|
QUỐC HỘI _____ Luật số: 81/2025/QH15 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập
- Tự do - Hạnh phúc _______________________ |
LUẬT
SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU
CỦA LUẬT TỔ CHỨC TÒA ÁN NHÂN DÂN
Căn cứ Hiến pháp nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo
Nghị quyết số 203/2025/QH15;
Quốc hội ban hành Luật
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân số 34/2024/QH15.
Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Tổ chức Tòa án nhân dân
1.
Sửa
đổi, bổ sung Điều 4 như sau:
“Điều 4. Tổ chức và
thẩm quyền thành lập, giải thể các Tòa án nhân dân
1.
Tổ
chức của Tòa án nhân dân bao gồm:
a)
Tòa
án nhân dân tối cao;
b)
Tòa
án nhân dân tỉnh, thành phố (sau đây gọi là Tòa án nhân dân cấp tỉnh);
c)
Tòa
án nhân dân khu vực;
d)
Tòa
án chuyên biệt tại Trung tâm tài chính quốc tế (sau đây gọi là Tòa án chuyên
biệt);
đ) Tòa án quân sự trung ương, Tòa án
quân sự quân khu và tương đương, Tòa án quân sự khu vực (sau đây gọi chung là
Tòa án quân sự).
2.
Thẩm
quyền thành lập, giải thể Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực;
phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của một số Tòa án nhân dân cấp tỉnh, của Tòa
án nhân dân khu vực và Tòa án quân sự được quy định như sau:
a)
Ủy
ban Thường vụ Quốc hội quyết định thành lập, giải thể Tòa án nhân dân cấp tỉnh,
Tòa án nhân dân khu vực; quy định về phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa
án nhân dân khu vực theo đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao;
b)
Ủy
ban Thường vụ Quốc hội quy định về phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của một số
Tòa án nhân dân cấp tỉnh đối với yêu cầu hủy phán quyết trọng tài, đăng ký phán
quyết trọng tài vụ việc theo đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao;
c)
Ủy
ban Thường vụ Quốc
hội quy định về phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của một số Tòa án nhân dân khu
vực giải quyết vụ việc phá sản; vụ việc dân sự, kinh doanh, thương mại, vụ án
hành chính về sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ theo đề nghị của Chánh án
Tòa án nhân dân tối cao;
d)
Ủy
ban Thường vụ Quốc hội quyết định thành lập, giải thể và quy định về phạm vi
thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án quân sự quân khu và tương đương, Tòa án
quân sự khu vực theo đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao sau khi thống
nhất với Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.”.
2.
Sửa
đổi, bổ sung khoản 1 Điều 40 như sau:
“1. Thành phần Hội đồng tuyển chọn, giám
sát Thẩm phán quốc gia gồm có Chủ tịch Hội đồng, Phó Chủ tịch Hội đồng và các Ủy
viên Hội đồng, được quy định cụ thể như sau:
a)
Chánh
án Tòa án nhân dân tối cao là Chủ tịch Hội đồng;
b)
01
Phó Chủ tịch Hội đồng là Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao là Thẩm phán Tòa
án nhân dân tối cao được Chánh án Tòa án nhân dân tối cao phân công luân phiên
theo nhiệm kỳ 01 năm 01 lần;
c)
Chánh
án Tòa án quân sự trung ương;
d)
01
thủ trưởng đơn vị thuộc Tòa án nhân dân tối cao là Thẩm phán Tòa án nhân dân,
01 Chánh tòa Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao, 01 Chánh án Tòa án nhân dân
cấp tỉnh do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao chỉ định;
đ) 01 đại diện lãnh đạo Ủy ban Trung
ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội Luật gia Việt Nam, Văn phòng Chủ tịch nước,
Bộ Tư pháp, Bộ Quốc phòng, Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính.”.
3.
Sửa
đổi, bổ sung Điều 46 như sau:
“Điều 46. Nhiệm vụ,
quyền hạn của Tòa án nhân dân tối cao
Tòa án nhân dân tối cao là cơ quan xét
xử cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện nhiệm vụ,
quyền hạn sau đây:
1.
Giám
đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định của các Tòa án đã có hiệu lực pháp luật
bị kháng nghị theo quy định của luật;
2.
Giám
đốc việc xét xử của Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao và các Tòa án khác,
trừ trường hợp do luật định;
3.
Phúc
thẩm vụ án hình sự mà bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp tỉnh
chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của luật;
4.
Tổng
kết thực tiễn xét xử của các Tòa án, bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong
xét xử;
5.
Phát
triển án lệ;
6.
Đào
tạo nguồn nhân lực; bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho Thẩm phán, Thẩm tra
viên Tòa án, Thư ký Tòa án, công chức khác, viên chức của Tòa án; bồi dưỡng
nghiệp vụ cho Hội thẩm, Hòa giải viên và các đối tượng khác theo quy định của
pháp luật;
7.
Quản
lý các Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự về tổ chức theo quy định của Luật này
và các luật khác có liên quan, bảo đảm độc lập giữa các Tòa án theo thẩm quyền
xét xử;
8.
Đề
nghị xây dựng luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc
hội; trình Quốc hội dự án luật, nghị quyết; trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội dự
án pháp lệnh, nghị quyết;
9.
Thanh
tra, kiểm tra nghiệp vụ đối với các Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm, Thẩm tra viên
Tòa án, Thư ký Tòa án để bảo đảm tuân thủ pháp luật, kiểm soát quyền lực,
phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong hoạt động của Tòa án;
10.
Hợp
tác quốc tế;
11.
Thực
hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.”.
4.
Sửa
đổi, bổ sung Điều 47 như sau:
“Điều 47. Cơ cấu tổ
chức của Tòa án nhân dân tối cao
1.
Cơ
cấu tổ chức của Tòa án nhân dân tối cao bao gồm:
a)
Hội
đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
b)
Các
Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao;
c)
Cục,
vụ và tương đương;
d)
Cơ
sở đào tạo, bồi dưỡng;
đ) Cơ quan báo chí.
2.
Tòa
án nhân dân tối cao có Chánh án, các Phó Chánh án, Thẩm phán Tòa án nhân dân
tối cao, Chánh tòa, các Phó Chánh tòa, Thẩm phán Tòa án nhân dân, Thẩm tra viên
Tòa án, Thư ký Tòa án, công chức khác, viên chức và người lao động.
3.
Ủy
ban Thường vụ Quốc hội phê chuẩn đề nghị thành lập, tổ chức lại, giải thể các
cơ quan, đơn vị quy định tại các điểm b, c và đ khoản 1 Điều này theo đề nghị
của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao. Việc thành lập cơ sở đào tạo, bồi dưỡng
quy định tại điểm d khoản 1 Điều này được thực hiện theo quy định của luật.”.
5.
Sửa
đổi, bổ sung khoản 1 Điều 48 như sau:
“1. Số lượng thành viên Hội
đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao không ít hơn 23 người và không quá 27
người; gồm Chánh án, các Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao là Thẩm phán Tòa
án nhân dân tối cao và các Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.”.
6.
Bổ
sung Điều 49a vào sau Điều 49 trong Mục 1 Chương IV như sau:
“Điều 49a. Nhiệm vụ,
quyền hạn của Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao
1.
Phúc
thẩm vụ án hình sự mà bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp tỉnh
chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của luật.
2.
Kiến
nghị Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét, kháng nghị theo thủ tục giám đốc
thẩm, tái thẩm bản án, quyết dịnh của Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao,
Tòa án nhân dân cấp tỉnh đã có hiệu lực pháp luật theo quy định của luật.
3.
Thực
hiện việc tổng kết thực tiễn xét xử; đề xuất án lệ.
4.
Thực
hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại các điểm b, c, d và đ khoản 2 Điều 3 của
Luật này.
5.
Thực
hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.”.
7.
Sửa
đổi, bổ sung Mục 3 Chương IV như sau:
“Mục 3
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP
TỈNH
Điều 55. Nhiệm vụ,
quyền hạn của Tòa án nhân dân cấp tỉnh
1.
Sơ
thẩm vụ án hình sự theo quy định của luật.
2.
Phúc
thẩm vụ án, vụ việc mà bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án nhân dân khu vực
chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của luật.
3.
Giám
đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định của Tòa án nhân dân khu vực đã có hiệu
lực pháp luật bị kháng nghị theo quy định của luật.
4.
Kiểm
tra bản án, quyết định của Tòa án nhân dân khu vực đã có hiệu lực pháp luật.
5.
Kiến
nghị Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét, kháng nghị theo thủ tục giám đốc
thẩm, tái thẩm bản án, quyết định của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa Phúc thẩm
Tòa án nhân dân tối cao đã có hiệu lực pháp luật theo quy định của luật.
6.
Thực
hiện việc tổng kết thực tiễn xét xử; đề xuất án lệ.
7.
Thực
hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại các điểm b, c, d, đ và g khoản 2 Điều 3
của Luật này.
8.
Thực
hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.
Điều 56. Cơ cấu tổ chức của Tòa án nhân dân cấp
tỉnh
1.
Cơ
cấu tổ chức của Tòa án nhân dân cấp tỉnh bao gồm:
a)
Ủy
ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp tỉnh;
b)
Các
Tòa chuyên trách gồm Tòa Hình sự, Tòa Dân sự, Tòa Hành chính, Tòa Kinh tế, Tòa
Lao động, Tòa Gia đình và người chưa thành niên.
Trường hợp cần thiết, Ủy ban Thường vụ
Quốc hội quyết định thành lập Tòa chuyên trách khác theo đề nghị của Chánh án
Tòa án nhân dân tối cao.
Căn cứ quy định tại điểm này và yêu cầu của
thực tiễn xét xử ở mỗi Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Chánh án Tòa án nhân dân tối
cao quyết định việc tổ chức các Tòa chuyên trách;
c)
Bộ
máy giúp việc.
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết
định thành lập và quy định nhiệm vụ, quyền hạn của bộ máy giúp việc của Tòa án
nhân dân cấp tỉnh.
2.
Tòa
án nhân dân cấp tỉnh có Chánh án, các Phó Chánh án, Chánh tòa, các Phó Chánh
tòa, Thẩm phán Tòa án nhân dân, Thẩm tra viên Tòa án, Thư ký Tòa án, công chức
khác và người lao động.
Điều 57. Ủy ban Thẩm
phán Tòa án nhân dân cấp tỉnh
1.
Ủy
ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp tỉnh gồm Chánh án, các Phó Chánh án và một số
Thẩm phán Tòa án nhân dân do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định, số
lượng thành viên của Ủy ban Thẩm phán do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết
định theo đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh.
Phiên họp Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân
dân cấp tỉnh do Chánh án chủ trì.
2.
Ủy
ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp tỉnh có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Giám đốc thẩm, tái
thẩm bản án, quyết định của Tòa án nhân dân khu vực đã có hiệu lực pháp luật bị
kháng nghị theo quy định của luật;
b)
Thảo
luận về chương trình, kế hoạch công tác của Tòa án nhân dân cấp tỉnh;
c)
Thảo
luận, góp ý kiến đối với báo cáo công tác của Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh
để báo cáo Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Hội đồng nhân dân cùng cấp;
d)
Thảo
luận về kiến nghị của Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh đề nghị Chánh án Tòa án
nhân dân tối cao xem xét lại bản án, quyết định của Tòa án nhân dân cấp tỉnh,
Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục
giám đốc thẩm, tái thẩm theo đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh;
đ) Thực hiện việc tổng kết thực tiễn xét
xử; đề xuất án lệ.
Điều 58. Nhiệm vụ,
quyền hạn của Tòa chuyên trách Tòa án nhân dân cấp tỉnh
1.
Sơ
thẩm vụ án hình sự theo quy định của luật.
2.
Phúc
thẩm vụ án, vụ việc mà bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án nhân dân khu vực
chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của luật.
3.
Thực
hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại các điểm b, c, d, đ và h khoản 2 Điều 3
của Luật này.”.
8.
Sửa
đổi, bổ sung Mục 4 Chương IV như sau:
“Mục 4
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC
Điều 59. Nhiệm vụ,
quyền hạn của Tòa án nhân dân khu vực
1.
Sơ
thẩm vụ án, vụ việc theo quy định của luật.
2.
Thực
hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại các điểm b, c, d, đ và g khoản 2 Điều 3
của Luật này.
3.
Kiến
nghị Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh xem
xét, kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định của Tòa
án nhân dân khu vực, Tòa án nhân dân cấp tỉnh đã có hiệu lực pháp luật theo quy
định của luật.
4.
Thực
hiện việc tổng kết thực tiễn xét xử; đề xuất án lệ.
5.
Thực
hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.
Điều 60. Cơ cấu tổ chức
của Tòa án nhân dân khu vực
1.
Cơ
cấu tổ chức của Tòa án nhân dân khu vực bao gồm:
a)
Các
Tòa chuyên trách gồm Tòa Hình sự, Tòa Dân sự, Tòa Kinh tế, Tòa Hành chính, Tòa
Gia đình và người chưa thành niên; Tòa Phá sản, Tòa Sở
hữu trí tuệ tại một số Tòa án nhân dân khu vực.
Căn cứ quy định tại điểm này và yêu cầu
của thực tiễn xét xử ở mỗi Tòa án nhân dân khu vực, Chánh án Tòa án nhân dân
tối cao quyết định việc tổ chức Tòa Hình sự, Tòa Dân sự, Tòa Kinh tế, Tòa Hành
chính, Tòa Gia đình và người chưa thành niên.
Căn cứ quy định tại điểm c khoản 2 Điều
4 của Luật này, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định việc tổ chức Tòa
Phá sản, Tòa Sở hữu trí tuệ tại một số Tòa án nhân dân khu vực.
Trường hợp cần thiết, Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết
định thành lập Tòa chuyên trách khác theo đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân
tối cao;
b)
Bộ
máy giúp việc.
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết
định thành lập và quy định nhiệm vụ, quyền hạn của bộ máy giúp việc của Tòa án
nhân dân khu vực.
2.
Tòa
án nhân dân khu vực có Chánh án, các Phó Chánh án, Chánh tòa, các Phó Chánh
tòa, Thẩm phán Tòa án nhân dân, Thẩm tra viên Tòa án
làm công tác thi hành án, Thư ký Tòa án, công chức khác và người lao động.
Điều 61. Nhiệm vụ,
quyền hạn của Tòa chuyên trách Tòa án nhân dân khu vực
1.
Sơ
thẩm vụ án, vụ việc theo quy định của luật.
2.
Thực
hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại các điểm b, c, d, đ và h khoản 2 Điều 3
của Luật này.”.
9.
Sửa
đổi, bổ sung tên Mục 5 Chương IV như sau:
“Mục 5
10.
Sửa
đổi, bổ sung Điều 62 như sau:
“Điều 62. Tổ chức và
hoạt động của Tòa án chuyên biệt
1.
Nhiệm
vụ, quyền hạn, trình tự, thủ tục tố tụng giải quyết tranh chấp;
tiếng nói, chữ viết dùng trong tố tụng, việc áp dụng pháp luật tại Tòa án
chuyên biệt; Thẩm phán giải quyết tranh chấp và các nội dung khác có liên quan
đến tổ chức và hoạt động của Tòa án chuyên biệt do Quốc hội quy định.
2.
Ủy
ban Thường vụ Quốc hội quyết định thành lập, giải thể và quy định về phạm vi thẩm quyền theo
lãnh thổ của Tòa án chuyên biệt theo đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối
cao.”.
11.
Sửa
đổi, bổ sung một số khoản của Điều 77 như sau:
a)
Sửa
đổi, bổ sung khoản 8 như sau:
“8. Bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức
người giữ chức vụ quy định tại khoản 1 Điều 80, khoản 1 Điều 81, khoản 1 Điều
83, khoản 1 Điều 85, khoản 1 Điều 86, khoản 1 Điều 87 của Luật này và các chức
vụ trong Tòa án nhân dân tối cao, trừ các chức vụ thuộc thẩm quyền bổ
nhiệm, miễn nhiệm, cách chức của Chủ tịch nước.”;
b)
Sửa
đổi, bổ sung các khoản 11, 12, 13 và 14 như sau:
“11. Trình Ủy ban Thường vụ
Quốc hội quyết định thành lập, giải thể Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân
dân khu vực, Tòa án chuyên biệt; quy định về phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ
của Tòa án nhân dân khu vực, Tòa án chuyên biệt; thành lập các Tòa chuyên trách
khác của Tòa án nhân dân khi xét thấy cần thiết.
Trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định
về phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của một số Tòa án nhân dân cấp tỉnh đối với
yêu cầu hủy phán quyết trọng tài, đăng ký phán quyết trọng tài vụ việc.
Trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết
định thành lập, giải thể và quy định về phạm vi thẩm quyền theo
lãnh thổ của Tòa án quân sự quân khu và tương đương, Tòa án quân sự khu vực sau
khi thống nhất với Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.
12.
Quyết
định việc tổ chức Tòa chuyên trách theo quy định tại khoản 1 Điều 56 và điểm a
khoản 1 Điều 60 của Luật này.
13.
Trình
Ủy ban Thường vụ Quốc hội phê chuẩn đề nghị thành lập, tổ chức lại, giải thể
các cơ quan, đơn vị quy định tại các điểm b, c và đ khoản 1 Điều 47 của Luật
này.
Căn cứ vào Nghị quyết phê chuẩn của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định thành lập
các cơ quan, đơn vị quy định tại các điểm b, c và đ khoản 1 Điều 47 của Luật
này.
Quy định nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ
máy của các cơ quan, đơn vị quy định tại các điểm b, c, d và đ khoản 1 Điều 47
của Luật này; quy định về phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của các Tòa Phúc
thẩm Tòa án nhân dân tối cao.
14.
Quyết
định thành lập, tổ chức lại, giải thể và quy định nhiệm vụ, quyền hạn của bộ
máy giúp việc của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, bộ máy giúp việc của Tòa án nhân
dân khu vực.”.
12.
Sửa
đổi, bổ sung Điều 80 như sau:
“Điều 80. Chánh án Tòa
án nhân dân cấp tỉnh
1.
Chánh
án Tòa án nhân dân cấp tỉnh do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao bổ nhiệm, miễn
nhiệm, cách chức.
Nhiệm kỳ của Chánh án Tòa án nhân dân
cấp tỉnh là 05 năm kể từ ngày được bổ nhiệm.
2.
Chánh
án Tòa án nhân dân cấp tỉnh có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a)
Tổ
chức công tác xét xử của Tòa án nhân dân cấp tỉnh; chịu trách nhiệm tổ chức
thực hiện nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp
luật;
b)
Kháng
nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định của Tòa án nhân
dân khu vực đã có hiệu lực pháp luật theo quy định của luật;
c)
Chủ
trì phiên họp của Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp tỉnh;
d)
Thực
hiện các nhiệm vụ, quyền hạn trong công tác tổ chức cán bộ theo phân cấp của
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao;
đ) Chịu trách nhiệm và báo cáo công tác
của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực trong phạm vi địa giới
hành chính cấp tỉnh với Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và Chánh án Tòa án nhân dân
tối cao; trả lời chất vấn, kiến nghị của đại biểu Hội đồng nhân
dân cấp tỉnh;
e)
Kiến
nghị Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét, kháng nghị theo thủ tục giám đốc
thẩm, tái thẩm bản án, quyết định của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa Phúc thẩm
Tòa án nhân dân tối cao đã có hiệu lực pháp luật theo quy định của luật;
g)
Thực
hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.”.
13.
Sửa
đổi, bổ sung Điều 81 như sau:
“Điều 81. Chánh án Tòa
án nhân dân khu vực
1.
Chánh
án Tòa án nhân dân khu vực do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao bổ nhiệm, miễn
nhiệm, cách chức.
Nhiệm kỳ của Chánh án Tòa án nhân dân
khu vực là 05 năm kể từ ngày được bổ nhiệm.
2.
Chánh
án Tòa án nhân dân khu vực có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a)
Tổ
chức công tác xét xử của Tòa án nhân dân khu vực; chịu trách nhiệm tổ chức thực
hiện nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật;
b)
Thực
hiện các nhiệm vụ, quyền hạn trong công tác tổ chức cán bộ theo phân cấp của
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao;
c)
Chịu
trách nhiệm và báo cáo công tác trước Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh;
d)
Kiến
nghị Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh xem
xét, kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định của Tòa
án nhân dân khu vực, Tòa án nhân dân cấp tỉnh đã có hiệu lực pháp luật theo quy
định của luật;
đ) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác
theo quy định của pháp luật.”.
14.
Sửa
đổi, bổ sung Điều 83 như sau:
“Điều 83. Phó Chánh án
Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực
1.
Phó
Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực do Chánh án Tòa án
nhân dân tối cao bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức.
Nhiệm kỳ của Phó Chánh án Tòa án nhân
dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực là 05 năm kể từ ngày được bổ nhiệm.
2.
Phó
Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực giúp Chánh án thực
hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo sự phân công của Chánh án. Khi Chánh án vắng mặt,
một Phó Chánh án được Chánh án ủy nhiệm lãnh đạo công tác của Tòa án. Phó Chánh
án chịu trách nhiệm trước pháp luật và Chánh án về việc thực hiện nhiệm vụ,
quyền hạn được giao.
3.
Thực
hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật về tố tụng; nhiệm vụ,
quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.”.
15.
Sửa
đổi, bổ sung Điều 93 như sau:
“Điều 93. Nhiệm vụ,
quyền hạn của Thẩm phán Tòa án nhân dân
1.
Thực
hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại các điểm a, b, c, d và đ khoản 2 Điều 3 của Luật này.
2.
Thẩm
phán Tòa án nhân dân công tác tại Tòa án nhân dân tối cao có nhiệm vụ, quyền
hạn sau đây:
a)
Thực
hiện nhiệm vụ xét xử, giải quyết vụ án, vụ việc tại Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân
dân tối cao; xét xử, giải quyết vụ án, vụ việc tại Tòa án khác theo quy định
của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao;
b)
Xem
xét, quyết định việc thụ lý đơn đề nghị, văn bản yêu cầu, kiến nghị giám đốc
thẩm, tái thẩm theo phân công của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao;
c)
Đề xuất với Chánh
án Tòa án nhân dân tối cao, Thẩm phán Tòa án nhân dân tối
cao việc giải quyết đơn đề nghị, văn bản yêu cầu, kiến nghị giám đốc thẩm, tái
thẩm;
d)
Kiểm
tra, thẩm định tài liệu, chứng cứ theo quy định của pháp luật;
đ) Xây dựng tờ trình, dự thảo kết luận
việc thẩm tra hồ sơ, tài liệu, chứng cứ của vụ án, vụ việc mà bản án, quyết
định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật và trình Thẩm phán Tòa án nhân dân tối
cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối
cao;
e)
Trả
lời đơn đề nghị, văn bản yêu cầu, kiến nghị giám đốc
thẩm, tái thẩm theo quy định của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao;
g)
Đề xuất Chánh án
Tòa án nhân dân tối cao giải quyết khiếu nại trong hoạt động tố tụng theo quy
định của pháp luật về tố tụng;
h)
Đề
xuất Chánh án Tòa án nhân dân tối cao thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trong công
tác thi hành án tử hình, trong công tác đặc xá theo quy định của pháp luật;
i)
Đề
xuất Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối
cao phát triển án lệ đối với bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp
luật;
k) Đề xuất nội dung rút kinh nghiệm, nội
dung bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong thực tiễn xét xử, giải quyết vụ
án, vụ việc.
3.
Thực
hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo phân công của Chánh án và quy định của pháp
luật.”.
16.
Sửa
đổi, bổ sung khoản 2 Điều 95 như sau:
“2. Trong trường hợp đặc biệt, người có
đủ tiêu chuẩn quy định tại các khoản 1, 3, 5 và 6 Điều 94 của Luật này có thể
được bổ nhiệm làm Thẩm phán Tòa án nhân dân; nếu là sỹ quan quân đội
tại ngũ thì có thể được tuyển chọn, bổ nhiệm làm Thẩm phán Tòa án nhân dân
thuộc các Tòa án quân sự khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a)
Có
thời gian làm công tác pháp luật từ đủ 10 năm trở lên, được cơ quan, tổ chức có
thẩm quyền điều động đến để đảm nhiệm chức vụ lãnh đạo Tòa án nhân dân khu vực,
Tòa án quân sự khu vực;
b)
Có
thời gian làm công tác pháp luật từ đủ 15 năm trở lên, được cơ quan, tổ chức có
thẩm quyền điều động đến để đảm nhiệm chức vụ lãnh đạo Tòa Phúc thẩm Tòa án
nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự quân khu và tương
đương, Tòa án quân sự trung ương.”.
17.
Sửa
đổi, bổ sung Điều 96 như sau:
“Điều 96. Tiêu chuẩn,
điều kiện bổ nhiệm Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
1.
Người
có đủ tiêu chuẩn quy định tại các khoản 1, 3, 5 và 6 Điều 94 của Luật này và có
đủ các điều kiện sau đây thì có thể được tuyển chọn, bổ nhiệm làm Thẩm phán Tòa
án nhân dân tối cao:
a)
Có
độ tuổi từ đủ 45 tuổi trở lên;
b)
Có
từ đủ 20 năm trở lên công tác tại Tòa án, trong đó có từ đủ 10 năm trở lên làm
Thẩm phán Tòa án nhân dân. Trường hợp đặc biệt phải có từ đủ 05 năm trở lên làm
Thẩm phán Tòa án nhân dân hoặc đang là Thẩm phán Tòa án nhân dân, có từ đủ 05
năm trở lên làm Vụ trưởng Vụ chuyên môn nghiệp vụ tại Tòa án nhân dân tối cao,
số lượng đề nghị bổ nhiệm không quá 10% tổng số Thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao và được cấp có thẩm quyền chấp thuận;
c)
Có
năng lực xét xử, giải quyết những vụ án, vụ việc và giải quyết những việc khác
thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân tối cao theo quy định của pháp luật.
2.
Người
không công tác tại các Tòa án nhưng có uy tín cao trong xã hội, có đủ tiêu
chuẩn quy định tại khoản 1 và khoản 6 Điều 94 của Luật này, đủ điều kiện bổ
nhiệm quy định tại điểm a và điểm c khoản 1 Điều này, bảo đảm quy trình theo
quy định thì có thể được tuyển chọn, bổ nhiệm làm Thẩm phán Tòa án nhân dân tối
cao khi thuộc một trong những trường hợp sau đây:
a)
Người
giữ chức vụ quan trọng trong các cơ quan, tổ chức trung ương am hiểu sâu sắc về
chính trị, pháp luật, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng, ngoại
giao;
b)
Chuyên
gia, luật sư, giảng viên đại học, nhà khoa học có trình độ cao về pháp luật,
giữ chức vụ quan trọng trong các cơ quan, tổ chức chính trị, tổ chức chính
trị-xã hội, tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề
nghiệp.
3.
Số
lượng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao được tuyển chọn, bổ nhiệm theo quy định
tại khoản 2 Điều này không quá 03 người.”.
18.
Sửa
đổi, bổ sung khoản 1 Điều 124 như sau:
“1. Chế độ bầu Hội thẩm nhân dân được
thực hiện đối với Hội thẩm tại Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu
vực.”.
19.
Sửa
đổi, bổ sung khoản 1 Điều 125 như sau:
“1. Hội thẩm nhân dân thực hiện nhiệm vụ
xét xử những vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân theo phân công của
Chánh án Tòa án nơi được bầu làm Hội thẩm nhân dân.”.
20.
Sửa
đổi, bổ sung khoản 1 Điều 127 như sau:
“1. Tòa án nhân dân cấp tỉnh đề xuất nhu
cầu về số lượng, cơ cấu thành phần Hội thẩm tại Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa
án nhân dân khu vực, đề nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh lựa chọn
và giới thiệu người đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều 122 của Luật này để
Hội đồng nhân dân cấp tỉnh bầu Hội thẩm nhân dân.
Thành phần Hội thẩm nhân dân bảo đảm cơ
cấu hợp lý, phù hợp với yêu cầu xét xử các vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án và
tình hình, đặc điểm của địa phương, số lượng nhân sự đề xuất bầu Hội thẩm nhân
dân phải có số dư.
Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh sau
khi thống nhất với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh đề nghị Hội đồng
nhân dân cấp tỉnh miễn nhiệm, bãi nhiệm Hội thẩm nhân dân.”.
21.
Sửa
đổi, bổ sung khoản 1 Điều 128 như sau:
“1. Nhiệm kỳ của Hội thẩm nhân dân Tòa
án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực theo nhiệm kỳ của Hội đồng nhân
dân cấp tỉnh đã bầu ra Hội thẩm nhân dân.
Khi Hội đồng nhân dân hết nhiệm kỳ, Hội
thẩm nhân dân tiếp tục làm nhiệm vụ cho đến khi Hội đồng nhân dân khóa mới bầu
ra Hội thẩm nhân dân mới.”.
22.
Sửa
đổi, bổ sung khoản 2 Điều 147 như sau:
“2. Kinh phí hoạt động của các Tòa án
quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều 4 của Luật này do Chính phủ sau
khi thống nhất với Tòa án nhân dân tối cao trình Quốc hội quyết định. Trường
hợp Chính phủ và Tòa án nhân dân tối cao không thống nhất về dự toán kinh phí
hoạt động của các Tòa án thì Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kiến nghị Quốc
hội xem xét, quyết định.”.
23.
Bãi
bỏ Mục 2 Chương IV, Điều 63, Điều 79, Điều 82, khoản 2 Điều 122, khoản 2 Điều
127.
Điều 2. Sửa đổi, bổ
sung một số điều của luật có liên quan
1.
Sửa
đổi, bổ sung khoản 3 Điều 7 của Luật Trọng tài thương mại số 54/2010/QH12 như
sau:
“3. Tòa án có thẩm quyền đối với hoạt
động trọng tài quy định tại khoản 1 và điểm a, b, c, d, đ và e khoản 2 Điều này là Tòa án nhân
dân khu vực.
Tòa án có thẩm quyền đối với hoạt động
trọng tài quy định tại điểm g khoản 2 Điều này là một số Tòa án nhân dân cấp
tỉnh, Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định Tòa án có thẩm quyền và phạm vi thẩm
quyền theo lãnh thổ của một số Tòa án nhân dân cấp tỉnh đối với yêu cầu quy
định tại điểm g khoản 2 Điều này.”.
2.
Sửa
đổi, bổ sung khoản 2 Điều 44 của Luật Hàng không dân dụng số 66/2006/QH11 đã
được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 45/2013/QH13, Luật số
61/2014/QH13, Luật số 16/2023/QH15, Luật số 18/2023/QH15 và Luật số
49/2024/QH15 như sau:
“2. Tòa án nhân dân khu vực nơi tàu bay
hạ cánh quyết định bắt giữ tàu bay theo yêu cầu bằng văn bản của chủ sở hữu
hoặc của chủ nợ trong trường hợp tàu bay là tài sản bảo đảm cho khoản nợ của
chủ nợ hoặc theo yêu cầu bằng văn bản của người thứ ba ở mặt đất bị thiệt hại
do tàu bay đang bay gây ra hoặc những người có quyền và lợi ích đối với tàu bay
theo quy định của Luật này.”.
3.
Sửa
đổi, bổ sung một số khoản của Điều 11 của Luật Bảo vệ bí mật nhà nước số
29/2018/QH14 như sau:
a)
Sửa
đổi, bổ sung điểm e khoản 1 như sau:
“e) Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh,
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh;”;
b)
Sửa
đổi, bổ sung điểm đ khoản 2 như sau:
“đ) Người đứng đầu đơn vị trực thuộc Tòa
án nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, trừ người có thẩm quyền
quy định tại điểm b khoản 3 Điều này; Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trường
Viện kiểm sát nhân dân khu vực;”.
4.
Sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước số
10/2017/QH14 như sau:
a)
Sửa
đổi, bổ sung khoản 3 Điều 36 như sau:
“3. Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự trung
ương có thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm là cơ quan giải quyết bồi thường
trong các trường hợp sau đây:
a)
Hội
đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hủy quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm
của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự trung ương mà quyết định bị hủy đã
xác định bị cáo có tội và đình chỉ vụ án vì không có sự việc phạm tội hoặc hành
vi không cấu thành tội phạm;
b)
Hội
đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hủy quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm
của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự trung ương mà quyết định bị hủy đã
xác định bị cáo có tội để điều tra lại nhưng sau đó bị can được đình chỉ điều
tra, đình chỉ vụ án vì không có sự việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành
tội phạm hoặc đã hết thời hạn điều tra vụ án mà không chứng minh được bị can đã
thực hiện tội phạm;
c)
Hội
đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hủy quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm
của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự trung ương mà quyết định bị hủy đã
xác định bị cáo có tội để xét xử lại nhưng sau đó bị cáo được tuyên không có
tội vì không có sự việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm.”;
b)
Thay
thế cụm từ “Tòa án nhân dần cấp huyện” bằng cụm từ “Tòa án nhân dân khu vực”
tại đoạn mở đầu khoản 1 Điều 53.
5.
Sửa
đổi, bổ sung Điều 130 của Bộ luật Hàng hải Việt Nam số 95/2015/QH13 đã được sửa
đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 35/2018/QH14 và Luật số
16/2023/QH15 như sau:
“Điều 130. Thẩm quyền
quyết định bắt giữ tàu biển
1.
Tòa
án nhân dân khu vực nơi có cảng mà tàu biển bị yêu cầu bắt giữ đang hoạt động
hàng hải có thẩm quyền quyết định bắt giữ tàu biển.
Trường hợp cảng có nhiều bến cảng tại
địa phận các xã, phường, đặc khu thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của các
Tòa án nhân dân khu vực khác nhau thì Tòa án nhân dân khu vực nơi có bến cảng
mà tàu biển bị yêu cầu bắt giữ đang hoạt động hàng hải có thẩm quyền quyết định
bắt giữ tàu biển đó.
2.
Tòa
án nhân dân đang giải quyết vụ án dân sự, Tòa án nhân dân khu vực nơi Hội đồng
Trọng tài thụ lý vụ tranh chấp có thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp khẩn
cấp tạm thời bắt giữ tàu biển.
Quyết định bắt giữ tàu biển của Tòa án
được giao cho cảng vụ hai bản, một bản để thực hiện và một bản để cảng vụ giao
cho thuyền trưởng tàu bị bắt giữ để thực hiện.
3.
Chánh
án Tòa án nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định Tòa án có thẩm quyền quyết định
bắt giữ tàu biển trong trường hợp có tranh chấp về thẩm quyền giữa các Tòa án
nhân dân khu vực trong cùng một tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem
xét, quyết định Tòa án có thẩm quyền quyết định bắt giữ tàu biển trong trường
hợp có tranh chấp về thẩm quyền giữa các Tòa án nhân dân khu vực thuộc các tỉnh, thành phố
trực thuộc trung ương khác nhau.”.
6.
Sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại số 02/2011/QH13 đã được sửa đổi, bổ
sung một số điều theo Luật số 42/2013/QH13 như sau:
a)
Sửa
đổi, bổ sung khoản 2 Điều 64 như sau:
“2. Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm
sát nhân dân cấp tỉnh, các cơ quan của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị -
xã hội ở địa phương trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình quản
lý công tác giải quyết khiếu nại, định kỳ thông báo với Ủy ban nhân dân cùng
cấp về công tác giải quyết khiếu nại của cơ quan, tổ chức mình.”;
b)
Sửa
đổi, bổ sung khoản 3 Điều 65 như sau:
“3. Ủy ban nhân dân địa phương, Tòa án
nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh định kỳ báo cáo Hội đồng
nhân dân và thông báo đến Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp về tình
hình khiếu nại, khởi kiện vụ án hành chính và công tác giải quyết khiếu nại, xét xử
vụ án hành chính trong phạm vi địa phương mình.”.
7.
Sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Tố cáo số 25/2018/QH14 đã được sửa đổi, bổ
sung một số điều theo Luật số 59/2020/QH14 như sau:
a)
Sửa
đổi, bổ sung Điều 14 như sau:
“Điều 14. Thẩm quyền
giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công
vụ trong Tòa án nhân dân
1.
Chánh
án Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp
luật trong việc thực hiện công vụ của công chức do mình quản lý trực tiếp.
2.
Chánh
án Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền sau đây:
a)
Giải
quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện công vụ của Chánh
án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân khu vực, công chức khác do mình quản lý trực
tiếp;
b)
Giải
quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện công vụ của Tòa án
nhân dân khu vực.
3.
Chánh
án Tòa án nhân dân tối cao có thẩm quyền sau đây:
a)
Giải
quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện công vụ của Chánh
án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh; việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của
công chức, viên chức khác do mình quản lý trực tiếp;
b)
Giải
quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực
hiện nhiệm vụ, công vụ của cơ quan, tổ chức do mình quản lý trực
tiếp, của Tòa án nhân dân cấp tỉnh.”;
b)
Sửa
đổi, bổ sung khoản 2 Điều 60 như sau:
“2. Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm
sát nhân dân cấp tỉnh, cơ quan khác của Nhà nước, cơ quan của tổ chức chính
trị, tổ chức chính trị - xã hội ở địa phương, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn
của mình, quản lý công tác giải quyết tố cáo; hằng năm gửi báo cáo về công tác
giải quyết tố cáo trong phạm vi quản lý của cơ quan, tổ chức mình đến Ủy ban nhân dân cùng cấp để tổng hợp báo cáo Hội
đồng nhân dân.”.
8.
Sửa
đổi, bổ sung khoản 4 Điều 66 của Luật Trẻ em số 102/2016/QH13 đã được sửa đổi,
bổ sung một số điều theo Luật số 28/2018/QH14 và Luật số 59/2024/QH15 như sau:
“4. Tòa án nhân dân khu vực quyết định
việc chăm sóc thay thế đối với trường hợp trẻ em được quy định tại khoản 2 Điều
62 của Luật này theo đề nghị của cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm bảo
vệ trẻ em được pháp luật quy định.”.
9.
Sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự số 26/2008/QH12 đã được
sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 64/2014/QH13, Luật số 23/2018/QH14,
Luật số 67/2020/QH14, Luật số 03/2022/QH15, Luật số 31 /2024/QH15, Luật số
43/2024/QH15 và Luật số 59/2024/QH15
như
sau:
a) Sửa đổi, bổ sung Điều 35 như sau:
“Điều 35. Thẩm quyền thi hành án
1.
Cơ
quan thi hành án dân sự cấp tỉnh có thẩm quyền thi hành các bản án, quyết định
sau đây:
a)
Bản
án, quyết định sơ thẩm của Tòa án nhân dân khu vực; bản án, quyết định sơ thẩm,
phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi cơ quan thi
hành án dân sự có trụ sở;
b)
Bản án, quyết
định của Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao đối với bản án, quyết định của
Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi cơ quan thi hành án dân sự có trụ sở;
c)
Quyết
định giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án nhân dân tối cao đối
với bản án, quyết định của Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi cơ quan thi hành án dân
sự có trụ sở;
d)
Quyết
định giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án nhân dân tối cao đối với bản án, quyết
định của Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao nơi Tòa án nhân dân cấp tỉnh đã
xét xử sơ thẩm có trụ sở;
đ) Quyết định của Tòa án nhân dân
tối cao chuyển giao cho cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh;
e)
Bản
án, quyết định của Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài được
Tòa án công nhận và cho thi hành tại Việt Nam;
g)
Phán
quyết, quyết định của Trọng tài thương mại;
h)
Quyết
định xử lý vụ việc cạnh tranh của Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia, Hội đồng
xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh, quyết định giải quyết khiếu nại quyết định xử
lý vụ việc cạnh tranh của Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia, Hội đồng giải
quyết khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh;
i)
Bản
án, quyết định do cơ quan thi hành án dân sự nơi khác ủy thác;
k) Quyết
định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng bồi thường thiệt hại của Cơ quan điều
tra, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân nơi cơ quan thi hành án dân sự có
trụ sở;
l)
Bản
án, quyết định khác theo quy định của pháp luật.
2.
Cơ
quan thi hành án cấp quân khu có thẩm quyền thi hành các bản án, quyết định sau
đây:
a)
Quyết
định về hình phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất
chính, xử lý vật chứng, tài sản, án phí và quyết định dân sự trong bản án,
quyết định hình sự của Tòa án quân sự quân khu và tương đương trên địa bàn;
b)
Quyết
định về hình phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất
chính, xử lý vật chứng, tài sản, án phí và quyết định dân sự trong bản án,
quyết định hình sự của Tòa án quân sự khu vực trên địa bàn;
c)
Quyết
định về hình phạt tiền, tịch thu tài sản, xử lý vật chứng, tài sản, truy thu
tiền, tài sản thu lợi bất chính, án phí và quyết định dân sự trong bản án,
quyết định hình sự của Tòa án quân sự trung ương chuyển giao cho cơ quan thi
hành án cấp quân khu;
d)
Quyết
định dân sự của Tòa án nhân dân tối cao chuyển giao cho cơ quan thi hành án cấp
quân khu;
đ) Quyết định áp dụng biện pháp xử lý
chuyển hướng bồi thường thiệt hại của Cơ quan điều tra trong quân đội nhân dân,
Viện kiểm sát quân sự, Tòa án quân sự nơi cơ quan thi hành án cấp quân khu có
trụ sở;
e)
Bản
án, quyết định do cơ quan thi hành án dân sự nơi khác ủy thác;
g) Bản án, quyết định khác theo quy định
của pháp luật.”;
b) Sửa đổi, bổ sung điểm đ khoản 1 Điều
48 như sau:
“đ) Việc thi hành án đang trong thời hạn
cơ quan có thẩm quyền giải thích bản án, quyết định và trả lời kiến nghị của cơ
quan thi hành án dân sự theo quy định tại điểm b khoản 2, điểm d khoản 3 Điều
170 và khoản 2 Điều 179 của Luật này;”;
c)
Sửa
đổi, bổ sung khoản 1 Điều 63 như sau:
“1. Việc xét miễn, giảm nghĩa vụ thi
hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước thuộc thẩm quyền của Tòa án
nhân dân khu vực, Tòa án quân sự khu vực (sau đây gọi chung là Tòa án nhân dân
khu vực và tương đương) nơi cơ quan thi hành án dân sự đang tổ chức việc thi
hành án có trụ sở.”;
d)
Sửa
đổi, bổ sung Điều 170 như sau:
“Điều 170. Nhiệm vụ,
quyền hạn của Tòa án trong thi hành án dân sự
1.
Nhiệm
vụ, quyền hạn của Tòa án nhân dân tối cao:
a)
Phối
hợp với Bộ Tư pháp trong việc ban hành văn bản pháp luật về thi hành án dân sự;
b)
Yêu
cầu cơ quan thi hành án dân sự báo cáo kết quả thi hành bản án, quyết định
trong trường hợp cần thiết;
c)
Xem
xét theo thủ tục tái thẩm quyết định miễn, giảm thi hành án theo quy định của
luật;
d)
Giải
quyết yêu cầu, kiến nghị và chỉ đạo Tòa án các cấp giải quyết yêu cầu, kiến
nghị của cơ quan thi hành án dân sự trong thời hạn theo quy định của pháp luật;
đ) Chỉ đạo Tòa án các cấp phối hợp với
các cơ quan liên quan trong thi hành án dân sự;
e)
Phối
hợp với Bộ Tư pháp trong việc tổng kết công tác thi hành án dân sự.
2.
Nhiệm
vụ, quyền hạn của Tòa án quân sự trung ương:
a)
Yêu
cầu cơ quan thi hành án dân sự báo cáo kết quả thi hành bản án, quyết định
trong trường hợp cần thiết;
b)
Trả
lời kiến nghị của cơ quan thi hành án dân sự về việc xem xét lại bản án, quyết
định của Tòa án theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm trong thời hạn 90 ngày, kể
từ ngày nhận được kiến nghị;
c)
Xem
xét theo thủ tục tái thẩm quyết định miễn, giảm thi hành án theo quy định của
luật.
3.
Nhiệm
vụ, quyền hạn của Tòa án nhân dân cấp tỉnh:
a) Chuyển giao bản án, quyết định, tài
liệu và vật chứng có liên quan cho cơ quan thi hành án dân sự theo quy định của
Luật này;
b)
Giải
quyết kháng nghị về quyết định miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản
thu nộp ngân sách nhà nước theo quy định của Luật này;
c)
Yêu
cầu cơ quan thi hành án dân sự báo cáo kết quả thi hành bản án, quyết định
trong trường hợp cần thiết;
d)
Trả
lời kiến nghị của cơ quan thi hành án dân sự về việc xem xét lại bản án, quyết
định của Tòa án theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm trong thời hạn 90 ngày, kể
từ ngày nhận được kiến nghị;
đ) Giải quyết kiến nghị, yêu cầu của cơ
quan thi hành án dân sự và theo dõi kết quả xử lý sau khi Tòa án trả lời;
e)
Xem
xét theo thủ tục tái thẩm quyết định miễn, giảm thi hành án theo quy định của
luật.
4.
Nhiệm
vụ, quyền hạn của Tòa án nhân dân khu vực và tương đương, Tòa án quân sự quân
khu và tương đương:
a)
Chuyển
giao bản án, quyết định, tài liệu và vật chứng có liên quan cho cơ quan thi
hành án dân sự theo quy định của Luật này;
b)
Xem
xét, quyết định việc miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân
sách nhà nước;
c)
Thụ
lý và kịp thời giải quyết yêu cầu của cơ quan thi hành án dân sự, đương sự về
việc xác định quyền sở hữu, phân chia tài sản hoặc giải quyết tranh chấp về
quyền sở hữu, sử dụng tài sản; hủy giấy tờ, giao dịch phát sinh trong quá trình
thi hành án thuộc thẩm quyền của Tòa án;
d)
Giải
quyết kiến nghị, yêu cầu của cơ quan thi hành án dân sự và theo dõi kết quả xử
lý sau khi Tòa án trả lời.
5.
Khi
xét xử lại vụ án mà bản án, quyết định đã bị hủy một phần hoặc toàn bộ theo
quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm, Tòa án phải giải quyết vấn đề tài sản,
nghĩa vụ đã được thi hành theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật nhưng
bị hủy.”.
10.
Sửa
đổi, bổ sung khoản 3 Điều 16 của Luật Phòng, chống tham nhũng số 36/2018/QH14
đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 59/2020/QH14 như sau:
“3. Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm
sát nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân cùng cấp
trong việc xây dựng báo cáo về công tác phòng, chống tham nhũng ở địa phương.”.
11.
Sửa
đổi, bổ sung, bãi bỏ một số điều của Luật Tương trợ tư pháp số 08/2007/QH12 như
sau:
a)
Sửa
đổi, bổ sung Điều 38 như sau:
“Điều 38. Tiếp nhận yêu cầu dẫn độ
Trong thời hạn hai mươi ngày, kể từ ngày
nhận được yêu cầu dẫn độ và tài liệu kèm theo, Bộ Công an vào sổ hồ sơ dẫn độ
và kiểm tra hồ sơ theo quy định tại Điều 36 của Luật này. Bộ Công an có thể yêu
cầu cơ quan có thẩm quyền của nước yêu cầu dẫn độ cung cấp thông
tin bổ sung hồ sơ. Sau sáu mươi ngày, kể từ ngày gửi văn bản yêu cầu bổ sung
thông tin mà không nhận được thông tin bổ sung thì Bộ Công an gửi trả hồ sơ cho
nước yêu cầu dẫn độ và nêu rõ lý do. Trường hợp hồ sơ hợp lệ thì Bộ Công an
chuyển ngay cho Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền hai bộ hồ sơ để xem xét,
quyết định.”;
b)
Sửa
đổi, bổ sung khoản 1 Điều 39 như sau:
“1. Trong trường hợp Bộ Công an nhận
được văn bản của hai hoặc nhiều nước yêu cầu dẫn độ một người về cùng một tội
phạm hoặc nhiều tội phạm khác nhau thì Bộ Công an chủ trì phối hợp với Bộ Ngoại
giao, Bộ Tư pháp, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao xem
xét, quyết định đáp ứng yêu cầu dẫn độ cho một trong các nước yêu cầu và chuyển hồ sơ yêu cầu
dẫn độ cho Tòa án nhân dân khu vực xem xét, quyết định dẫn độ.”;
c)
Sửa
đổi, bổ sung Điều 40 như sau:
“Điều 40. Quyết định
dẫn độ
1.
Trong
thời hạn mười ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ yêu cầu dẫn độ do Bộ
Công an chuyển đến, Tòa án nhân dân khu vực nơi người bị yêu cầu dẫn độ đang cư
trú, đang bị tạm giam, tạm giữ hoặc chấp hành hình phạt tù phải thụ lý và thông
báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp.
Trong thời hạn chuẩn bị xem xét yêu cầu dẫn độ, Tòa án nhân dân khu vực có
quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài làm rõ những điểm chưa rõ
trong hồ sơ yêu cầu dẫn độ. Văn băn yêu cầu dẫn độ và văn bản trả lời được gửi
thông qua Bộ Công an.
2.
Trong
thời hạn bốn tháng, kể từ ngày thụ lý, tùy từng trường hợp mà Tòa án nhân dân
khu vực ra một trong các quyết định sau đây:
a)
Xem
xét yêu cầu dẫn độ khi có đủ các điều kiện theo quy định của Luật này;
b)
Đình
chỉ việc xem xét yêu cầu dẫn độ và trả hồ sơ cho Bộ Công an trong trường hợp
không thuộc thẩm quyền hoặc bên nước ngoài rút yêu cầu dẫn độ hoặc người bị yêu
cầu dẫn độ đã rời khỏi Việt Nam hoặc vì lý do khác mà việc xem xét không thể
tiến hành được.
3.
Tòa
án nhân dân khu vực xem xét yêu cầu dẫn độ trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ
ngày ra quyết định theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều này và chuyển ngay một
bộ hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp.
4.
Việc
xem xét yêu cầu dẫn độ được tiến hành tại phiên họp do Hội đồng gồm ba thẩm
phán trong đó có một thẩm phán làm chủ tọa và có sự tham gia của Kiểm sát viên
Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp.
Hội đồng xem xét yêu cầu dẫn độ làm việc
theo trình tự sau đây.
a)
Một
thành viên của Hội đồng trình bày nội dung hồ sơ của nước yêu cầu dẫn độ và nêu
ý kiến về cơ sở pháp lý của việc dẫn độ;
b)
Kiểm
sát viên phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân về việc dẫn độ;
c)
Luật
sư hoặc người đại diện hợp pháp của người bị yêu cầu dẫn độ trình bày ý
kiến, nếu có;
d)
Người
bị yêu cầu dẫn độ trình bày ý kiến;
đ) Căn cứ vào các quy định của Luật này,
các quy định khác của pháp luật Việt Nam có liên quan và điều ước quốc tế mà
Việt Nam là thành viên, Hội đồng thảo luận và quyết định theo đa số việc dẫn độ
hoặc từ chối dẫn độ.
5.
Chậm
nhất là mười ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định dẫn độ hoặc từ chối dẫn
độ, Tòa án nhân dân khu vực gửi quyết định cho người bị yêu cầu dẫn độ, Viện
kiểm sát nhân dân cùng cấp, Bộ Công an để thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo
quy định của pháp luật.
Người bị yêu cầu dẫn độ có quyền kháng
cáo, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn mười
lăm ngày, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh có quyền kháng nghị trong thời hạn ba
mươi ngày, kể từ ngày Tòa án nhân dân khu vực ra quyết định. Tòa án nhân dân
khu vực phải gửi hồ sơ và kháng cáo, kháng nghị cho Tòa án nhân dân cấp tỉnh
trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trong thời hạn hai mươi ngày, kể từ ngày
nhận được hồ sơ dẫn độ và kháng cáo, kháng nghị, Tòa án nhân dân cấp tỉnh mở
phiên họp xem xét quyết định của Tòa án nhân dân khu vực bị kháng cáo, kháng
nghị; Hội đồng xem xét phúc thẩm quyết định về việc dẫn độ hoặc từ chối dẫn độ.
Trình tự xem xét kháng cáo, kháng nghị đối với quyết định dẫn độ của Tòa án
nhân dân khu vực được thực hiện theo quy định tại khoản 4 Điều này.
6.
Quyết
định dẫn độ có hiệu lực pháp luật bao gồm:
a)
Quyết
định của Tòa án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị;
b)
Quyết
định của Tòa án cấp phúc thẩm.”;
d)
Sửa
đổi, bổ sung khoản 1 Điều 42 như sau:
“1. Trong thời hạn năm ngày làm việc, kể
từ ngày quyết định của Tòa án nhân dân về dẫn độ có hiệu lực pháp luật, Chánh
án Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền ra quyết định thi hành quyết định dẫn
độ. Quyết định thi hành quyết định dẫn độ phải được gửi cho Viện kiểm sát nhân
dân cùng cấp, Bộ Công an, nước yêu cầu dẫn độ và người bị dẫn độ.”;
đ) Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 43 như
sau:
“2. Trường hợp hết thời hạn
do các nước liên quan thoả thuận trước bằng văn bản mà nước yêu cầu dẫn độ
không tiếp nhận thì Bộ Công an kiến nghị Tòa án nhân dân khu vực đã ra quyết
định dẫn độ hủy quyết định thi hành quyết định dẫn độ đó và thông báo cho nước
yêu cầu dẫn độ biết.”;
e)
Sửa
đổi, bổ sung khoản 1 Điều 44 như sau:
“1. Khi người bị yêu cầu dẫn độ đang bị
truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đang chấp hành hình phạt trên lãnh thổ
của
Việt Nam về tội không phải là tội bị yêu cầu dẫn độ thì
Tòa
án nhân dân khu vực đã ra quyết định dẫn độ có thể tự mình hoặc theo đề nghị
của Viện kiểm sát nhân dân khu vực, cơ quan công an cấp có thẩm quyền hoãn việc
thi hành quyết định dẫn độ người đó cho đến khi kết thúc quá trình truy cứu
trách nhiệm hình sự hoặc chấp hành xong toàn bộ hoặc một phần hình phạt đã
tuyên. Bộ Công an thông báo bằng văn bản cho nước yêu cầu dẫn độ về việc hoãn
dẫn độ chậm nhất là mười ngày làm việc trước ngày hết thời hạn hoãn việc thi
hành quyết định dẫn độ. Chánh án Tòa án nhân dân khu vực đã hoãn việc thi hành
quyết định dẫn độ phải ra quyết định thi hành quyết định dẫn độ và gửi ngay
quyết định cùng tài liệu, hồ sơ liên quan cho cơ quan công an thi hành quyết
định dẫn độ để thông báo cho nước yêu cầu và tiếp tục tiến hành việc dẫn độ
theo thoả thuận cụ thể với nước yêu cầu.”;
g)
Sửa
đổi, bổ sung Điều 45 như sau:
“Điều 45. Dẫn độ lại
Trường hợp người đã bị dẫn độ trốn tránh
việc truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chấp hành hình phạt ở nước ngoài và quay
trở lại Việt Nam thì nước yêu cầu dẫn độ có thể đưa ra yêu cầu dẫn
độ lại người đó kèm theo các tài liệu quy định tại Điều 36 và Điều 37 của Luật
này; trong trường hợp này, Tòa án nhân dân khu vực không tiến hành lại thủ tục
quyết định dẫn độ theo quy định tại Điều 40 của Luật này; Chánh án Tòa án nhân
dân khu vực đã quyết định dẫn độ trước đây quyết định dẫn độ lại đối với người
đó. Việc áp giải người bị dẫn độ lại được thực hiện
theo quy định tại Điều 43 của Luật này.”;
h)
Sửa
đổi, bổ sung Điều 54 như sau:
“Điều 54. Tiếp nhận yêu
cầu chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù
Trong thời hạn hai mươi ngày, kể từ ngày
nhận được hồ sơ yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù và tài
liệu kèm theo, Bộ Công an vào sổ hồ sơ chuyển giao và kiểm tra hồ sơ theo quy
định tại Điều 52 và Điều 53 của Luật này. Bộ Công an có thể yêu cầu cơ quan có
thẩm quyền của nước yêu cầu chuyển giao cung cấp thông tin bổ sung hồ sơ. Sau
sáu mươi ngày, kể từ ngày gửi văn bản yêu cầu bổ sung thông tin mà không nhận
được thông tin bổ sung thì Bộ Công an gửi trả hồ sơ cho nước yêu cầu chuyển
giao người đang chấp hành hình phạt tù và nêu rõ lý do. Trường hợp hồ sơ hợp lệ
thì Bộ Công an chuyển ngay cho Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền hai bộ hồ
sơ để xem xét, quyết định.” ;
i)
Sửa
đổi, bổ sung Điều 55 như sau:
“Điều 55. Quyết định
chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù tại Việt Nam cho nước ngoài
1. Trong thời hạn mười ngày làm việc, kể từ ngày
nhận đủ hồ sơ yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù tại Việt
Nam cho nước ngoài do Bộ Công an chuyển đến, Tòa án nhân dân khu vực nơi người
bị kết án đang chấp hành hình phạt tù phải thụ lý và thông báo bằng văn bản cho
Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp. Trong thời hạn chuẩn bị xem xét yêu cầu chuyển giao
người đang chấp hành hình phạt tù, Tòa án nhân dân có quyền yêu cầu cơ quan có
thẩm quyền của nước ngoài làm rõ những điểm chưa rõ trong hồ sơ yêu cầu chuyển giao.
Văn bản yêu cầu và văn bản trả lời được gửi thông qua Bộ Công an.
2.
Trong
thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày thụ lý, tuỳ từng trường hợp mà Tòa án nhân
dân khu vực ra một trong các quyết định sau đây:
a)
Xem
xét yêu cầu chuyển giao khi có đủ các điều kiện quy định tại Điều 50 của Luật
này;
b)
Đình
chỉ việc xem xét yêu cầu chuyển giao và trả hồ sơ cho Bộ Công an trong trường
hợp không thuộc thẩm quyền hoặc cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài hoặc người
yêu cầu chuyển giao rút lại yêu cầu chuyển giao hoặc người được yêu cầu chuyển
giao đã rời khỏi Việt Nam hoặc vì các lý do khác mà việc xem xét không thể tiến
hành được.
3.
Tòa
án nhân dân khu vực xem xét yêu cầu chuyển giao trong thời hạn ba mươi ngày, kể
từ ngày ra quyết định theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều này và chuyển ngay một bộ
hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp.
4.
Việc
xem xét yêu cầu chuyển giao được tiến hành tại phiên họp do Hội đồng gồm ba
thẩm phán trong đó có một thẩm phán làm chủ tọa và có sự tham gia của Kiểm sát viên Viện
kiểm sát nhân dân cùng cấp.
Hội đồng xem xét yêu cầu chuyển giao làm
việc theo trình tự sau đây:
a)
Một
thành viên của Hội đồng trình bày nội dung hồ sơ của nước yêu cầu chuyển giao
và nêu ý kiến về cơ sở pháp lý của việc chuyển giao;
b)
Kiểm
sát viên phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân về việc chuyển giao;
c)
Luật
sư hoặc người đại diện hợp pháp của người được yêu cầu chuyển giao trình bày ý
kiến, nếu có;
d)
Người
yêu cầu chuyển giao trình bày ý kiến;
đ) Căn cứ vào các quy định của Luật này, các quy định
khác của pháp luật Việt Nam có liên quan và điều ước quốc tế mà Việt Nam là
thành viên, Hội đồng thảo luận và quyết định theo đa số việc chuyển giao hoặc
từ chối chuyển giao.
5.
Chậm
nhất là mười ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định chuyển giao hoặc từ chối
chuyển giao, Tòa án nhân dân khu vực gửi quyết định cho người được chuyển giao,
Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Bộ Công an để thực hiện các quyền và nghĩa vụ
theo quy định của pháp luật.
Người yêu cầu chuyển giao có quyền kháng
cáo, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn mười
lăm ngày, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh có quyền kháng nghị trong thời hạn ba
mươi ngày, kể từ ngày Tòa án nhân dân khu vực ra quyết định. Tòa án nhân dân
khu vực phải gửi hồ sơ và kháng cáo, kháng nghị cho Tòa án nhân dân cấp tỉnh
trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trong thời hạn hai mươi ngày, kể từ ngày
nhận được hồ sơ chuyển giao và kháng cáo, kháng nghị, Tòa án nhân dân cấp tỉnh
mở phiên họp xem xét quyết định của Tòa án nhân dân khu vực bị kháng cáo, kháng
nghị; Hội đồng xem xét phúc thẩm quyết định về việc chuyển giao hoặc từ
chối chuyển giao. Trình tự xem xét kháng cáo, kháng nghị đối với quyết định
chuyển giao của Tòa án nhân dân khu vực được thực hiện theo quy định tại khoản
4 Điều này.
6.
Quyết
định chuyển giao có hiệu lực pháp luật bao gồm:
a)
Quyết
định của Tòa án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị;
b)
Quyết
định của Tòa án cấp phúc thẩm.” ;
k)
Sửa
đổi, bổ sung Điều 56 như sau:
“Điều 56. Thẩm quyền quyết
định tiếp nhận người đang chấp hành hình phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam
Tòa án nhân dân khu vực nơi người được
chuyển giao có nơi cư trú cuối cùng tại Việt Nam quyết định việc tiếp nhận.
Trình tự, thủ tục xem xét việc tiếp nhận được thực hiện theo quy định tại Điều
55 của Luật này.” ;
l)
Sửa
đổi, bổ sung Điều 68 như sau:
“Điều 68. Trách nhiệm
của Tòa án nhân dân khu vực, Tòa án nhân dân cấp tỉnh
1.
Trách
nhiệm của Tòa án nhân dân khu vực:
a) Thực hiện ủy thác tư pháp của nước
ngoài theo quy định của Luật này;
b)
Xem
xét, quyết định dẫn độ, chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù hoặc từ
chối dẫn độ, chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù theo quy định của
Luật này;
c)
Tiến
hành các hoạt động tương trợ tư pháp khác theo thẩm quyền;
d)
Báo
cáo kết quả thực hiện tương trợ tư pháp cho Tòa án nhân dân cấp tỉnh để tổng
hợp, báo cáo Tòa án nhân dân tối cao.
2.
Trách
nhiệm của Tòa án nhân dân cấp tỉnh:
a)
Xem
xét kháng cáo, kháng nghị đối với quyết định dẫn độ, chuyển giao người đang
chấp hành hình phạt tù theo thẩm quyền;
b)
Báo
cáo kết quá thực hiện tương trợ tư pháp cho Tòa án nhân dân
tối cao.”;
m) Bãi
bỏ khoản 2 Điều 63.
12.
Thay
thế cụm từ “Tòa án nhân dân cấp huyện” bằng cụm từ “Tòa án nhân dân khu vực”
tại khoản 4 Điều 33, khoản 3 và khoản 4 Điều 34 của Luật Phòng, chống ma túy số
73/2021/QH14.
13.
Thay
thế cụm từ “Tòa án nhân dân cấp huyện” bằng cụm từ “Tòa án nhân dân khu vực”
tại khoản 3 Điều 123 của Luật Hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13.
Điều 3. Hiệu lực thi
hành
Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01
tháng 7 năm 2025.
____________________________________
Luật này được Quốc hội
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 24
tháng 6 năm 2025.
CHỦ
TỊCH QUỐC HỘI
Trần
Thanh Mẫn
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét