụ án, trong đó nêu rõ thời gian, địa điểm mở
phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đối thoại
(gọi tắt là phiên họp), mở lại phiên họp, mở phiên tòa và mở lại phiên tòa
trong văn bản thông báo thụ lý vụ việc cho đương sự ở nước ngoài.
2. Thời hạn mở phiên họp, phiên tòa được xác định
như sau:
a) Phiên họp phải được mở sớm nhất là 04 tháng và chậm nhất là 06 tháng kể
từ ngày ra văn bản thông báo thụ lý vụ án. Ngày mở lại phiên họp (nếu có) được
ấn định cách ngày mở phiên họp chậm nhất là
30 ngày.
b) Phiên tòa phải được mở sớm nhất là 06 tháng và chậm nhất là 08 tháng kể
từ ngày ra văn bản thông báo thụ lý vụ án. Ngày mở lại phiên tòa (nếu có) được
ấn định cách ngày mở phiên tòa chậm nhất là 30
ngày, trừ trường hợp
quy định tại khoản 4 Điều 305 của Luật này.
Điều 305. Xử lý kết quả tống
đạt văn bản tố tụng của Tòa án cho đương sự ở nước ngoài
Khi nhận được kết quả tống đạt và kết quả thu thập chứng cứ ở nước ngoài,
tùy từng trường hợp cụ thể mà Tòa án xử lý như sau:
1. Không mở phiên họp khi đã nhận được kết quả tống đạt theo một trong các
phương thức tống đạt quy định tại khoản 1 Điều 303 của Luật này và đương sự đã
cung cấp đầy đủ lời khai, tài liệu, chứng cứ và vụ án hành chính thuộc trường hợp không đối thoại được quy định tại Điều 135 của
Luật này.
2. Hoãn phiên họp nếu đã nhận được thông báo về việc tống đạt đã hoàn thành
nhưng đến ngày mở phiên họp mà Tòa án vẫn không nhận được lời khai, tài liệu,
chứng cứ của đương sự và họ không đề nghị được vắng mặt tại phiên họp. Nếu đến
ngày mở lại phiên họp mà đương sự ở nước ngoài vẫn vắng mặt thì Tòa án xác định
đây là trường hợp không tiến hành đối thoại được.
3. Tòa án hoãn phiên tòa trong các trường hợp sau đây:
a) Đương sự ở nước ngoài có đơn đề nghị hoãn phiên tòa lần thứ nhất;
b) Đương sự ở nước ngoài vắng mặt tại phiên tòa lần thứ nhất, trừ trường
hợp họ có đơn xin xét xử vắng mặt.
4. Tòa án không nhận được văn bản thông báo về kết quả tống đạt cũng như
lời khai, tài liệu, chứng cứ của đương sự ở nước ngoài và đến ngày mở phiên tòa
đương sự ở nước ngoài không có mặt, không có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt
họ thì Tòa án hoãn phiên tòa.
Ngay sau khi hoãn phiên tòa thì Tòa án có văn bản đề nghị Bộ Tư pháp hoặc
cơ quan đại diện của nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt
Nam ở nước ngoài thông báo về việc thực hiện tống đạt văn bản tố tụng của Tòa
án cho đương sự ở nước ngoài trong trường hợp Tòa án thực hiện việc tống đạt
thông qua các cơ quan này theo một trong các phương thức quy định tại các điểm a, b và d khoản 1 Điều 303 của
Luật này.
Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được văn bản của Tòa án, cơ quan đại
diện của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài
phải thông báo cho Tòa án về kết quả thực hiện việc tống đạt văn bản tố tụng
cho đương sự ở nước ngoài.
Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Bộ Tư pháp nhận được văn bản của Tòa án,
Bộ Tư pháp phải có văn bản đề nghị cơ quan có thẩm quyền ở nước ngoài trả lời
về kết quả thực hiện ủy thác tư pháp.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản của cơ quan có
thẩm quyền ở nước ngoài gửi về thì Bộ Tư pháp phải trả lời cho Tòa án.
Hết thời hạn 03 tháng kể từ ngày chuyển văn bản của Tòa án cho cơ quan có
thẩm quyền ở nước ngoài mà không nhận được văn bản trả lời thì Bộ Tư pháp phải
thông báo cho Tòa án biết để làm căn cứ giải quyết vụ án.
5. Tòa án xét xử vắng mặt đương sự ở nước ngoài trong các trường hợp sau
đây:
a) Tòa án đã nhận được kết quả tống đạt theo một trong các phương thức tống
đạt quy định tại khoản 1 Điều 303 của Luật này, đương sự đã cung cấp đầy đủ lời
khai, tài liệu, chứng cứ và đương sự đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt họ;
b) Tòa án không nhận được thông báo của cơ quan có thẩm quyền theo quy định
tại khoản 4 Điều này về kết quả thực hiện việc tống đạt cho đương sự ở nước
ngoài;
c) Tòa án đã thực
hiện các biện pháp quy định tại khoản 3 Điều 303 của Luật này.
1. Tòa án Việt Nam công nhận giấy tờ, tài liệu do cơ quan, tổ chức có thẩm
quyền nước ngoài lập, cấp hoặc xác nhận trong những trường hợp sau đây:
a) Giấy tờ, tài liệu và bản dịch tiếng Việt có công chứng, chứng thực đã
được hợp pháp hoá lãnh sự;
b) Giấy tờ, tài liệu đó được miễn hợp pháp hóa lãnh sự theo quy định của
pháp luật Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
là thành viên.
2. Tòa án Việt Nam công nhận những giấy tờ, tài liệu do cá nhân cư trú ở
nước ngoài lập trong các trường hợp sau đây:
a) Giấy tờ, tài liệu được lập bằng tiếng nước ngoài
đã được dịch ra tiếng Việt có công chứng, chứng thực hợp pháp theo quy định của
pháp luật Việt Nam;
b) Giấy tờ, tài liệu được lập ở nước ngoài được công chứng, chứng thực theo
quy định của pháp luật nước ngoài và đã được hợp pháp hóa lãnh sự;
c) Giấy tờ tài liệu do công dân Việt Nam ở nước ngoài lập bằng tiếng Việt
có chữ ký của người lập giấy tờ, tài liệu đó đã được chứng thực theo quy định
của pháp luật của Việt Nam.
1. Đương sự có mặt tại Việt Nam có quyền kháng cáo bản án, quyết định của
Tòa án trong thời hạn quy định tại Điều 206 của Luật này.
2. Đương sự cư trú ở nước ngoài không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn
kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án là 30 ngày kể từ ngày bản án, quyết
định được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án, quyết định được niêm yết hợp
lệ theo quy định của pháp luật.
3. Trường hợp Tòa án xét xử vắng mặt đương sự ở nước ngoài theo quy định
tại điểm b khoản 5 Điều 305 của Luật này thì thời hạn kháng cáo là 12 tháng kể
từ ngày tuyên án.
Tòa án cấp phúc thẩm thực hiện việc tống đạt, thông báo văn bản tố tụng và xử lý kết quả tống đạt, thông báo văn bản tố tụng cho
đương sự ở nước ngoài theo quy định tại các điều 303, 304 và 305 của Luật này.
THỦ TỤC THI HÀNH BẢN ÁN, QUYẾT
ĐỊNH CỦA TÒA ÁN VỀ VỤ ÁN HÀNH CHÍNH
Điều 309. Những bản án, quyết định của
Tòa án về vụ án hành chính được thi hành
1. Bản án, quyết định hoặc phần bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm
không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đã có hiệu lực pháp luật.
2. Bản án, quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm.
3. Quyết định giám đốc thẩm hoặc tái thẩm của Tòa án.
4. Quyết định theo thủ tục đặc biệt của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân
tối cao quy định tại Điều 296 của Luật này.
5. Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án
mặc dù có khiếu nại, kiến nghị.
Điều 310. Giải thích bản án, quyết định
của Tòa án
1. Người được thi hành án, người phải thi hành án, người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan đến việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án và cơ quan
thi hành án dân sự có quyền yêu cầu bằng văn bản với Tòa án đã ra bản án, quyết
định quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 309 của Luật này giải thích những điểm chưa rõ trong bản án,
quyết định để thi hành.
2. Thẩm phán là Chủ tọa phiên tòa, phiên họp có trách nhiệm giải thích bản
án, quyết định của Tòa án. Trường hợp họ không còn là Thẩm phán của Tòa án thì
Chánh án Tòa án đó có trách nhiệm giải thích bản án, quyết định của Tòa án.
3. Việc giải thích bản án, quyết định của Tòa án phải căn cứ vào bản án,
quyết định, biên bản phiên tòa, phiên họp và biên bản nghị án.
4. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu, Tòa án phải
có văn bản giải thích và gửi cho cơ quan, tổ chức, cá
nhân, đã được cấp, gửi bản án, quyết định theo quy định của Luật này.
Điều 311. Thi hành bản án, quyết định
của Tòa án
1. Việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính quy định
tại Điều 309 của Luật này được thực hiện như sau:
a) Trường hợp bản án, quyết định của Tòa án về việc không chấp nhận yêu cầu
khởi kiện quyết định hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định
giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, danh sách cử tri
thì các bên đương sự phải tiếp tục thi hành quyết định hành chính, quyết định
kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ
việc cạnh tranh, danh sách cử tri theo quy định của pháp luật;
b) Trường hợp bản án, quyết định của Tòa án đã hủy toàn bộ hoặc một phần
quyết định hành chính, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ
việc cạnh tranh thì quyết định hoặc phần quyết định bị hủy không còn hiệu lực.
Các bên đương sự căn cứ vào quyền và nghĩa vụ đã được xác định trong bản án,
quyết định của Tòa án để thi hành;
c) Trường hợp bản án, quyết định của Tòa án đã hủy quyết định kỷ luật buộc
thôi việc thì quyết định kỷ luật buộc thôi việc bị hủy không còn hiệu lực.
Người đứng đầu cơ quan, tổ chức đã ra quyết định kỷ luật buộc thôi việc phải
thực hiện bản án, quyết định của Tòa án;
d) Trường hợp bản án, quyết định của Tòa án đã tuyên bố hành vi hành chính
đã thực hiện là trái pháp luật thì người phải thi hành án phải đình chỉ thực
hiện hành vi hành chính đó kể từ ngày nhận được bản án, quyết định của Tòa án;
đ) Trường hợp bản án, quyết định của Tòa án tuyên bố hành vi không thực
hiện nhiệm vụ, công vụ là trái pháp luật thì người phải thi hành án phải thực
hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật kể từ ngày nhận được bản án,
quyết định của Tòa án;
e) Trường hợp bản án, quyết định của Tòa án buộc cơ quan lập danh sách cử
tri sửa đổi, bổ sung danh sách cử tri thì người phải thi hành án phải thực hiện
ngay việc sửa đổi, bổ sung đó khi nhận được bản án, quyết định của Tòa án;
g) Trường hợp Tòa án ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì
người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải thi hành ngay khi nhận được
quyết định;
h) Quyết định về phần tài sản trong
bản án, quyết định của Tòa án được thi hành theo quy định của pháp luật về thi
hành án dân sự.
2. Thời hạn tự nguyện thi hành án được xác định như sau:
a) Người phải thi hành án phải thi hành ngay bản án, quyết định quy định
tại điểm e và điểm g khoản 1 Điều này kể từ ngày nhận được bản án, quyết định
của Tòa án;
b) Người phải thi hành án phải thi hành bản án, quyết định của Tòa án quy
định tại các điểm a, b, c, d và đ khoản 1 Điều này trong thời hạn 30 ngày kể từ
ngày nhận được bản án, quyết định của Tòa án.
Cơ quan phải thi hành bản án, quyết định của Tòa án phải thông báo kết quả
thi hành án quy định tại khoản này bằng văn bản cho Tòa án đã xét xử sơ thẩm và
cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp với Tòa án đã xét xử sơ thẩm vụ án đó.
3. Quá thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này mà người phải thi hành án
không thi hành thì người được thi hành án có quyền gửi đơn đến Tòa án đã xét xử
sơ thẩm ra quyết định buộc thi hành bản án, quyết định của Tòa án theo quy định
tại khoản 1 Điều 312 của Luật này.
Điều 312. Yêu cầu, quyết định
buộc thi hành bản án, quyết định của Tòa án
1. Trong thời hạn 01 năm kể từ ngày hết thời hạn quy định tại điểm b khoản
2 Điều 311 của Luật này mà người phải thi hành án không tự nguyện thi hành thì
người được thi hành án có quyền gửi đơn kèm theo bản sao bản án, quyết định của
Tòa án, tài liệu khác có liên quan đề nghị Tòa án đã xét xử sơ thẩm ra quyết
định buộc thi hành bản án, quyết định của Tòa án.
Trường hợp người
yêu cầu thi hành án chứng minh được do trở ngại khách quan hoặc do sự kiện bất
khả kháng mà không thể yêu cầu thi hành án đúng thời hạn thì thời gian có trở
ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng không tính vào thời hạn yêu cầu thi
hành án.
2. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu của người được thi hành án, Tòa án đã xét xử sơ thẩm phải
ra quyết định buộc thi hành án hành chính. Quyết định buộc thi hành án phải
được gửi cho người phải thi hành án, người được thi hành án, thủ trưởng cơ quan
cấp trên trực tiếp của người phải thi hành án và Viện kiểm sát cùng cấp. Thủ
trưởng cơ quan cấp trên trực tiếp của người phải thi hành án có trách nhiệm
kiểm tra, đôn đốc và xử lý trách nhiệm của người phải thi hành án theo quy định
của pháp luật. Quyết định buộc thi hành án cũng phải gửi cho cơ quan thi hành
án dân sự nơi Tòa án đã xét xử sơ thẩm để theo dõi việc thi hành án hành chính
theo quyết định của Tòa án.
3. Chính phủ quy định cụ thể về thời hạn, trình tự, thủ tục thi hành án
hành chính và xử lý trách nhiệm đối với người không thi hành bản án, quyết định
của Tòa án.
Điều 313. Quản lý nhà nước về thi
hành án hành chính
1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về công tác thi hành án hành chính
trong phạm vi cả nước; phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân
dân tối cao trong công tác quản lý nhà nước về thi hành án hành chính; định kỳ
hằng năm báo cáo Quốc hội về công tác thi hành án
hành chính.
2. Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước
về thi hành án hành chính và có những nhiệm vụ, quyền hạn sau
đây:
a) Ban hành hoặc trình cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp
luật về thi hành án hành chính;
b) Bảo đảm biên chế, cơ sở vật chất, phương tiện cho công tác quản lý nhà
nước về thi hành án hành chính;
c) Hướng dẫn, chỉ đạo, bồi dưỡng nghiệp vụ về quản lý thi hành án hành
chính; phổ biến, giáo dục pháp luật về thi hành án hành chính;
d) Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo về quản lý thi hành án
hành chính;
đ) Báo cáo Chính phủ về công tác thi hành án hành chính;
e) Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch thống kê, theo dõi, tổng kết công
tác thi hành án hành chính.
Điều 314. Xử lý vi phạm trong thi
hành án hành chính
1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân phải thi hành án cố ý không chấp hành bản án,
quyết định của Tòa án, quyết định buộc thi hành án của Tòa án thì tùy từng
trường hợp mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi
phạm hành
chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của luật.
2. Người lợi dụng chức vụ, quyền hạn cố ý cản trở việc thi hành án thì tùy
từng trường hợp mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của
luật; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
Điều 315. Kiểm sát việc thi hành
bản án, quyết định của Tòa án
Viện kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp luật của đương sự, cơ quan, tổ
chức, cá nhân có liên quan đến việc thi
hành bản án, quyết định của Tòa án bảo đảm việc thi hành bản án, quyết định kịp
thời, đầy đủ, đúng pháp luật.
Viện kiểm sát có quyền kiến nghị với cơ quan, tổ chức, cá nhân có
nghĩa vụ thi hành án hành chính và cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp của cơ quan,
tổ chức phải chấp hành bản án, quyết định của Tòa án để có biện pháp tổ chức
thi hành nghiêm chỉnh bản án, quyết định của Tòa án.
XỬ LÝ CÁC HÀNH VI CẢN TRỞ HOẠT
ĐỘNG TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH
Điều 316. Xử lý hành vi vi phạm
nội quy phiên tòa
1. Người có hành vi vi phạm nội quy phiên tòa quy định tại Điều 153 của
Luật này thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà có thể bị Chủ tọa phiên tòa quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.
2. Chủ tọa phiên tòa có quyền ra quyết định buộc người vi phạm quy định tại
khoản 1 Điều này rời khỏi phòng xử án. Cơ quan công an có nhiệm vụ bảo vệ phiên
tòa hoặc người có nhiệm vụ bảo vệ trật tự phiên tòa thi hành quyết định của Chủ tọa phiên tòa về việc buộc rời khỏi phòng xử án hoặc
tạm giữ hành chính người gây rối trật tự tại phiên tòa.
3. Trường hợp người vi phạm nội quy phiên tòa đến mức phải bị truy cứu
trách nhiệm hình sự thì Tòa án có quyền khởi tố vụ án hình sự theo quy định của
pháp luật về tố tụng hình sự.
4. Quy định tại Điều này cũng được áp dụng đối với người có hành vi vi phạm
tại phiên họp của Tòa án.
Người có hành vi xúc phạm uy tín của Tòa án, danh dự, nhân phẩm của những
người tiến hành tố tụng hoặc những người khác thực hiện nhiệm vụ theo yêu cầu
của Tòa án thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy
định của pháp luật.
Điều 318. Xử lý hành vi cản trở
hoạt động xác minh, thu thập chứng cứ của Tòa án
Người nào có một trong các hành vi sau đây thì tùy theo tính chất, mức độ
vi phạm mà có thể bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi
phạm hành
chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật:
1. Làm giả, hủy hoại chứng cứ quan trọng gây trở ngại cho việc giải quyết
vụ án của Tòa án;
2. Từ chối khai báo, khai báo gian dối hoặc cung cấp tài liệu sai sự thật khi làm chứng;
3. Từ chối kết luận giám định hoặc từ chối cung cấp tài liệu mà không có lý
do chính đáng, kết luận giám định sai sự thật;
4. Lừa dối, đe dọa, cưỡng ép, mua chuộc, sử dụng vũ lực nhằm ngăn cản người
làm chứng ra làm chứng hoặc buộc người khác ra làm chứng gian dối;
5. Lừa dối, đe dọa, cưỡng ép, mua chuộc, sử dụng vũ lực nhằm ngăn cản người
giám định thực hiện nhiệm vụ hoặc buộc người giám định kết luận sai với sự thật
khách quan;
6. Lừa dối, đe dọa, cưỡng ép, mua chuộc, sử dụng vũ lực nhằm ngăn cản người
phiên dịch thực hiện nhiệm vụ hoặc buộc người phiên dịch dịch không trung thực,
không khách quan, không đúng nghĩa;
7. Cản trở người tiến hành tố tụng xem xét, thẩm
định tại chỗ, quyết định định giá, quyết định trưng cầu giám định hoặc xác
minh, thu thập chứng cứ khác theo quy
định của Luật
này;
8. Cố ý dịch sai sự thật;
9. Không cử người tham gia Hội đồng định giá theo yêu cầu của Tòa án mà
không có lý do chính đáng; không tham gia thực hiện nhiệm vụ của Hội đồng định
giá mà không có lý do chính đáng.
Điều 319. Xử lý hành vi cố ý
không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án
1. Người làm chứng, người phiên dịch,
người giám định đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng cố ý không đến Tòa án hoặc không có
mặt tại phiên tòa, phiên họp mà không có lý do chính
đáng và nếu sự vắng mặt của họ gây trở ngại cho việc thu thập, xác minh chứng
cứ hoặc giải quyết vụ án thì bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.
2. Trường hợp quy định tại khoản 1
Điều này, Tòa
án có quyền ra quyết định dẫn giải người làm chứng đến phiên tòa, phiên họp, trừ trường hợp người làm chứng là người
chưa thành niên. Quyết định dẫn giải người làm chứng phải ghi rõ thời gian, địa điểm ra
quyết định; họ, tên, chức vụ người ra quyết định; họ, tên, ngày, tháng, năm
sinh, nơi cư trú của người làm chứng; thời gian, địa điểm người làm chứng phải
có mặt.
3. Cơ quan công an có nhiệm vụ thi hành quyết định của Tòa án dẫn giải
người làm chứng. Người thi hành quyết định dẫn giải người làm chứng phải đọc,
giải thích quyết định dẫn giải cho người bị dẫn giải biết và lập biên bản về
việc dẫn giải.
Điều 320. Xử lý hành vi can thiệp
vào việc giải quyết vụ án
Người nào bằng ảnh hưởng của mình có hành vi tác động dưới bất kỳ hình thức
nào đối với Thẩm phán, thành viên Hội đồng xét xử nhằm làm cho việc giải quyết
vụ án không khách quan, không đúng pháp luật thì tùy theo tính chất, mức độ vi
phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm
hành chính
hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
Điều 321. Trách nhiệm của Tòa án,
Viện kiểm sát trong trường hợp Tòa án khởi tố vụ án hình sự
1. Trường hợp Tòa án khởi tố vụ án hình sự theo quy định tại khoản 3 Điều
316 của Luật này thì trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày ra quyết định khởi tố,
Tòa án phải chuyển cho Viện kiểm sát có thẩm quyền quyết định khởi tố vụ án và
tài liệu, chứng cứ để chứng minh hành vi phạm tội.
2. Viện kiểm sát có trách nhiệm xem xét, xử lý theo quy định của Bộ luật tố
tụng hình sự.
Người có một trong các hành vi sau đây thì tùy theo tính chất, mức độ vi
phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm
hành chính
hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật:
1. Không thực hiện việc cấp, giao, tống đạt hoặc thông báo văn bản tố tụng
của Tòa án theo yêu cầu của Tòa án mà không có lý do chính đáng;
2. Hủy hoại văn bản tố tụng của Tòa án mà mình được giao để cấp, tống đạt hoặc thông báo theo yêu cầu của Tòa án;
3. Giả mạo kết quả thực hiện việc tống đạt, thông báo văn bản tố tụng của
Tòa án mà mình được giao thực hiện;
4. Ngăn cản việc cấp, giao, nhận, tống đạt hoặc thông báo văn bản tố tụng
của Tòa án.
Người có hành vi đe dọa, hành hung hoặc lợi dụng sự lệ thuộc nhằm cản trở
đại diện của cơ quan, tổ chức, cá nhân đến phiên tòa,
phiên họp theo triệu tập của Tòa án thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà
bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách
nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
Điều 324. Xử lý hành vi đưa tin
sai sự thật nhằm cản trở việc giải quyết vụ án của Tòa án
Người có hành vi đưa tin sai sự thật nhằm cản trở Tòa án giải quyết
vụ án thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy
định của pháp luật.
1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân không thi hành quyết định của Tòa án về việc
cung cấp tài liệu, chứng cứ mà cơ quan, tổ chức, cá
nhân đó đang quản lý, lưu giữ thì bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.
2. Cá nhân, người đứng đầu cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 1 Điều này tùy
theo mức độ vi phạm mà có thể bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm
hình sự theo quy định của pháp luật.
Điều 326. Hình thức xử phạt, thẩm
quyền, trình tự, thủ tục, xử phạt
Hình thức xử phạt, thẩm quyền, trình tự, thủ tục xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi cản trở hoạt động tố tụng
hành chính được thực hiện theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính và quy định khác của pháp luật có liên quan.
KHIẾU NẠI, TỐ CÁO TRONG TỐ TỤNG
HÀNH CHÍNH
Điều 327. Quyết định, hành vi trong
tố tụng hành chính có thể bị khiếu nại
1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại quyết định, hành vi trong
tố tụng hành chính của cơ quan, người tiến hành tố tụng hành chính khi có căn
cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích
hợp pháp của mình.
2. Đối với bản án, quyết định sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm
của Tòa án nếu có kháng cáo, kháng nghị và các quyết định tố tụng khác do người
tiến hành tố tụng hành chính ban hành nếu có khiếu nại, kiến nghị thì không
giải quyết theo quy định của Chương này mà được giải quyết theo quy định của
các chương tương ứng của Luật này.
Điều 328. Quyền, nghĩa vụ của
người khiếu nại
1. Người khiếu nại có các quyền sau đây:
a) Tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khiếu nại;
b) Khiếu nại trong bất kỳ giai đoạn nào của quá trình giải quyết vụ án;
c) Rút khiếu nại trong bất kỳ giai đoạn nào của quá trình giải quyết
khiếu nại;
d) Được nhận văn bản trả lời về việc thụ lý để giải quyết khiếu nại; nhận
quyết định giải quyết khiếu nại;
đ) Được khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp đã bị
xâm phạm, được bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.
2. Người khiếu nại có các nghĩa vụ sau đây:
a) Khiếu nại đến đúng người có thẩm quyền giải quyết;
b) Trình bày trung thực sự việc, cung cấp thông tin, tài liệu cho người
giải quyết khiếu nại; chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung trình bày và
việc cung cấp thông tin, tài liệu đó;
c) Không được lạm dụng quyền khiếu nại để cản trở hoạt động tố tụng của Tòa
án;
d) Chấp hành quyết định, hành vi của người tiến hành tố tụng mà mình đang
khiếu nại trong thời gian khiếu nại;
đ) Chấp hành quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật.
Điều 329. Quyền, nghĩa vụ của
người bị khiếu nại
1. Người bị khiếu nại có các quyền sau đây:
a) Được biết các căn cứ khiếu nại của người khiếu nại; đưa ra bằng chứng về
tính hợp pháp của quyết định, hành vi trong tố tụng bị khiếu nại;
b) Được nhận quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định, hành vi trong
tố tụng của mình.
2. Người bị khiếu nại có các nghĩa vụ sau đây:
a) Giải trình về quyết định, hành vi trong tố tụng hành chính bị khiếu nại;
cung cấp thông tin, tài liệu liên quan khi cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm
quyền yêu cầu;
b) Chấp hành quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật;
c) Bồi thường thiệt hại, bồi hoàn hoặc khắc phục hậu quả do quyết định,
hành vi trong tố tụng hành chính trái pháp luật của mình gây ra theo quy định
của pháp luật.
Thời hiệu khiếu nại là 10 ngày kể từ ngày người khiếu nại nhận được hoặc
biết được quyết định, hành vi tố tụng mà người đó cho rằng có vi phạm pháp
luật.
Trường hợp có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan mà người khiếu
nại không thực hiện được quyền khiếu nại theo đúng thời hạn quy định tại Điều này
thì thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan đó không tính
vào thời hiệu khiếu nại.
Việc khiếu nại phải được thực hiện bằng đơn. Trong đơn khiếu nại phải ghi
rõ ngày, tháng, năm; họ, tên, địa chỉ của người khiếu nại; nội dung, lý do
khiếu nại, yêu cầu của người khiếu nại, có chữ ký hoặc điểm chỉ của người khiếu
nại.
Điều 332. Thẩm quyền giải quyết
khiếu nại đối với quyết định, hành vi của người tiến hành tố tụng
1. Khiếu nại quyết định,
hành vi của người tiến hành tố tụng là Thẩm phán, Phó Chánh án, Thẩm tra viên,
Thư ký Tòa án, Hội thẩm nhân dân do Chánh án Tòa án đang giải quyết vụ án hành
chính có thẩm quyền giải quyết.
Đối với khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của Chánh án Tòa án thì Chánh
án Tòa án trên một cấp trực tiếp có thẩm quyền giải
quyết.
2. Khiếu nại quyết định,
hành vi của người tiến hành tố tụng là Kiểm sát viên, Phó Viện trưởng Viện kiểm
sát, Kiểm tra viên do Viện trưởng Viện kiểm sát giải quyết.
Đối với khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của Viện trưởng Viện kiểm sát
thì Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có thẩm quyền giải quyết.
3. Khiếu nại quyết định giải
quyết khiếu nại lần đầu của Chánh án Tòa án, Viện trưởng Viện kiểm sát quy định
tại khoản 1 và khoản 2 Điều này do Chánh án Tòa án trên một cấp trực tiếp, Viện trưởng Viện kiểm sát cấp
trên trực tiếp giải quyết.
Điều 333. Thời hạn giải quyết
khiếu nại
Thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu là 15 ngày kể từ ngày Tòa án, Viện
kiểm sát nhận được khiếu nại. Trường hợp cần thiết, đối với vụ việc có tính
chất phức tạp thì thời hạn giải quyết khiếu nại có thể được kéo dài nhưng không
quá 15 ngày kể từ ngày hết thời hạn giải quyết khiếu nại.
Điều 334. Nội dung quyết định
giải quyết khiếu nại lần đầu
1. Người giải quyết khiếu nại lần đầu phải ra quyết định giải quyết khiếu
nại bằng văn bản. Quyết định giải quyết khiếu nại phải có các nội dung sau đây:
a) Ngày, tháng, năm ra quyết định;
b) Tên, địa chỉ của người khiếu nại, người bị khiếu nại;
c) Nội dung khiếu nại;
d) Kết quả xác minh nội dung khiếu nại;
đ) Căn cứ pháp luật để giải quyết khiếu nại;
e) Nội dung quyết định giải quyết khiếu nại.
2. Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu phải được gửi cho người khiếu
nại, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan; trường hợp là quyết định của Chánh
án Tòa án thì còn phải gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp.
Điều 335. Thủ tục giải quyết
khiếu nại lần hai
1. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày người khiếu nại nhận được
quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu, nếu không đồng ý với quyết định đó
hoặc quá thời hạn quy định tại Điều 333 của Luật này mà khiếu nại không được
giải quyết thì người khiếu nại có quyền khiếu nại đến người có thẩm quyền giải
quyết khiếu nại lần hai.
2. Đơn khiếu nại phải kèm theo bản sao quyết định giải quyết khiếu nại lần
đầu và các tài liệu kèm theo.
3. Quyết định giải quyết khiếu nại lần hai phải có các nội dung sau đây:
a) Nội dung quy định tại các điểm a, b, c, d và đ khoản 1
Điều 334 của Luật này;
b) Kết quả giải quyết khiếu nại của người giải quyết khiếu nại lần đầu;
c) Kết luận về từng vấn đề cụ thể trong nội dung khiếu nại của người khiếu
nại và việc giải quyết của người giải quyết khiếu nại lần hai.
4. Quyết định giải quyết khiếu nại lần hai phải được gửi cho người khiếu
nại, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan; trường hợp là quyết định của Chánh
án Tòa án thì còn phải gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp.
5. Quyết định giải quyết khiếu nại lần hai có hiệu lực thi hành.
Điều 336. Giải quyết khiếu nại về hoạt động giám định trong tố tụng
hành chính
Việc giải quyết khiếu nại về hoạt động giám định trong tố tụng hành chính được thực hiện theo quy định của pháp luật về giám định tư pháp và quy định khác của pháp luật có liên quan.
Điều 337. Người có quyền tố cáo
Cá nhân có quyền tố cáo với cơ
quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về hành vi vi phạm pháp luật của người có
thẩm quyền tiến hành tố tụng gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước, quyền và
lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Điều 338. Quyền, nghĩa vụ của
người tố cáo
1. Người tố cáo có các quyền sau đây:
a) Gửi đơn hoặc trực tiếp tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm
quyền;
b) Yêu cầu giữ bí mật họ, tên, địa chỉ, bút tích của mình;
c) Yêu cầu được thông báo kết quả giải quyết tố cáo;
d) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền bảo vệ khi bị đe dọa,
trù dập, trả thù.
2. Người tố cáo có các nghĩa vụ sau đây:
a) Trình bày trung thực về nội dung tố cáo;
b) Nêu rõ họ, tên, địa chỉ của mình;
c) Chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc tố cáo sai sự thật.
Điều 339. Quyền, nghĩa vụ của
người bị tố cáo
1. Người bị tố cáo các có quyền sau đây:
a) Được thông báo về nội dung tố cáo;
b) Đưa ra bằng chứng để chứng minh nội dung tố cáo là không đúng
sự thật;
c) Được khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm
phạm; được phục hồi danh dự, được bồi thường thiệt hại do việc tố cáo không
đúng gây ra;
d) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý người tố cáo sai
sự thật.
2. Người bị tố cáo có các nghĩa vụ sau đây:
a) Giải trình về hành vi bị tố cáo; cung cấp thông tin, tài liệu liên quan
khi cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền yêu cầu;
b) Chấp hành quyết định xử lý của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền;
c) Bồi thường thiệt hại, bồi hoàn hoặc khắc phục hậu quả do hành vi tố tụng
hành chính trái pháp luật của mình gây ra theo quy định của pháp luật.
Điều 340. Thẩm quyền và thời hạn
giải quyết tố cáo
1. Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của người có thẩm quyền tiến hành tố
tụng thuộc cơ quan có thẩm quyền nào thì người đứng đầu cơ quan đó có trách
nhiệm giải quyết.
Trường hợp người bị tố cáo là Chánh án, Phó Chánh án Tòa án, Viện trưởng,
Phó Viện trưởng Viện kiểm sát thì Chánh án Tòa án trên một cấp trực tiếp, Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực
tiếp có trách nhiệm giải quyết.
Thời hạn giải quyết tố cáo là 60 ngày kể từ ngày nhận được tố cáo; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết
tố cáo có thể dài hơn, nhưng không quá 90 ngày.
2. Tố cáo về hành vi vi phạm pháp luật có dấu hiệu tội phạm được giải quyết
theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Điều 341. Thủ tục giải quyết tố
cáo
Thủ tục giải quyết tố cáo được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố
cáo.
Điều 342. Trách nhiệm của người
có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo
1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong phạm vi nhiệm vụ, quyền
hạn của mình có trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết kịp thời, đúng pháp luật;
xử lý nghiêm minh người vi phạm; áp dụng biện pháp cần thiết nhằm ngăn chặn
thiệt hại có thể xảy ra; bảo đảm cho quyết định giải quyết được thi hành nghiêm
chỉnh và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình.
2. Người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo mà không giải quyết,
thiếu trách nhiệm trong việc giải quyết, giải quyết trái pháp luật thì tùy theo
tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình
sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
Viện kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giải quyết khiếu
nại, tố cáo trong tố tụng hành chính theo quy định của pháp luật. Viện kiểm sát
có quyền yêu cầu, kiến nghị đối với Tòa án cùng cấp, Tòa án cấp dưới, cơ quan, tổ chức và cá nhân có trách nhiệm bảo
đảm việc giải quyết khiếu nại, tố cáo có căn cứ, đúng pháp luật.
Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao
quy định chi tiết Điều này.
ÁN PHÍ, LỆ PHÍ VÀ CÁC CHI PHÍ TỐ
TỤNG KHÁC
ÁN PHÍ, LỆ PHÍ
Điều 344. Tiền tạm ứng án phí, án
phí, lệ phí
1. Tiền tạm ứng án phí bao gồm tiền tạm ứng án phí sơ thẩm và tiền tạm ứng
án phí phúc thẩm.
2. Án phí bao gồm án phí sơ thẩm và án phí phúc thẩm.
3. Lệ phí bao gồm lệ phí cấp bản sao bản án, quyết định, giấy tờ khác của Tòa án và khoản lệ phí khác mà luật có
quy định.
Điều 345. Xử lý tiền tạm ứng án
phí, án phí, lệ phí thu được
1. Toàn bộ án phí, lệ phí thu được phải nộp đầy đủ, kịp thời vào ngân sách
nhà nước tại kho bạc nhà nước.
2. Tiền tạm ứng án phí được nộp cho cơ quan thi hành án có thẩm quyền để
gửi vào tài khoản tạm giữ mở tại kho bạc nhà nước và được rút ra để thi hành án
theo quyết định của Tòa án.
3. Người đã nộp tiền tạm ứng án phí thì ngay sau khi bản án, quyết định của
Tòa án có hiệu lực thi hành, số tiền tạm ứng đã thu được phải được nộp vào ngân
sách nhà nước.
Trường hợp người đã nộp tiền tạm ứng án phí được hoàn trả một phần hoặc
toàn bộ số tiền đã nộp theo bản án, quyết định của Tòa án thì cơ quan thi hành
án đã thu tiền tạm ứng án phí phải làm thủ tục trả lại tiền cho họ.
4. Trường hợp việc giải quyết vụ án hành chính bị tạm đình chỉ thì tiền tạm
ứng án phí đã nộp được xử lý khi vụ án được tiếp tục giải quyết.
Điều 346. Chế độ thu, chi trả
tiền tạm ứng án phí, án phí, lệ phí
Việc thu tiền tạm ứng án phí và án phí, việc chi trả tiền tạm ứng án phí,
việc thu tiền lệ phí được thực hiện theo quy định của pháp luật.
Điều 347. Nghĩa vụ nộp tiền tạm
ứng án phí
Người khởi kiện và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc
lập trong vụ án hành chính phải nộp tiền tạm ứng án phí sơ thẩm, người kháng
cáo theo thủ tục phúc thẩm phải nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm, trừ trường
hợp được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí.
Điều 348. Nghĩa vụ nộp án phí sơ
thẩm
1. Đương sự phải chịu án phí sơ thẩm nếu yêu cầu của họ không được Tòa án
chấp nhận, trừ trường hợp được miễn nộp án phí hoặc không phải chịu án phí sơ thẩm.
2. Trước khi mở phiên tòa, Tòa án tiến hành đối thoại nếu các bên đương sự
đối thoại thành về việc giải quyết vụ án thì họ chỉ phải chịu 50% mức án phí sơ
thẩm quy định tại khoản 1 Điều này.
3. Trong vụ án có đương sự được miễn nộp án phí sơ thẩm thì đương sự khác
vẫn phải nộp án phí sơ thẩm mà mình phải chịu theo quy định tại khoản 1 và
khoản 2 Điều này.
4. Trường hợp vụ án bị tạm đình chỉ giải quyết thì nghĩa vụ nộp án phí sơ
thẩm được quyết định khi vụ án được tiếp tục giải quyết theo quy định tại Điều
này.
Điều 349. Nghĩa vụ chịu án phí phúc thẩm
1. Đương sự kháng cáo phải nộp án phí phúc thẩm, nếu Tòa án cấp phúc thẩm
giữ nguyên bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, trừ trường hợp được miễn
hoặc không phải chịu án phí phúc thẩm.
2. Trường hợp Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng
cáo thì đương sự kháng cáo không phải nộp án phí phúc thẩm; Tòa án cấp phúc
thẩm phải xác định lại nghĩa vụ nộp án phí sơ thẩm theo quy định tại Điều 348
của Luật này.
3. Trường hợp Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng
cáo để xét xử sơ thẩm lại thì đương sự kháng cáo không phải nộp án phí phúc
thẩm; nghĩa vụ nộp án phí được xác định lại khi giải quyết sơ thẩm lại vụ án.
Nghĩa vụ nộp lệ phí được xác định tùy theo từng loại việc cụ thể và do luật
quy định.
Điều 351. Quy định cụ thể về án
phí, lệ phí
Căn cứ vào quy
định của Luật phí và lệ phí và Luật này, Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định cụ
thể về án phí, lệ phí Tòa án; mức thu án phí, lệ phí Tòa án đối với mỗi loại vụ án; các trường hợp được miễn, giảm hoặc không phải nộp
án phí và các
vấn đề cụ thể khác liên quan đến án phí, lệ phí Tòa án.
CÁC CHI PHÍ TỐ TỤNG KHÁC
Điều 352. Tiền tạm ứng chi phí ủy
thác tư pháp, chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài
1. Tiền tạm ứng chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài là số tiền mà Tòa án
tạm tính để chi trả cho việc ủy thác tư pháp khi tiến hành thu thập, cung cấp
chứng cứ, tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu, triệu tập người làm chứng, người
giám định và các yêu cầu tương trợ tư pháp có liên quan đến việc giải quyết vụ án hành chính.
2. Chi phí ủy thác tư pháp là số tiền cần thiết và hợp lý phải chi trả cho
việc thực hiện ủy thác tư pháp theo quy định của pháp luật Việt Nam và của nước
được yêu cầu ủy thác tư pháp.
Điều 353. Nghĩa vụ nộp tiền tạm
ứng chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài
Người khởi kiện, người kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm hoặc đương sự khác
trong vụ án phải nộp tiền tạm ứng chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài khi yêu
cầu của họ làm phát sinh việc ủy thác tư pháp ra nước ngoài.
Điều 354. Nghĩa vụ chịu chi phí
ủy thác tư pháp ra nước ngoài
Trường hợp các đương sự không có thỏa thuận khác hoặc pháp luật không có
quy định khác thì nghĩa vụ chịu chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài được xác
định như sau:
1. Đương sự phải chịu chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài nếu yêu cầu
giải quyết vụ án của họ không được Tòa án chấp nhận;
2. Trường hợp đình chỉ giải quyết vụ án quy định tại điểm c khoản 1 Điều
143, khoản 1 Điều 234 của Luật này thì người khởi kiện phải chịu chi phí ủy
thác tư pháp ra nước ngoài.
Trường hợp đình chỉ giải quyết việc xét xử phúc thẩm quy định tại điểm a
khoản 2 Điều 225, điểm c khoản 1 Điều 229 của Luật này thì người kháng cáo theo
thủ tục phúc thẩm phải chịu chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài;
3. Đối với các trường hợp đình chỉ giải quyết vụ án khác theo quy định của
Luật này thì người yêu cầu phải chịu chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài.
Điều 355. Xử lý tiền tạm ứng chi
phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài
1. Trường hợp người đã nộp tiền tạm ứng chi phí ủy thác tư pháp không phải
chịu chi phí ủy thác tư pháp thì người phải chịu chi phí ủy thác tư pháp theo
quyết định của Tòa án phải hoàn trả cho người đã nộp tiền tạm ứng chi phí ủy
thác tư pháp.
2. Trường hợp người đã nộp tiền tạm ứng chi phí ủy thác tư pháp phải chịu
chi phí ủy thác tư pháp, nếu số tiền tạm ứng đã nộp chưa đủ cho chi phí ủy thác
tư pháp thực tế thì họ phải nộp thêm phần tiền còn thiếu; nếu số tiền tạm ứng
đã nộp nhiều hơn chi phí ủy thác tư pháp thực tế thì họ được trả lại phần tiền
còn thừa theo quyết định của Tòa án.
Điều 356. Tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và chi phí
xem xét, thẩm định tại chỗ
1. Tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là số
tiền mà Tòa án tạm tính để tiến hành việc xem
xét, thẩm
định tại chỗ.
2. Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là số
tiền cần thiết và hợp lý phải chi trả cho công việc xem xét, thẩm định tại chỗ căn cứ vào quy định của pháp luật.
Điều 357. Nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ
1. Người yêu cầu Tòa án xem xét, thẩm định tại chỗ phải
nộp tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ theo
yêu cầu của Tòa án.
2. Trường hợp Tòa án xét thấy cần thiết và quyết định xem xét, thẩm định tại chỗ thì người khởi kiện, người kháng cáo
theo thủ tục phúc thẩm phải nộp tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.
Điều 358. Nghĩa vụ chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ
Trường hợp các bên đương sự không có thỏa thuận khác hoặc pháp luật không
có quy định khác thì nghĩa vụ chịu chi phí xem
xét, thẩm
định tại chỗ được xác định như sau:
1. Đương sự phải chịu chi phí xem
xét, thẩm
định tại chỗ nếu yêu cầu của họ không được Tòa án chấp nhận;
2. Trường hợp đình chỉ giải quyết vụ án quy định tại điểm c khoản 1 Điều
143, khoản 1 Điều 234 của Luật này thì đương sự phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.
Trường hợp đình chỉ giải quyết việc xét xử phúc thẩm quy định tại điểm a
khoản 2 Điều 225, điểm c khoản 1 Điều 229 của Luật này thì người kháng cáo theo
thủ tục phúc thẩm phải chịu chi phí xem
xét, thẩm
định tại chỗ;
3. Đối với các trường hợp đình chỉ giải quyết vụ án khác theo quy định của
Luật này thì người yêu cầu xem xét, thẩm định phải chịu chi
phí xem xét, thẩm định tại chỗ.
Điều 359. Xử lý tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ
1. Trường hợp người đã nộp tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ không phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ thì người phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ theo quyết định của Tòa án phải hoàn
trả cho người đã nộp tiền tạm ứng chi phí xem
xét, thẩm
định tại chỗ.
2. Trường hợp người đã nộp tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, nếu số tiền tạm ứng đã nộp chưa đủ cho
chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ thực tế thì họ
phải nộp thêm phần tiền còn thiếu; nếu số tiền tạm ứng đã nộp nhiều hơn chi phí
xem xét, thẩm định tại chỗ thực tế thì họ
được trả lại phần tiền còn thừa theo quyết định của Tòa án.
Điều 360. Tiền tạm ứng chi phí
giám định, chi phí giám định
1. Tiền tạm ứng chi phí giám định là số tiền mà người
giám định tạm tính để tiến hành việc giám định theo quyết định của Tòa án hoặc
theo yêu cầu giám định của đương sự.
2. Chi phí giám định là số tiền cần thiết và hợp lý phải chi trả cho việc
giám định và do người giám định tính căn cứ vào quy định của pháp luật.
Điều 361. Nghĩa vụ nộp tiền tạm
ứng chi phí giám định
Trường hợp các đương sự không có thỏa thuận khác hoặc pháp luật không có
quy định khác thì nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng chi phí giám định được xác định như
sau:
1. Người yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định phải nộp tiền tạm ứng chi phí
giám định.
Trường hợp các đương sự yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định về cùng một đối
tượng thì mỗi bên đương sự phải nộp một nửa số tiền tạm ứng chi phí giám định;
2. Trường hợp Tòa án xét thấy cần thiết và quyết định trưng cầu giám định
thì người khởi kiện, người kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm phải nộp tiền tạm
ứng chi phí giám định;
3. Đương sự, người kháng cáo đã yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định mà không
được chấp nhận và tự mình yêu cầu tổ chức, cá nhân thực hiện giám định thì việc
nộp tiền tạm ứng chi phí giám định được thực hiện theo quy định của Luật giám
định tư pháp.
Điều 362. Nghĩa vụ chịu chi phí
giám định
Trường hợp các bên đương sự không có thỏa thuận khác hoặc pháp luật không
có quy định khác thì nghĩa vụ chịu chi phí giám định được xác định như sau:
1. Người yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định phải chịu chi phí giám định,
nếu kết quả giám định chứng minh yêu cầu của người đó là không có căn cứ.
Trường hợp kết quả giám định chứng minh yêu cầu của họ chỉ có căn cứ một phần
thì họ phải nộp chi phí giám định đối với phần yêu cầu của họ đã được chứng
minh là không có căn cứ;
2. Người không chấp nhận yêu cầu trưng cầu giám định của đương sự khác
trong vụ án phải nộp chi phí giám định, nếu kết quả giám định chứng minh yêu
cầu của người yêu cầu trưng cầu giám định là có căn cứ. Trường hợp kết quả giám
định chứng minh yêu cầu trưng cầu giám định chỉ có căn cứ một phần thì người
không chấp nhận yêu cầu trưng cầu giám định phải chịu chi phí giám định tương
ứng với phần yêu cầu đã được chứng minh là có căn cứ;
3. Trường hợp đình chỉ giải quyết vụ án theo
quy định tại
điểm c khoản 1 Điều 143, khoản 1 Điều 234 của Luật này thì người khởi kiện phải
chịu chi phí giám định.
Trường hợp đình chỉ giải quyết việc xét xử phúc thẩm theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 225, điểm c khoản 1 Điều
229 của Luật này thì người kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm phải chịu chi phí
giám định;
4. Trường hợp người tự mình yêu cầu giám định theo quy định tại khoản 3
Điều 361 của Luật này, nếu kết quả giám định chứng minh yêu cầu của người đó là
có căn cứ thì người thua kiện phải chịu chi phí giám định. Trường hợp kết quả
giám định chứng minh yêu cầu giám định của họ chỉ có căn cứ một phần thì họ
phải nộp chi phí giám định đối với phần yêu cầu của họ đã được chứng minh là
không có căn cứ;
5. Đối với các trường hợp đình chỉ giải quyết vụ án khác theo quy định của
Luật này thì người yêu cầu trưng cầu giám định phải chịu chi phí giám định.
Điều 363. Xử lý tiền tạm ứng chi
phí giám định đã nộp
1 Trường hợp người đã nộp tiền tạm ứng chi phí giám định không phải chịu
chi phí giám định thì người phải chịu chi phí giám định theo quyết định của Tòa
án phải hoàn trả cho người đã nộp tiền tạm ứng chi phí giám định.
2. Trường hợp người đã nộp tiền tạm ứng chi phí giám định phải chịu chi phí
giám định, nếu số tiền tạm ứng đã nộp chưa đủ cho chi phí giám định thực tế thì
họ phải nộp thêm phần tiền còn thiếu; nếu số tiền tạm ứng đã nộp nhiều hơn chi
phí giám định thực tế thì họ được trả lại phần tiền còn thừa theo quyết định của Tòa án.
Điều 364. Tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản, chi phí định giá tài
sản
1. Tiền tạm ứng chi phí định giá tài
sản là số
tiền mà Hội đồng định giá tạm tính để tiến hành việc định giá theo quyết định
của Tòa án.
2. Chi phí định giá tài sản là số tiền cần thiết, hợp lý phải chi trả cho việc định giá tài sản và do Hội đồng định giá tính căn cứ vào quy định của pháp
luật.
Điều 365. Nghĩa vụ nộp tiền tạm
ứng chi phí định giá tài sản
Trường hợp các đương sự không có thỏa thuận khác hoặc pháp luật không có
quy định khác thì nghĩa vụ chịu chi phí định giá tài sản được xác định như sau:
1. Người yêu cầu định giá tài sản phải nộp tiền tạm ứng chi
phí định giá tài sản;
2. Trường hợp các đương sự không thống nhất được về giá và cùng yêu cầu Tòa
án định giá tài sản thì mỗi bên đương sự phải nộp một
nửa tiền tạm ứng chí phí định giá tài sản. Trường hợp có nhiều đương
sự, thì các bên đương sự cùng phải nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản theo mức mà Tòa án quyết định;
3. Trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 91 của Luật này thì người khởi
kiện, người kháng cáo phải nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản.
Điều 366. Nghĩa vụ chịu chi phí định giá tài sản, thẩm định giá tài
sản
Trường hợp các đương sự không có thỏa thuận khác hoặc pháp luật không có
quy định khác thì nghĩa vụ chịu chi phí định giá tài sản, thẩm định giá tài sản được xác định như sau:
1. Đương sự phải chịu chi phí định giá tài
sản nếu yêu
cầu của họ không được Tòa án chấp nhận;
2. Trường hợp Tòa án ra
quyết định định giá quy định tại điểm d khoản 3 Điều 91 của Luật này thì:
a) Đương sự phải chịu chi phí định giá tài
sản quy định
tại khoản 1 Điều này nếu kết quả định giá chứng minh quyết định định giá tài sản của Tòa án là có căn cứ;
b) Tòa án trả chi phí định giá tài
sản nếu kết
quả định giá chứng minh quyết định định giá tài
sản của Tòa
án là không có căn cứ.
3. Trường hợp đình chỉ
giải quyết vụ án theo quy định tại điểm c khoản
1 Điều 143, khoản 1 Điều 234 của Luật này và Hội đồng định giá đã tiến hành định giá thì người khởi kiện phải chịu chi phí định
giá tài sản.
Trường hợp đình chỉ giải quyết việc xét xử phúc thẩm theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 225, điểm c khoản 1 Điều
229 của Luật này và Hội đồng định giá đã tiến hành
định giá thì người kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm phải chịu chi phí định giá tài sản;
4. Các trường hợp đình chỉ
giải quyết vụ án khác theo quy định của Luật này và Hội đồng định giá đã tiến hành định giá thì người yêu cầu định giá
phải chịu chi phí định giá tài sản.
5. Nghĩa vụ chịu
chi phí thẩm định giá tài sản của đương sự được thực hiện như nghĩa vụ chịu chi
phí định giá tài sản quy định tại các khoản 1, 3 và 4 Điều này.
Điều 367. Xử lý tiền tạm ứng chi
phí định giá tài sản
1. Trường hợp người đã nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản không phải chịu chi phí định giá tài sản thì người phải chịu chi phí định giá tài sản theo quyết định của Tòa án phải hoàn trả cho người đã nộp
tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản.
2. Trường hợp người đã nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản phải chịu chi phí định giá tài sản, nếu số tiền tạm ứng đã nộp chưa đủ cho chi phí định giá thực tế thì họ
phải nộp thêm phần tiền còn thiếu; nếu số tiền tạm ứng đã nộp nhiều hơn chi phí
định giá thực tế thì họ được trả lại phần tiền còn thừa.
Điều 368. Chi phí cho người làm
chứng
1. Chi phí hợp lý và thực tế cho người làm chứng do đương sự chịu.
2. Người đề nghị Tòa án triệu tập người làm chứng phải chịu tiền chi phí
cho người làm chứng nếu lời làm chứng phù hợp với sự thật nhưng không đúng với yêu cầu của người đề nghị. Trường hợp lời làm
chứng phù hợp với sự thật và đúng với yêu cầu của người đề nghị triệu tập người
làm chứng thì chi phí này do đương sự có yêu cầu độc lập với yêu cầu của người
đề nghị chịu.
Điều 369. Chi phí cho người phiên
dịch, luật sư
1. Chi phí cho người phiên dịch là khoản tiền phải trả cho người phiên dịch
trong quá trình giải quyết vụ án hành chính theo thỏa thuận của đương sự với
người phiên dịch hoặc theo quy định của pháp luật.
2. Chi phí cho luật sư là khoản tiền phải trả cho luật sư theo thỏa thuận
của đương sự với luật sư trong phạm vi quy định của tổ chức hành nghề luật sư và theo quy định của pháp
luật.
3. Chi phí cho người phiên dịch, luật sư do người có yêu cầu chịu, trừ
trường hợp các đương sự có thỏa thuận khác.
4. Trường hợp Tòa án yêu cầu người phiên dịch thì chi phí cho người phiên
dịch do Tòa án trả.
Điều 370. Quy định cụ thể về các
chi phí tố tụng khác
Căn cứ vào quy định của Luật này, Ủy
ban thường vụ Quốc hội quy định cụ thể về chi phí ủy thác tư pháp ra nước
ngoài, chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, chi phí giám định, định giá tài
sản; chi phí
cho người làm chứng, người phiên dịch; chi phí tố tụng khác do
luật khác quy định và việc miễn, giảm chi phí tố tụng trong quá trình giải
quyết vụ án.
1. Luật này có hiệu lực thi
hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2016, trừ các quy định sau đây của Luật này có liên quan đến quy định của Bộ luật dân sự số 91/2015/QH13 thì có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm
2017:
a) Quy định liên
quan đến người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi;
b) Quy định liên
quan đến pháp nhân là người đại diện, người giám hộ;
c) Quy định liên
quan đến hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức không có tư cách pháp nhân.
2. Luật tố tụng hành chính số 64/2010/QH12 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này
có hiệu lực.
Ủy ban thường vụ
Quốc hội, Chính
phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong phạm vi
nhiệm vụ, quyền hạn của mình quy định chi tiết các điều, khoản được giao trong Luật./.
____________________________________________________________
Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày
25
tháng 11 năm 2015./.
|
|
CHỦ TỊCH QUỐC HỘI |
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét