|
QUỐC HỘI Luật
số: 131/2025/QH15 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ
NGHĨA VIỆT NAM |
LUẬT
SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ
ĐIỀU CỦA LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ
Căn cứ Hiến pháp nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị
quyết số 203/2025/QH15;
Quốc hội ban hành Luật sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11 đã được sửa đổi, bổ
sung một số điều theo Luật số 36/2009/QH12, Luật số 42/2019/QH14, Luật số
07/2022/QH15 và Luật số 93/2025/QH15.
Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Sở hữu trí tuệ
1. Sửa đổi,
bổ sung một số khoản của Điều 4 như sau:
a) Sửa đổi,
bổ sung khoản 1 như sau:
“1. Quyền sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức,
cá nhân đối với các đối tượng quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả,
quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng.”;
b) Sửa đổi,
bổ sung khoản 13 như sau:
“13. Kiểu dáng công nghiệp là hình dáng bên
ngoài của toàn bộ hoặc một phần của sản phẩm dưới dạng vật lý hoặc phi vật lý,
được thể hiện bằng hình khối, đường nét, màu sắc hoặc sự kết hợp những yếu tố
này và nhìn thấy được trong quá trình khai thác công dụng của sản phẩm.”.
2. Bổ
sung khoản 5 vào sau khoản 4 Điều 6 như sau:
“5. Căn
cứ vào quy định của Luật này, Chính phủ quy định việc phát sinh, xác lập quyền
sở hữu trí tuệ theo quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều này trong trường hợp
đối tượng quyền sở hữu trí tuệ được tạo ra có sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo.”.
3. Sửa đổi,
bổ sung khoản 2 và khoản 3; bổ sung khoản 4 và khoản 5 vào sau khoản 3 Điều 7
như sau:
“2. Việc
khai thác, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ không được xâm phạm lợi ích của Nhà nước,
lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác và phải
tuân thủ quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan. Tổ
chức, cá nhân thực hiện quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến Quốc kỳ, Quốc huy,
Quốc ca nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam không được ngăn chặn, cản trở
việc phổ biến, sử dụng Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca.
3. Trong
trường hợp nhằm bảo đảm mục tiêu quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn
xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng quy định tại Luật này, Nhà nước
có quyền cấm hoặc hạn chế chủ thể quyền sở hữu trí tuệ thực hiện quyền của mình
hoặc buộc chủ thể quyền sở hữu trí tuệ phải cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng
một hoặc một số quyền của mình với những điều kiện phù hợp; việc giới hạn quyền
đối với sáng chế thuộc bí mật nhà nước được thực hiện theo quy định của Chính
phủ; việc giới hạn quyền đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ là kết quả của
nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo sử dụng ngân sách nhà nước thực
hiện theo quy định của Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
4. Trường
hợp một đối tượng mà có nhiều quyền sở hữu trí tuệ phát sinh hoặc được xác lập
theo quy định tại Điều 6 của Luật này, quyền sở hữu trí tuệ phát sinh sau hoặc
được xác lập sau đối với đối tượng đó bị buộc chấm dứt thực hiện khi việc thực
hiện quyền sở hữu trí tuệ phát sinh sau hoặc được xác lập sau mâu thuẫn với việc
khai thác bình thường quyền sở hữu trí tuệ đã phát sinh trước hoặc được xác lập
trước. Việc chấm dứt thực hiện quyền sở hữu trí tuệ theo quy định tại khoản này
do Tòa án quyết định. Chính phủ quy định chi tiết khoản này.
5. Tổ chức,
cá nhân được sử dụng văn bản và dữ liệu về đối tượng quyền sở hữu trí tuệ đã được
công bố hợp pháp và công chúng được phép tiếp cận để phục vụ mục đích nghiên cứu
khoa học, thử nghiệm, huấn luyện hệ thống trí tuệ nhân tạo, với điều kiện việc
sử dụng này không ảnh hưởng bất hợp lý đến quyền và lợi ích hợp pháp của tác giả,
chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ theo quy định của Luật này.
Đối với
văn bản và dữ liệu là đối tượng được bảo hộ quyền tác giả và quyền liên quan,
việc sử dụng văn bản và dữ liệu theo quy định tại khoản này còn phải thực hiện
theo quy định của Chính phủ.”.
4. Sửa đổi,
bổ sung một số khoản của Điều 8 như sau:
a) Sửa đổi,
bổ sung khoản 2 như sau:
“2. Khuyến
khích, thúc đẩy hoạt động đổi mới sáng tạo, khai thác, phát triển đối tượng quyền
sở hữu trí tuệ thông qua hỗ trợ về tài chính, ưu đãi về thuế, tín dụng và hỗ trợ,
ưu đãi đầu tư khác phù hợp với quy định của pháp luật nhằm nâng cao năng lực cạnh
tranh quốc gia, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất
và tinh thần của Nhân dân.”;
b) Bổ
sung khoản 3a vào sau khoản 3 như sau:
“3a. Hỗ
trợ việc tạo ra, bảo hộ, khai thác, quản lý, phát triển đối tượng quyền sở hữu
trí tuệ, đặc biệt là đối tượng quyền sở hữu trí tuệ của đồng bào dân tộc thiểu
số; hỗ trợ tổ chức, cá nhân Việt Nam xác định giá trị của quyền sở hữu trí tuệ,
áp dụng các mô hình chuyển nhượng, chuyển giao quyền sử dụng các đối tượng quyền
sở hữu trí tuệ, góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ; thúc đẩy cơ chế hợp tác,
chia sẻ quyền sở hữu trí tuệ giữa Nhà nước, nhà khoa học, tổ chức khoa học và
công nghệ và doanh nghiệp.”;
c) Sửa đổi,
bổ sung khoản 4 và khoản 5 như sau:
“4. Ưu
tiên phát triển hệ sinh thái sở hữu trí tuệ đồng bộ và hiệu quả, đặc biệt là đầu
tư nguồn lực cho các cơ quan quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ và cơ quan bảo
vệ quyền sở hữu trí tuệ; thúc đẩy hình thành và phát triển các tổ chức trung
gian hỗ trợ cho hoạt động phát triển, khai thác, sử dụng và bảo vệ quyền sở hữu
trí tuệ.
5. Hình
thành và triển khai chương trình quốc gia hỗ trợ tạo ra, bảo hộ, khai thác, quản
lý, phát triển đối tượng quyền sở hữu trí tuệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội,
đặc biệt là ở nông thôn, miền núi.”.
5. Bổ
sung Điều 8a vào sau Điều 8 như sau:
“Điều 8a. Quản lý, khai thác
quyền sở hữu trí tuệ
1. Chủ sở
hữu quyền sở hữu trí tuệ có trách nhiệm lập danh mục riêng để quản trị nội bộ
trong trường hợp quyền sở hữu trí tuệ chưa đáp ứng điều kiện để ghi nhận giá trị
tài sản trong sổ kế toán theo quy định của pháp luật về kế toán.
2. Chủ sở
hữu quyền sở hữu trí tuệ được sử dụng quyền sở hữu trí tuệ để thực hiện các hoạt
động giao dịch dân sự, thương mại, đầu tư và các hoạt động khác theo quy định của
pháp luật liên quan theo quy định của pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới
sáng tạo, sở hữu trí tuệ, quản lý, sử dụng tài sản công và quy định khác của
pháp luật có liên quan.
3. Nhà
nước khuyến khích khai thác quyền sở hữu trí tuệ, sử dụng quyền sở hữu trí tuệ
để góp vốn hoặc thế chấp để vay vốn theo quy định của pháp luật về đầu tư,
doanh nghiệp, tín dụng và quy định khác của pháp luật có liên quan.
4. Chính
phủ quy định chi tiết Điều này.”.
6. Bổ
sung Điều 11a và Điều 11b vào sau Điều 11 như sau:
“Điều 11a. Điều kiện bảo đảm
hoạt động quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ
Nhà nước
bảo đảm kinh phí, các điều kiện về cơ sở hạ tầng, phương tiện, trang thiết bị
và các nguồn lực cần thiết khác cho hoạt động quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ,
bao gồm cả hoạt động trong khuôn khổ các Ủy ban, tiểu ban, nhóm công tác theo
các điều ước quốc tế về sở hữu trí tuệ hoặc có nội dung về sở hữu trí tuệ mà nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; hợp tác quốc tế về xử lý đơn
đăng ký sở hữu công nghiệp; hoạt động xử lý đơn đăng ký sở hữu công nghiệp; hỗ
trợ tổ chức, cá nhân trong bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.
Điều 11b. Chuyển đổi số hoạt
động sở hữu trí tuệ
1. Nhà
nước thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện hoạt động sở hữu trí tuệ thông qua việc
ưu tiên phát triển đồng bộ hạ tầng số, cung cấp dịch vụ công trực tuyến, các nền
tảng số phục vụ nghiệp vụ sở hữu trí tuệ, bao gồm cả cơ sở dữ liệu về bảo vệ
quyền sở hữu trí tuệ và cơ sở dữ liệu về giá giao dịch quyền sở hữu trí tuệ, bảo
đảm an toàn và thân thiện với người sử dụng.
2. Nhà
nước đầu tư để tự động hóa quy trình nghiệp vụ ứng dụng công nghệ, trong đó có
dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo để nâng cao hiệu quả, tính minh bạch của hoạt động
sở hữu trí tuệ.
3. Chính
phủ quy định chi tiết khoản 1 Điều này.”.
7. Bổ
sung khoản 4 vào sau khoản 3 Điều 15 như sau;
“4. Ý tưởng; khẩu hiệu; tên tác phẩm một
cách độc lập.”.
8. Sửa đổi,
bổ sung khoản 3 Điều 16 như sau:
“3. Tổ
chức, cá nhân khởi xướng và có trách nhiệm đối với việc định hình lần đầu âm
thanh, hình ảnh của cuộc biểu diễn hoặc các âm thanh, hình ảnh khác hoặc sự tái
hiện của âm thanh, hình ảnh đó trên bất kỳ phương tiện nào (sau đây gọi là nhà
sản xuất bản ghi âm, ghi hình).”.
9. Sửa đổi,
bổ sung khoản 1 Điều 22 như sau:
“1.
Chương trình máy tính là tập hợp các chỉ dẫn được thể hiện dưới dạng lệnh, mã,
lược đồ hoặc dạng khác, khi gắn vào một phương tiện, thiết bị được vận hành bằng
ngôn ngữ lập trình máy tính thì có khả năng làm cho máy tính hoặc thiết bị thực
hiện được công việc hoặc đạt được kết quả cụ thể. Chương trình máy tính được bảo
hộ như tác phẩm văn học, dù được thể hiện dưới dạng mã nguồn hay mã máy.
Tác giả
và chủ sở hữu quyền tác giả đối với chương trình máy tính có quyền thỏa thuận bằng
văn bản với nhau về việc sửa chữa, nâng cấp chương trình máy tính. Tổ chức, cá
nhân có quyền sử dụng hợp pháp bản sao chương trình máy tính được làm một bản
sao dự phòng để thay thế khi bản sao đó bị xóa, bị hỏng hoặc không thể sử dụng
nhưng không được chuyển giao cho tổ chức, cá nhân khác. Trường hợp chương trình
máy tính được cung cấp dưới dạng dịch vụ hoặc thông qua các nền tảng trực tuyến
thì việc tạo bản sao dự phòng thực hiện theo điều khoản sử dụng hoặc thỏa thuận
cấp phép giữa các bên.”.
10. Bổ
sung khoản 3a vào sau khoản 3 Điều 26 như sau:
“3a. Đơn
vị cung cấp dịch vụ phát thanh, truyền hình thực hiện quy định tại điểm a khoản
1 Điều này theo quy định của Chính phủ.”.
11. Bổ
sung khoản 2a vào sau khoản 2 Điều 33 như sau:
“2a. Đơn
vị cung cấp dịch vụ phát thanh, truyền hình thực hiện quy định tại điểm a khoản
1 Điều này theo quy định của Chính phủ.”.
12. Sửa
đổi, bổ sung một số điểm, khoản của Điều 42 như sau:
a) Sửa đổi,
bổ sung điểm a khoản 1 như sau:
“a) Tác
phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng được sáng tạo
bằng ngân sách nhà nước theo phương thức đặt hàng, giao nhiệm vụ, đấu thầu;”;
b) Sửa đổi,
bổ sung khoản 3 và khoản 4 như sau:
“3. Xác
định cơ quan là đại diện chủ sở hữu, cơ quan đại diện quản lý quyền tác giả,
quyền liên quan:
a) Cơ
quan sử dụng ngân sách nhà nước theo phương thức đặt hàng, giao nhiệm vụ, đấu
thầu để tạo ra tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình
phát sóng trong trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều này;
b) Cơ
quan nhận chuyển giao quyền tác giả, quyền liên quan trong trường hợp quy định
tại điểm b khoản 1 Điều này;
c) Cơ
quan quản lý nhà nước về quyền tác giả, quyền liên quan trong trường hợp sau:
trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều này, trừ trường hợp pháp luật có
quy định khác; trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
4. Chính
phủ quy định chi tiết khoản 1 và khoản 2 Điều này; quy định tiền bản quyền
trong các trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.”.
13. Sửa
đổi, bổ sung một số khoản của Điều 49 như sau:
a) Bổ
sung khoản 2a vào sau khoản 2 như sau:
“2a. Tác
giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan phải chịu trách nhiệm
đối với các thông tin nêu trong hồ sơ đăng ký quyền tác giả, đăng ký quyền liên
quan.”;
b) Sửa đổi,
bổ sung khoản 5 như sau:
“5.
Chính phủ quy định chi tiết về thành phần hồ sơ, điều kiện, trình tự, thủ tục
và thời hạn cấp, cấp lại, cấp đổi, hủy bỏ hiệu lực Giấy chứng nhận đăng ký quyền
tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan.”.
14. Sửa
đổi, bổ sung một số điểm, khoản của Điều 50 như sau:
a) Sửa đổi,
bổ sung khoản 1 như sau:
“1. Tác
giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan có thể tự mình hoặc ủy
quyền cho đại diện hợp pháp nộp hồ sơ đăng ký quyền tác giả, đăng ký quyền liên
quan cho cơ quan quản lý nhà nước về quyền tác giả, quyền liên quan theo quy định
của Chính phủ.”;
b) Sửa đổi,
bổ sung điểm a khoản 2 như sau:
“a) Tờ
khai đăng ký quyền tác giả, đăng ký quyền liên quan.
Tờ khai
do chính tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan ký tên
hoặc điểm chỉ, trừ trường hợp không có khả năng về thể chất để ký tên hoặc điểm
chỉ;”;
c) Bổ
sung khoản 4 vào sau khoản 3 như sau:
“4. Bộ
trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định các mẫu văn bản trong hoạt động
đăng ký quyền tác giả, đăng ký quyền liên quan.”.
15. Sửa
đổi, bổ sung tên Điều và khoản 2 Điều 51 như sau:
a) Sửa đổi,
bổ sung tên Điều như sau:
“Điều 51. Thẩm quyền cấp, cấp
lại, cấp đổi, hủy bỏ hiệu lực Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng
nhận đăng ký quyền liên quan”;
b) Sửa đổi,
bổ sung khoản 2 như sau:
“2. Cơ
quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng
nhận đăng ký quyền liên quan có quyền cấp lại, cấp đổi, hủy bỏ hiệu lực Giấy chứng
nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan đã cấp.”.
16. Sửa
đổi, bổ sung khoản 2 Điều 54 như sau:
“2.
Thông tin về tên tác giả; tên tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình,
chương trình phát sóng; tên chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên
quan được công bố trên Niên giám đăng ký về quyền tác giả, quyền liên quan.”.
17. Sửa
đổi, bổ sung một số khoản của Điều 55 như sau:
a) Sửa đổi,
bổ sung khoản 1 và bổ sung khoản 1a vào sau khoản 1 như sau:
“1.
Trong trường hợp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký
quyền liên quan bị mất, hư hỏng thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại
khoản 2 Điều 51 của Luật này tiến hành cấp lại Giấy chứng nhận đăng ký quyền
tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan.
1a. Trường
hợp đề nghị thay đổi chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan; tên
tác phẩm, thông tin của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả; tên đối tượng quyền
liên quan, thông tin của chủ sở hữu quyền liên quan thì cơ quan nhà nước có thẩm
quyền quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này tiến hành cấp đổi Giấy chứng nhận
đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan.”;
b) Sửa đổi,
bổ sung khoản 3 như sau:
“3. Cơ
quan quản lý nhà nước về quyền tác giả, quyền liên quan quyết định hủy bỏ hiệu
lực Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên
quan đối với trường hợp khai không chính xác, không trung thực thông tin trong
hồ sơ đăng ký quyền tác giả, đăng ký quyền liên quan quy định tại Luật này trên
cơ sở yêu cầu, cung cấp thông tin của tổ chức, cá nhân hoặc cơ quan này tự phát
hiện.”.
18. Bổ
sung khoản 3 vào sau khoản 2 Điều 57 như sau:
“3.
Chính phủ quy định chi tiết loại hình và điều kiện hoạt động của tổ chức dịch vụ
đại diện quyền tác giả, quyền liên quan.”.
19. Sửa
đổi, bổ sung khoản 4 và bổ sung khoản 5 vào sau khoản 4 Điều 65 như sau:
“4. Kiểu
dáng công nghiệp không bị coi là mất tính mới nếu được người có quyền đăng ký
quy định tại Điều 86 của Luật này hoặc người có được thông tin về kiểu dáng
công nghiệp một cách trực tiếp hoặc gián tiếp từ người đó bộc lộ công khai với
điều kiện đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp được nộp trong thời hạn sáu tháng kể
từ ngày bộc lộ.
5. Quy định
tại khoản 4 Điều này cũng áp dụng đối với kiểu dáng công nghiệp được bộc lộ
trong đơn đăng ký sở hữu công nghiệp hoặc văn bằng bảo hộ sở hữu công nghiệp do
cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp công bố trong trường hợp
việc công bố không phù hợp với quy định của pháp luật hoặc đơn do người không
có quyền đăng ký nộp.”.
20. Sửa
đổi, bổ sung Điều 67 như sau:
“Điều 67. Khả năng áp dụng
công nghiệp của kiểu dáng công nghiệp
1. Kiểu
dáng công nghiệp được coi là có khả năng áp dụng công nghiệp nếu có thể dùng
làm mẫu để tạo ra hàng loạt sản phẩm có hình dáng bên ngoài hoặc một phần hình
dáng bên ngoài là kiểu dáng công nghiệp, thông qua việc sản xuất sản phẩm vật
lý bằng phương pháp công nghiệp hoặc thủ công nghiệp hoặc để tái tạo đồng nhất
sản phẩm phi vật lý trên không gian mạng.
2. Bộ
trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định chi tiết Điều này.”.
21. Sửa
đổi, bổ sung một số điểm, khoản của Điều 74 như sau:
a) Sửa đổi,
bổ sung điểm đ và bổ sung điểm đ1 vào sau điểm đ khoản 2 như sau:
“đ) Dấu
hiệu chỉ nguồn gốc địa lý của hàng hóa, dịch vụ, trừ trường hợp dấu hiệu đó đã
được sử dụng và thừa nhận rộng rãi với danh nghĩa một nhãn hiệu trước ngày nộp
đơn hoặc được đăng ký nhãn hiệu tập thể hoặc nhãn hiệu chứng nhận quy định tại
Luật này; đối với dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý quốc gia Việt Nam của hàng hóa,
dịch vụ thực hiện theo quy định tại điểm đ1 khoản này;
đ1) Dấu
hiệu chỉ nguồn gốc địa lý quốc gia Việt Nam của hàng hóa, dịch vụ, trừ trường hợp
dấu hiệu đó đã được sử dụng và thừa nhận rộng rãi với danh nghĩa một nhãn hiệu
trước ngày nộp đơn hoặc dấu hiệu đó là yếu tố cấu thành của dấu hiệu có khả
năng phân biệt được đăng ký nhãn hiệu tập thể hoặc nhãn hiệu chứng nhận quy định
tại Luật này;”;
b) Bổ
sung khoản 3 vào sau khoản 2 như sau:
“3. Bộ
trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định chi tiết Điều này.”.
22. Bổ
sung điểm c vào sau điểm b khoản 1 Điều 86 như sau:
“c) Tổ
chức được giao quyền quản lý, sử dụng, quyền sở hữu kết quả của nhiệm vụ khoa học,
công nghệ và đổi mới sáng tạo sử dụng ngân sách nhà nước theo quy định của pháp
luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo có quyền đăng ký sáng chế, kiểu
dáng công nghiệp, thiết kế bố trí là kết quả của nhiệm vụ đó.”.
23. Sửa
đổi, bổ sung Điều 89 như sau:
“Điều 89. Cách thức nộp đơn
yêu cầu thực hiện các thủ tục liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp
1. Tổ chức,
cá nhân Việt Nam, cá nhân nước ngoài thường trú tại Việt Nam, tổ chức, cá nhân
nước ngoài có cơ sở sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam có thể tự mình hoặc thông
qua đại diện hợp pháp tại Việt Nam để nộp đơn yêu cầu thực hiện các thủ tục
liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp.
2. Cá
nhân nước ngoài không thường trú tại Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài
không có cơ sở sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam nộp đơn yêu cầu thực hiện các
thủ tục liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp thông qua đại diện hợp pháp tại
Việt Nam.
3. Đơn
trong các thủ tục liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp phải được nộp dưới
hình thức văn bản ở dạng giấy hoặc dạng điện tử theo hệ thống nộp đơn điện tử.
4. Bộ
trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định chi tiết Điều này.”.
24. Sửa
đổi, bổ sung khoản 1 Điều 89a như sau:
“1. Sáng
chế thuộc danh mục bí mật nhà nước trong các lĩnh vực kỹ thuật có tác động đến
quốc phòng, an ninh, được tạo ra tại Việt Nam và thuộc quyền đăng ký của cá
nhân là công dân Việt Nam và thường trú tại Việt Nam hoặc của tổ chức được
thành lập theo pháp luật Việt Nam chỉ được nộp đơn đăng ký sáng chế ở nước
ngoài sau khi Bộ Quốc phòng hoặc Bộ Công an cho phép.”.
25. Sửa
đổi, bổ sung khoản 1 Điều 92 như sau:
“1. Văn
bằng bảo hộ ghi nhận:
a) Chủ sở
hữu sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, nhãn hiệu hoặc đại diện
chủ sở hữu sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí đối với trường hợp
người nộp đơn là tổ chức được giao quyền quản lý, sử dụng kết quả của nhiệm vụ
khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo sử dụng ngân sách nhà nước theo quy định
của pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo (sau đây gọi là chủ
văn bằng bảo hộ);
b) Tác
giả sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí;
c) Đối
tượng, phạm vi và thời hạn bảo hộ.”.
26. Sửa
đổi, bổ sung khoản 3; bổ sung khoản 4 vào sau khoản 3 Điều 94 như sau:
“3. Mức
phí, lệ phí duy trì, gia hạn hiệu lực văn bằng bảo hộ theo quy định của pháp luật
về phí, lệ phí.
4. Bộ
trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định trình tự, thủ tục duy trì, gia hạn hiệu
lực văn bằng bảo hộ.”.
27. Bổ
sung khoản 8 vào sau khoản 7 Điều 95 như sau:
“8. Bộ
trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định trình tự, thủ tục yêu cầu chấm dứt hiệu
lực văn bằng bảo hộ và việc chấm dứt hiệu lực văn bằng bảo hộ.”.
28. Sửa
đổi, bổ sung một số điểm, khoản của Điều 96 như sau:
a) Bổ
sung điểm d vào sau điểm c khoản 1 như sau:
“d) Tác
giả sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí không đáp ứng quy định tại
khoản 1 Điều 122 của Luật này.”;
b) Sửa đổi,
bổ sung điểm e khoản 2 như sau:
“e) Sáng
chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu không đáp ứng nguyên tắc nộp đơn đầu tiên
quy định tại Điều 90 của Luật này.”;
c) Sửa đổi,
bổ sung khoản 7 như sau:
“7. Bộ
trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định chi tiết Điều này.”.
29. Sửa
đổi, bổ sung một số khoản của Điều 97 như sau:
a) Sửa đổi,
bổ sung khoản 1 và khoản 2 như sau:
“1. Chủ
văn bằng bảo hộ, tổ chức, cá nhân thực hiện quyền đăng ký chỉ dẫn địa lý theo
quy định tại Điều 88 của Luật này, tổ chức quản lý chỉ dẫn địa lý có quyền yêu
cầu sửa đổi những thông tin sau đây trên văn bằng bảo hộ với điều kiện phải nộp
phí, lệ phí:
a) Thay
đổi, sửa chữa thiếu sót liên quan đến thông tin về tác giả, chủ văn bằng bảo hộ,
tổ chức quản lý chỉ dẫn địa lý;
b) Sửa đổi
bản mô tả tính chất, chất lượng đặc thù, khu vực địa lý mang chỉ dẫn địa lý; sửa
đổi quy chế sử dụng nhãn hiệu tập thể, quy chế sử dụng nhãn hiệu chứng nhận.
2. Theo
yêu cầu của chủ văn bằng bảo hộ, tổ chức, cá nhân thực hiện quyền đăng ký chỉ dẫn
địa lý, tổ chức quản lý chỉ dẫn địa lý, cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu
công nghiệp có trách nhiệm sửa chữa thiếu sót trong văn bằng bảo hộ do lỗi của
cơ quan đó. Trong trường hợp này, chủ văn bằng bảo hộ, tổ chức, cá nhân thực hiện
quyền đăng ký chỉ dẫn địa lý, tổ chức quản lý chỉ dẫn địa lý không phải nộp
phí, lệ phí.”;
b) Bổ
sung khoản 4 vào sau khoản 3 như sau:
“4. Bộ
trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định chi tiết Điều này.”.
30. Sửa
đổi, bổ sung Điều 99 như sau:
“Điều 99. Công bố các quyết định
liên quan đến văn bằng bảo hộ
Quyết định
cấp, chấm dứt, hủy bỏ, sửa đổi văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp được
công bố trên Công báo sở hữu công nghiệp trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ
ngày ra quyết định.”.
31. Sửa
đổi, bổ sung Điều 100 như sau:
“Điều 100. Yêu cầu chung đối
với đơn đăng ký sở hữu công nghiệp
1. Đơn
đăng ký sở hữu công nghiệp bao gồm các tài liệu về đối tượng yêu cầu bảo hộ và
các tài liệu khác liên quan.
2. Đơn
đăng ký sở hữu công nghiệp và giấy tờ giao dịch liên quan đến đơn giữa người nộp
đơn và cơ quan có thẩm quyền xử lý đơn phải được làm bằng tiếng Việt, trừ một số
tài liệu có thể được làm bằng ngôn ngữ khác nhưng phải được dịch ra tiếng Việt
khi có yêu cầu.
3. Mỗi
đơn đăng ký sở hữu công nghiệp chỉ được yêu cầu cấp một văn bằng bảo hộ cho một
đối tượng sở hữu công nghiệp duy nhất, trừ trường hợp quy định tại các khoản 4,
5 và 6 Điều này.
4. Mỗi
đơn đăng ký có thể yêu cầu cấp một Bằng độc quyền sáng chế hoặc một Bằng độc
quyền giải pháp hữu ích cho một nhóm sáng chế có mối liên hệ chặt chẽ về kỹ thuật
nhằm thực hiện một ý đồ sáng tạo chung duy nhất.
5. Mỗi
đơn đăng ký có thể yêu cầu cấp một Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp cho nhiều
kiểu dáng công nghiệp trong các trường hợp sau đây:
a) Các
kiểu dáng công nghiệp của một bộ sản phẩm gồm nhiều sản phẩm thể hiện ý tưởng
sáng tạo chung duy nhất, được sử dụng cùng nhau hoặc để thực hiện chung một mục
đích;
b) Một
kiểu dáng công nghiệp kèm theo một hoặc nhiều phương án là biến thể của kiểu
dáng công nghiệp đó theo ý tưởng sáng tạo chung duy nhất, không khác biệt đáng
kể với kiểu dáng công nghiệp đó.
6. Mỗi
đơn đăng ký có thể yêu cầu cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu cho một nhãn
hiệu dùng cho một hoặc nhiều hàng hóa, dịch vụ khác nhau.
7. Người
nộp đơn chịu trách nhiệm đối với thông tin khai trong đơn. Trường hợp có căn cứ
để xác định thông tin trong đơn là không chính xác, không trung thực, cơ quan
nhà nước đã cấp văn bằng bảo hộ có thẩm quyền thu hồi quyết định cấp văn bằng bảo
hộ đó.
8. Bộ
trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định chi tiết Điều này.”.
32. Sửa
đổi, bổ sung Điều 107 như sau:
“Điều 107. Ủy quyền đại diện
trong các thủ tục liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp
1. Tổ chức,
cá nhân có thể ủy quyền cho tổ chức, cá nhân khác đại diện thực hiện các thủ tục
liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp. Việc ủy quyền tiến hành các thủ tục
liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp phải được lập thành văn bản.
2. Văn bản
ủy quyền bao gồm các nội dung chủ yếu sau đây:
a) Tên,
địa chỉ đầy đủ của bên ủy quyền và bên được ủy quyền;
b) Phạm
vi ủy quyền;
c) Thời
hạn ủy quyền;
d) Ngày
lập ủy quyền;
đ) Chữ
ký, con dấu (nếu có) của bên ủy quyền.
3. Văn bản
ủy quyền không có thời hạn ủy quyền thì thời hạn ủy quyền được xác định theo
quy định của Bộ luật Dân sự. Trường hợp bên ủy quyền hoặc bên được ủy quyền đơn
phương chấm dứt việc ủy quyền thì phải có văn bản tuyên bố chấm dứt việc ủy quyền.
4. Bộ
trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ hướng dẫn thi hành về việc ủy quyền trong thực
hiện thủ tục liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp.”.
33. Sửa
đổi, bổ sung Điều 108 như sau:
“Điều 108. Ngày nộp đơn và điều
kiện tiếp nhận đơn đăng ký sở hữu công nghiệp
1. Ngày
nộp đơn đăng ký sở hữu công nghiệp là ngày đơn được cơ quan nhà nước có thẩm
quyền tiếp nhận hoặc là ngày nộp đơn quốc tế đối với đơn nộp theo điều ước quốc
tế. Đơn chỉ được tiếp nhận khi đáp ứng các điều kiện theo quy định của Bộ trưởng
Bộ Khoa học và Công nghệ, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
2. Đơn
đăng ký đối với sáng chế mật được thực hiện theo quy định của Chính phủ.”.
34. Sửa
đổi, bổ sung, bãi bỏ một số điểm, khoản của Điều 109 như sau:
a) Bổ
sung điểm c1 vào sau điểm c khoản 2 như sau:
“c1) Có
cơ sở để khẳng định tác giả sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí
không đáp ứng quy định tại khoản 1 Điều 122 của Luật này;”;
b) Bãi bỏ
khoản 3; sửa đổi, bổ sung khoản 4 và khoản 5; bổ sung khoản 6 vào sau khoản 5
như sau:
“4. Đơn
đăng ký sở hữu công nghiệp không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều
này được coi là đơn hợp lệ về hình thức và được công bố theo quy định tại Điều
110 của Luật này và thẩm định nội dung theo quy định tại Điều 114 của Luật này
hoặc thực hiện thủ tục cấp văn bằng bảo hộ và ghi nhận vào sổ đăng ký quốc gia
về sở hữu công nghiệp theo quy định tại Điều 118 của Luật này đối với đơn đăng
ký thiết kế bố trí. Ngày đơn được chuyển để công bố là ngày đơn được coi là hợp
lệ về hình thức.
5. Đơn
đăng ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu bị từ chối cấp văn bằng bảo
hộ vì không hợp lệ về hình thức bị coi là không được nộp nhưng được dùng làm
căn cứ để yêu cầu hưởng quyền ưu tiên.
6. Bộ
trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định chi tiết việc thẩm định hình thức đơn
đăng ký sở hữu công nghiệp.”.
35. Sửa
đổi, bổ sung các khoản 1a, 1, 2 và 3 Điều 110 như sau:
“1a. Đơn
đăng ký nhãn hiệu được công khai ngay sau khi được tiếp nhận.
1. Đơn
đăng ký sở hữu công nghiệp hợp lệ được công bố trên Công báo sở hữu công nghiệp
theo quy định tại Điều này.
2. Đơn
đăng ký sáng chế hợp lệ về hình thức được công bố trong tháng thứ mười chín kể
từ ngày nộp đơn hoặc từ ngày ưu tiên đối với đơn được hưởng quyền ưu tiên. Trường
hợp người nộp đơn có yêu cầu công bố sớm, đơn được công bố trong thời hạn một
tháng kể từ ngày người nộp đơn có yêu cầu công bố sớm hoặc kể từ ngày đơn được
coi là hợp lệ, tùy theo thời điểm nào muộn hơn.
3. Đơn
đăng ký kiểu dáng công nghiệp, đơn đăng ký nhãn hiệu, đơn đăng ký chỉ dẫn địa
lý được công bố trong thời hạn một tháng kể từ ngày đơn được coi là hợp lệ. Đơn
đăng ký kiểu dáng công nghiệp có thể được công bố vào thời điểm muộn hơn theo
yêu cầu của người nộp đơn tại thời điểm nộp đơn nhưng không quá bảy tháng kể từ
ngày nộp đơn.”.
36. Sửa
đổi, bổ sung Điều 111 như sau:
“Điều 111. Bảo mật đơn đăng
ký sáng chế, đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp trước khi công bố
1. Trước
thời điểm đơn đăng ký sáng chế, đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp được công bố
trên Công báo sở hữu công nghiệp, thông tin trong đơn phải được bảo mật.
2. Cán bộ,
công chức, viên chức, người lao động liên quan đến quy trình xử lý đơn làm lộ
bí mật thông tin trong đơn đăng ký sáng chế, đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp
thì bị xử lý kỷ luật; nếu việc làm lộ bí mật thông tin gây thiệt hại cho người
nộp đơn thì phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.”.
37. Sửa
đổi, bổ sung một số khoản của Điều 112a như sau:
a) Sửa đổi,
bổ sung khoản 1 như sau:
“1.
Trong các thời hạn sau đây, bất kỳ người thứ ba nào cũng có quyền phản đối việc
cấp văn bằng bảo hộ:
a) Sáu
tháng kể từ ngày đơn đăng ký sáng chế được công bố hoặc ba tháng kể từ ngày đơn
đăng ký sáng chế được công bố trong trường hợp đơn đăng ký sáng chế được thẩm định
nội dung nhanh theo quy định tại khoản 2a Điều 119 của Luật này;
b) Ba
tháng kể từ ngày đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp, đơn đăng ký nhãn hiệu, đơn
đăng ký chỉ dẫn địa lý được công bố.”;
b) Sửa đổi,
bổ sung khoản 3 như sau:
“3. Bộ
trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định chi tiết trình tự, thủ tục xử lý ý kiến
phản đối tại khoản 2 Điều này.”.
38. Sửa
đổi, bổ sung một số khoản của Điều 113 như sau:
a) Sửa đổi,
bổ sung khoản 1 như sau:
“1.
Trong thời hạn ba mươi sáu tháng kể từ ngày nộp đơn hoặc kể từ ngày ưu tiên
trong trường hợp đơn được hưởng quyền ưu tiên, người nộp đơn đăng ký sáng chế
hoặc bất kỳ người thứ ba nào đều có quyền yêu cầu thẩm định nội dung đơn với điều
kiện phải nộp phí thẩm định nội dung đơn.”;
b) Bổ
sung khoản 4 vào sau khoản 3 như sau:
“4. Bộ
trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định chi tiết về trình tự, thủ tục yêu cầu
và xử lý yêu cầu thẩm định nội dung đơn đăng ký sáng chế.”.
39. Bổ
sung khoản 3a vào sau khoản 3; sửa đổi, bổ sung khoản 4 Điều 114 như sau:
“3a. Đơn
đăng ký sở hữu công nghiệp được tạm dừng thẩm định nội dung trong các trường hợp
sau đây:
a) Người
nộp đơn nộp đề nghị tạm dừng thẩm định nội dung đơn để yêu cầu chấm dứt hiệu lực
hoặc hủy bỏ hiệu lực Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu theo trường hợp loại trừ
được quy định tại điểm e và điểm h khoản 2 Điều 74 của Luật này. Việc thẩm định
nội dung đơn được tiếp tục thực hiện khi có kết quả giải quyết yêu cầu chấm dứt
hiệu lực hoặc hủy bỏ hiệu lực Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu;
b) Có
thông báo thụ lý vụ án của Tòa án có thẩm quyền về việc người thứ ba khởi kiện
liên quan đến quyền đăng ký đối tượng sở hữu công nghiệp hoặc nhãn hiệu được
đăng ký với dụng ý xấu. Việc thẩm định nội dung đơn được tiếp tục thực hiện
ngay sau khi có bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án.
4. Bộ
trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định chi tiết việc thẩm định nội dung đơn
đăng ký sở hữu công nghiệp; việc sử dụng kết quả thẩm định nội dung đơn đăng ký
sáng chế quy định tại khoản 3 Điều này.”.
40. Bổ
sung khoản 5 vào sau khoản 4 Điều 115 như sau:
“5. Bộ
trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định chi tiết Điều này.”.
41. Bổ
sung khoản 4 vào sau khoản 3 Điều 116 như sau:
“4. Bộ
trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định chi tiết Điều này.”.
42. Bổ
sung, bãi bỏ một số điểm, khoản của Điều 117 như sau:
a) Bổ
sung điểm e vào sau điểm đ khoản 1 như sau:
“e) Đơn
bị coi là không hợp lệ theo quy định tại khoản 2 Điều 109 của Luật này.”;
b) Bổ
sung khoản 1b vào sau khoản 1a như sau:
“1b.
Ngoài các trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản Ia Điều này, đơn đăng ký
sáng chế và đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp bị từ chối cấp văn bằng bảo hộ
trong trường hợp có cơ sở để khẳng định rằng tác giả sáng chế, tác giả kiểu
dáng công nghiệp đó không đáp ứng quy định tại khoản 1 Điều 122 của Luật này.”;
c) Bãi bỏ
khoản 3.
43. Sửa
đổi, bổ sung Điều 118 như sau:
“Điều 118. Cấp văn bằng bảo hộ,
đăng bạ
Đơn đăng
ký sở hữu công nghiệp không thuộc trường hợp từ chối cấp văn bằng bảo hộ quy định
tại các điểm a, b, c, d và đ khoản 1, các khoản 1a, 1b và 2 Điều 117 của Luật
này và người nộp đơn nộp đủ phí, lệ phí theo quy định của pháp luật thì cơ quan
quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp ra quyết định cấp văn bằng bảo hộ
và ghi nhận vào sổ đăng ký quốc gia về sở hữu công nghiệp.”.
44. Sửa
đổi, bổ sung khoản 2; bổ sung khoản 2a vào sau khoản 2 Điều 119 như sau:
“2. Đơn
đăng ký sở hữu công nghiệp được thẩm định nội dung trong thời hạn sau đây:
a) Đối với
sáng chế: trong thời hạn mười hai tháng kể từ ngày công bố đơn nếu yêu cầu thẩm
định nội dung được nộp trước ngày công bố đơn hoặc kể từ ngày nhận được yêu cầu
thẩm định nội dung nếu yêu cầu đó được nộp sau ngày công bố đơn;
b) Đối với
nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp và chỉ dẫn địa lý: trong thời hạn năm tháng kể
từ ngày công bố đơn.
2a.
Trong các trường hợp theo quy định của Chính phủ, người nộp đơn có quyền yêu cầu
thẩm định nội dung nhanh đối với đơn đăng ký sáng chế, đơn đăng ký nhãn hiệu.
Việc thẩm định nội dung nhanh được thực hiện trong thời hạn ba tháng kể từ thời
điểm quy định tại điểm a hoặc điểm b khoản 2 Điều này.”.
45. Sửa
đổi, bổ sung một số khoản của Điều 119a như sau:
a) Sửa đổi,
bổ sung khoản 1 và khoản 2 như sau:
“1. Người
nộp đơn và tổ chức, cá nhân có quyền, lợi ích liên quan trực tiếp đến quyết định
hoặc thông báo liên quan đến việc xử lý đơn đăng ký xác lập quyền, duy trì, gia
hạn, sửa đổi, chấm dứt, hủy bỏ hiệu lực văn bằng bảo hộ sở hữu công nghiệp,
đăng ký hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp có quyền khiếu nại hoặc
khởi kiện tại Tòa án theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật
có liên quan.
2. Tổ chức,
cá nhân Việt Nam, cá nhân nước ngoài thường trú tại Việt Nam, tổ chức, cá nhân
nước ngoài có cơ sở sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam có thể tự mình hoặc thông
qua đại diện hợp pháp tại Việt Nam nộp đơn khiếu nại. Cá nhân nước ngoài không
thường trú tại Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài không có cơ sở sản xuất,
kinh doanh tại Việt Nam nộp đơn khiếu nại thông qua đại diện hợp pháp tại Việt
Nam. Việc ủy quyền cho đại diện hợp pháp tại Việt Nam nộp đơn khiếu nại phải được
lập thành văn bản. Văn bản ủy quyền này không bắt buộc phải công chứng, chứng
thực.”;
b) Sửa đổi,
bổ sung khoản 5 như sau:
“5. Thời
hạn giải quyết khiếu nại được áp dụng theo quy định của pháp luật về khiếu nại.
Thời gian để thẩm định lại đối với các trường hợp quy định tại khoản 4 Điều
này, thời gian để người khiếu nại, người bị khiếu nại, cơ quan, tổ chức, cá
nhân có liên quan cung cấp ý kiến, thông tin, tài liệu và chứng cứ về nội dung
khiếu nại, thời gian thực hiện trưng cầu giám định (nếu có), thời gian người
khiếu nại sửa đổi, bổ sung hồ sơ khiếu nại không tính vào thời hạn giải quyết
khiếu nại.”;
c) Bổ
sung khoản 7 vào sau khoản 6 như sau:
“7. Bộ
trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định chi tiết về khiếu nại và giải quyết
khiếu nại liên quan đến các thủ tục về sở hữu công nghiệp.”.
46. Sửa
đổi, bổ sung khoản 3 Điều 120 như sau:
“3. Bộ
trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định chi tiết về đơn quốc tế và trình tự,
thủ tục xử lý đơn quốc tế của điều ước quốc tế có liên quan phù hợp với các
nguyên tắc của Chương này.”.
47. Sửa
đổi, bổ sung khoản 2 Điều 120a như sau:
“2. Việc
công bố đề nghị quốc tế, xử lý ý kiến của người thứ ba, đánh giá điều kiện bảo
hộ đối với chỉ dẫn địa lý trong đề nghị quốc tế được thực hiện theo các quy định
tương ứng tại Luật này đối với chỉ dẫn địa lý trong đơn đăng ký chỉ dẫn địa lý
được nộp theo thủ tục quy định tại Luật này.”.
48. Bổ
sung khoản 3 vào sau khoản 2 Điều 123 như sau:
“3. Tổ
chức được ghi nhận là đại diện chủ sở hữu trên văn bằng bảo hộ được đại diện thực
hiện quyền của chủ sở hữu đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố
trí phù hợp với quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên
quan.”.
49. Sửa
đổi, bổ sung một số điểm của khoản 2 Điều 124 như sau:
a) Sửa đổi,
bổ sung điểm a như sau:
“a) Sản
xuất sản phẩm hoặc một phần của sản phẩm có hình dáng bên ngoài là kiểu dáng
công nghiệp được bảo hộ;”;
b) Bổ
sung điểm d vào sau điểm c như sau:
“d) Lưu
thông bản sao kỹ thuật số của sản phẩm phi vật lý có hình dáng bên ngoài hoặc một
phần hình dáng bên ngoài là kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ.”.
50. Sửa
đổi, bổ sung điểm d khoản 1 Điều 146 như sau:
“d) Người
được chuyển giao quyền sử dụng phải trả cho người nắm độc quyền sử dụng sáng chế
khoản tiền đền bù thỏa đáng tùy thuộc vào giá trị kinh tế của quyền sử dụng đó
trong từng trường hợp cụ thể theo quy định của Chính phủ, trừ trường hợp quyền
sử dụng sáng chế được chuyển giao theo quyết định bắt buộc để nhập khẩu dược phẩm
theo điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên
và khoản tiền đền bù cho việc sử dụng sáng chế được chuyển giao theo quyết định
bắt buộc đã được trả tại nước xuất khẩu;”.
51. Sửa
đổi, bổ sung khoản 1 Điều 147 như sau:
“1. Ủy
ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ban hành quyết định chuyển
giao quyền sử dụng sáng chế trên cơ sở xem xét yêu cầu được chuyển giao quyền sử
dụng đối với trường hợp quy định tại các điểm b, c và d khoản 1 Điều 145 của Luật
này.
Bộ, cơ
quan ngang Bộ ban hành quyết định chuyển giao quyền sử dụng sáng chế thuộc lĩnh
vực quản lý nhà nước của mình trong trường hợp quy định tại điểm a và điểm đ
khoản 1 Điều 145 của Luật này.”.
52. Sửa
đổi, bổ sung khoản 3 Điều 148 như sau:
“3. Hợp
đồng sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp tại khoản 2 Điều này, trừ hợp đồng sử
dụng nhãn hiệu, phải đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền mới có giá trị
pháp lý đối với bên thứ ba.”.
53. Sửa
đổi, bổ sung Điều 150 như sau:
“Điều 150. Xử lý hồ sơ đăng
ký hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp
1. Chính
phủ quy định về hồ sơ đăng ký hợp đồng sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp,
trình tự, thủ tục tiếp nhận và xử lý hồ sơ đăng ký hợp đồng sử dụng đối tượng sở
hữu công nghiệp.
2. Bộ
trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định về hồ sơ đăng ký hợp đồng chuyển nhượng
quyền sở hữu công nghiệp, trình tự, thủ tục tiếp nhận và xử lý hồ sơ đăng ký hợp
đồng chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp.”.
54. Sửa
đổi, bổ sung khoản 3 Điều 155 như sau:
“3.
Chính phủ quy định chi tiết việc kiểm tra nghiệp vụ đại diện sở hữu công nghiệp,
cấp, cấp lại Chứng chỉ hành nghề dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp. Bộ trưởng
Bộ Khoa học và Công nghệ quy định chương trình đào tạo pháp luật về sở hữu công
nghiệp.”.
55. Sửa
đổi, bổ sung tên Điều và một số khoản của Điều 156 như sau:
a) Sửa đổi,
bổ sung tên Điều như sau:
“Điều 156. Ghi nhận, xóa tên
đại diện sở hữu công nghiệp, thu hồi Chứng chỉ hành nghề dịch vụ đại diện sở hữu
công nghiệp”;
b) Sửa đổi,
bổ sung khoản 1 và khoản 2 như sau:
“1. Tổ
chức, cá nhân đáp ứng các điều kiện kinh doanh, hành nghề dịch vụ đại diện sở hữu
công nghiệp quy định tại Điều 154 và Điều 155 của Luật này được cơ quan quản lý
nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp ghi nhận trong sổ đăng ký quốc gia về đại
diện sở hữu công nghiệp.
2. Trường
hợp đại diện sở hữu công nghiệp không còn đáp ứng các điều kiện kinh doanh,
hành nghề dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp quy định tại Điều 154 và Điều 155
của Luật này, cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi Chứng chỉ hành nghề dịch vụ
đại diện sở hữu công nghiệp, xóa tên đại diện sở hữu công nghiệp trong sổ đăng
ký quốc gia về đại diện sở hữu công nghiệp.”;
c) Bổ
sung khoản 5 vào sau khoản 4 như sau:
“5.
Chính phủ quy định chi tiết trình tự, thủ tục ghi nhận, xóa tên đại diện sở hữu
công nghiệp, thu hồi Chứng chỉ hành nghề dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp.”.
56. Bổ
sung một số điểm, khoản của Điều 164 như sau:
a) Bổ
sung điểm b1 vào sau điểm b khoản 2 như sau:
“b1) Tổ
chức được giao quyền quản lý, sử dụng, quyền sở hữu kết quả nhiệm vụ khoa học,
công nghệ và đổi mới sáng tạo sử dụng ngân sách nhà nước theo quy định của pháp
luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo có quyền đăng ký bảo hộ giống
cây trồng là kết quả của nhiệm vụ đó;”;
b) Bổ
sung khoản 2a vào sau khoản 2 như sau:
“2a. Trường
hợp nhiều tổ chức, cá nhân cùng nhau chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển giống
cây trồng hoặc đầu tư cho tác giả chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển giống
cây trồng thì các tổ chức, cá nhân đó đều có quyền đăng ký và quyền đăng ký đó
chỉ được thực hiện nếu được tất cả các tổ chức, cá nhân đó đồng ý.”.
57. Sửa
đổi, bổ sung một số khoản của Điều 165 như sau:
a) Sửa đổi,
bổ sung khoản 1 như sau:
“1. Tổ
chức, cá nhân Việt Nam; tổ chức, cá nhân nước ngoài thường trú tại Việt Nam hoặc
có cơ sở sản xuất, kinh doanh giống cây trồng tại Việt Nam tự mình hoặc thông
qua cơ sở sản xuất, kinh doanh giống cây trồng của tổ chức đó hoặc thông qua tổ
chức dịch vụ đại diện quyền đối với giống cây trồng nộp đơn đăng ký quyền đối với
giống cây trồng; các tổ chức, cá nhân khác quy định tại Điều 157 của Luật này nộp
đơn thông qua tổ chức dịch vụ đại diện quyền đối với giống cây trồng.”;
b) Sửa đổi,
bổ sung khoản 7 như sau:
“7.
Chính phủ quy định chi tiết việc kiểm tra nghiệp vụ đại diện quyền đối với giống
cây trồng; cấp, cấp lại, thu hồi Chứng chỉ hành nghề dịch vụ đại diện quyền đối
với giống cây trồng; ghi nhận, ghi nhận lại, xóa tên tổ chức dịch vụ đại diện
quyền đối với giống cây trồng. Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
quy định chương trình đào tạo pháp luật về quyền đối với giống cây trồng.”.
58. Sửa
đổi, bổ sung khoản 3 Điều 170 như sau:
“3.
Trong trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này, Bằng bảo hộ giống cây trồng
tự động bị đình chỉ hiệu lực kể từ ngày bắt đầu năm hiệu lực đầu tiên mà lệ phí
để duy trì hiệu lực không được nộp. Trong thời hạn sáu mươi ngày kể từ ngày Bằng
bảo hộ giống cây trồng bị đình chỉ hiệu lực, cơ quan quản lý nhà nước về quyền
đối với giống cây trồng thông báo về việc đình chỉ hiệu lực Bằng bảo hộ giống
cây trồng theo quy định tại khoản 5 Điều này.”.
59. Sửa
đổi, bổ sung điểm d khoản 3 Điều 176 như sau:
“d)
Thông báo chấp nhận đơn, yêu cầu người đăng ký gửi mẫu giống đến cơ sở khảo
nghiệm để tiến hành khảo nghiệm kỹ thuật trong thời hạn ba mươi ngày trước thời
vụ gieo trồng đầu tiên, kể từ ngày ban hành thông báo chấp nhận đơn đăng ký bảo
hộ giống cây trồng đó, trừ trường hợp giống cây trồng do người đăng ký tự khảo
nghiệm theo quy định tại khoản 2 Điều 178 của Luật này nếu đơn này hợp lệ hoặc
người đăng ký khắc phục thiếu sót đạt yêu cầu hoặc có ý kiến xác đáng phản đối
thông báo quy định tại điểm b khoản này. Trường hợp người đăng ký tự thực hiện
khảo nghiệm kỹ thuật, việc khảo nghiệm phải được bắt đầu thực hiện trong thời hạn
hai mươi tư tháng kể từ ngày đơn được chấp nhận hợp lệ. Quá thời hạn trên người
đăng ký chưa bắt đầu thực hiện tự khảo nghiệm thì đơn đăng ký bảo hộ giống cây
trồng được coi như đã rút tại thời điểm kết thúc thời hạn đó.”.
60. Sửa
đổi, bổ sung khoản 3 Điều 178 như sau:
“3. Thời
hạn thẩm định kết quả khảo nghiệm kỹ thuật là sáu mươi ngày, kể từ ngày nhận được
kết quả khảo nghiệm kỹ thuật.”.
61. Sửa
đổi, bổ sung Điều 183 như sau:
“Điều 183. Cấp Bằng bảo hộ giống
cây trồng
1. Trong
trường hợp đơn đăng ký bảo hộ không bị từ chối theo quy định tại Điều 182 của
Luật này và người đăng ký nộp lệ phí thì cơ quan quản lý nhà nước về quyền đối
với giống cây trồng quyết định cấp Bằng bảo hộ giống cây trồng và ghi nhận vào
sổ đăng ký quốc gia về giống cây trồng được bảo hộ.
2. Tổ chức,
cá nhân đăng ký quyền đối với giống cây trồng theo quy định tại khoản 2 Điều
164 của Luật này và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Bằng bảo hộ giống
cây trồng là chủ sở hữu quyền đối với giống cây trồng, trừ trường hợp quy định
tại khoản 3 Điều này.
3. Tổ chức
được giao quyền quản lý, sử dụng kết quả của nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi
mới sáng tạo sử dụng ngân sách nhà nước đăng ký quyền đối với giống cây trồng
theo quy định tại điểm bl khoản 2 Điều 164 của Luật này và được cơ quan nhà nước
có thẩm quyền cấp Bằng bảo hộ giống cây trồng đại diện thực hiện quyền của chủ
sở hữu đối với giống cây trồng.”.
62. Sửa
đổi, bổ sung khoản 5 Điều 191 như sau:
“5. Nộp
lệ phí duy trì hiệu lực Bằng bảo hộ giống cây trồng cho cơ quan quản lý nhà nước
về bảo hộ giống cây trồng trong thời hạn ba tháng trước ngày đầu tiên của năm
hiệu lực tiếp theo.”.
63. Sửa
đổi, bổ sung khoản 1 Điều 196 như sau:
“1. Ủy
ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ban hành quyết định chuyển
giao quyền sử dụng giống cây trồng trên cơ sở xem xét yêu cầu được chuyển giao
quyền sử dụng đối với trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 195 của Luật này.”.
64. Sửa
đổi, bổ sung tên Điều và một số khoản của Điều 198b như sau:
a) Sửa đổi,
bổ sung tên Điều như sau:
“Điều 198b. Trách nhiệm pháp
lý về quyền sở hữu trí tuệ đối với doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian và
chủ quản nền tảng số”;
b) Sửa đổi,
bổ sung khoản 1 như sau:
“1.
Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian là doanh nghiệp cung cấp phương tiện kỹ
thuật, nền tảng số để tổ chức, cá nhân sử dụng dịch vụ đưa nội dung thông tin số
lên không gian mạng; cung cấp kết nối trực tuyến cho công chúng tiếp cận, sử dụng
nội dung thông tin số trên không gian mạng.”;
c) Bổ
sung khoản 5a vào sau khoản 5 như sau:
“5a. Chủ
quản nền tảng số có trách nhiệm triển khai các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu
trí tuệ trên không gian mạng theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ,
thương mại điện tử, an ninh mạng và quy định khác của pháp luật có liên quan.”.
65. Sửa
đổi, bổ sung một số khoản của Điều 200 như sau:
a) Sửa đổi,
bổ sung khoản 1 như sau:
“1.
Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Tòa án, người có thẩm quyền xử phạt
vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính có
thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.”;
b) Sửa đổi,
bổ sung khoản 3 như sau:
“3. Việc
áp dụng biện pháp hành chính thuộc thẩm quyền của người có thẩm quyền xử phạt
vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật xử lý vi phạm hành chính. Trong
trường hợp cần thiết, người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính có thể áp
dụng biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính theo quy định của
pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.”.
66. Sửa
đổi, bổ sung một số điểm, khoản của Điều 201 như sau:
a) Sửa đổi,
bổ sung khoản 2 như sau:
“2.
Doanh nghiệp, hợp tác xã, đơn vị sự nghiệp công lập, tổ chức hành nghề luật sư
được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật có ít nhất một cá nhân
có thẻ giám định viên sở hữu trí tuệ được thực hiện hoạt động giám định về sở hữu
trí tuệ, trừ trường hợp quy định tại khoản 2a Điều này.”;
b) Sửa đổi,
bổ sung điểm d và bổ sung điểm đ vào sau điểm d khoản 3 như sau:
“d) Có
trình độ đại học trở lên về chuyên ngành phù hợp với lĩnh vực đề nghị cấp thẻ
giám định;
đ) Thuộc
một trong các trường hợp sau: đã qua thực tế hoạt động chuyên môn trong lĩnh vực
đề nghị cấp thẻ giám định viên sở hữu trí tuệ từ đủ năm năm trở lên và được chứng
nhận đạt yêu cầu khóa đào tạo nghiệp vụ về giám định sở hữu trí tuệ; trực tiếp
tham gia giải quyết tranh chấp về sở hữu trí tuệ tại Tòa án và tổ chức trọng
tài từ đủ mười lăm năm trở lên và thời gian gián đoạn (nếu có) không quá hai
năm tính đến thời điểm đề nghị cấp thẻ giám định viên sở hữu trí tuệ; trực tiếp
tham gia hỗ trợ chuyên môn trong công tác giám định về sở hữu trí tuệ tại tổ chức
giám định từ đủ mười lăm năm trở lên và thời gian gián đoạn (nếu có) không quá
hai năm tính đến thời điểm đề nghị cấp thẻ giám định viên sở hữu trí tuệ.”;
c) Bổ
sung khoản 3a vào sau khoản 3 như sau:
“3a. Trường
hợp người được cấp thẻ giám định viên sở hữu trí tuệ không còn đáp ứng các điều
kiện theo quy định tại khoản 3 Điều này, cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi
thẻ giám định viên sở hữu trí tuệ.”;
d) Sửa đổi,
bổ sung khoản 5 như sau:
“5. Chủ
thể quyền sở hữu trí tuệ và tổ chức, cá nhân khác có liên quan có quyền yêu cầu
giám định về sở hữu trí tuệ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Cơ
quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ có quyền
yêu cầu giám định về sở hữu trí tuệ khi giải quyết vụ việc mà mình đang thụ lý.
Kết luận giám định là một trong các nguồn chứng cứ để cơ quan có thẩm quyền xử
lý, giải quyết vụ việc. Kết luận giám định không kết luận về hành vi xâm phạm
quyền sở hữu trí tuệ hoặc kết luận về vụ tranh chấp.”.
67. Sửa
đổi, bổ sung khoản 5; bổ sung khoản 6 và khoản 7 vào sau khoản 5 Điều 202 như
sau:
“5. Buộc
tiêu hủy hoặc buộc phân phối hoặc đưa vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại
đối với hàng hóa, nguyên liệu, vật liệu và phương tiện được sử dụng chủ yếu để
sản xuất, kinh doanh hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ với điều kiện không
làm ảnh hưởng đến khả năng khai thác quyền của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ, trừ
trường hợp quy định tại khoản 6 Điều này.
6. Buộc
tiêu hủy hàng hóa giả mạo nhãn hiệu và hàng hóa sao chép lậu, trừ một số trường
hợp đặc biệt do Chính phủ quy định; buộc tiêu hủy hoặc buộc phân phối hoặc đưa
vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại đối với nguyên liệu, vật liệu và
phương tiện được sử dụng để sản xuất hàng hóa giả mạo nhãn hiệu và hàng hóa sao
chép lậu với điều kiện không làm ảnh hưởng đến khả năng khai thác quyền của chủ
thể quyền sở hữu trí tuệ.
7. Buộc
gỡ bỏ, ẩn hoặc vô hiệu hóa truy cập đến thông tin, nội dung, tài khoản, trang
thông tin điện tử, ứng dụng hoặc các định danh địa chỉ Internet có liên quan đến
hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.”.
68. Sửa
đổi, bổ sung một số điểm, khoản của Điều 205 như sau:
a) Sửa đổi,
bổ sung điểm d khoản 1 như sau:
“d)
Trong trường hợp không thể xác định được mức bồi thường thiệt hại về vật chất
theo các căn cứ quy định tại các điểm a, b và c khoản này thì mức bồi thường
thiệt hại về vật chất do Tòa án quyết định, tùy thuộc vào mức độ thiệt hại,
nhưng không quá một tỷ đồng.”;
b) Sửa đổi,
bổ sung khoản 2 như sau:
“2.
Trong trường hợp nguyên đơn chứng minh được hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí
tuệ đã gây thiệt hại về tinh thần cho mình thì có quyền yêu cầu Tòa án quyết định
mức bồi thường trong giới hạn từ mười lần đến một trăm lần mức lương cơ sở do
Nhà nước quy định, tùy thuộc vào mức độ thiệt hại. Tại thời điểm mức lương cơ sở
bị bãi bỏ thì mức tham chiếu để xác định mức bồi thường do Chính phủ quy định
theo nguyên tắc không thấp hơn mức quy định tại khoản này.”.
69. Bổ
sung điểm đ vào sau điểm d khoản 1 Điều 207 như sau:
“đ) Ẩn
hoặc tạm thời vô hiệu hóa truy cập đến thông tin, nội dung, tài khoản, trang
thông tin điện tử, ứng dụng hoặc các định danh địa chỉ Internet có liên quan đến
hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.”.
70. Sửa
đổi, bổ sung một số điểm, khoản của Điều 211 như sau:
a) Sửa đổi,
bổ sung điểm b khoản 1 như sau:
“b) Sản
xuất, nhập khẩu, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng hóa giả mạo về sở hữu trí
tuệ quy định tại Điều 213 của Luật này hoặc giao cho người khác thực hiện hành
vi này;”;
b) Sửa đổi,
bổ sung khoản 3 như sau:
“3. Tổ
chức, cá nhân thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh về sở hữu trí tuệ
thì bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm
hành chính.”.
71. Bổ
sung, thay thế cụm từ tại tên chương và một số điều sau đây:
a) Bổ
sung cụm từ “tín hiệu cáp mang chương trình được mã hóa,” vào trước cụm từ “tín
hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa” tại khoản 1 Điều 3, các khoản 3,
10c và 10d Điều 4, khoản 2 Điều 6, khoản 3 và khoản 4 Điều 17, khoản 9 và khoản
10 Điều 35;
b) Bổ
sung cụm từ “, tái phát sóng, truyền đạt đến công chúng” vào sau cụm từ “để
phát sóng” tại điểm a khoản 1 Điều 26 và điểm a khoản 1 Điều 33;
c) Thay
thế cụm từ “Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn” bằng cụm từ “Bộ Nông nghiệp
và Môi trường” tại các khoản 2, 3 và 5 Điều 11, khoản 2 Điều 178;
d) Thay
thế cụm từ “TỔ CHỨC ĐẠI DIỆN TẬP THỂ, TƯ VẤN, DỊCH VỤ” bằng cụm từ “TỔ CHỨC QUẢN
LÝ TẬP THỂ, TỔ CHỨC DỊCH VỤ ĐẠI DIỆN” tại tên Chương VI;
đ) Thay
thế cụm từ “tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan” bằng cụm từ
“tổ chức quản lý tập thể quyền tác giả, quyền liên quan” tại Điều 56;
e) Thay
thế cụm từ “tổ chức tư vấn, dịch vụ quyền tác giả, quyền liên quan” bằng cụm từ
“tổ chức dịch vụ đại diện quyền tác giả, quyền liên quan” tại Điều 57;
g) Thay
thế cụm từ “điểm b khoản 3 Điều 117” bằng cụm từ “điểm a khoản 3a Điều 114” tại
điểm e và điểm h khoản 2 Điều 74;
h) Thay
thế cụm từ “giấy ủy quyền” bằng cụm từ “văn bản ủy quyền” tại điểm c khoản 2 Điều
50, khoản 1 Điều 116, điểm c khoản 1 và điểm a khoản 2 Điều 174;
i) Thay
thế cụm từ “môi trường mạng viễn thông và mạng Internet” bằng cụm từ “không
gian mạng” tại điểm b khoản 1 Điều 198, khoản 2 và khoản 3 Điều 198b.
72. Bãi
bỏ các điều 52, 101, 102, 103, 104, 105, 106 và 149.
Điều 2. Hiệu lực thi hành
Luật này
có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 4 năm 2026.
Điều 3. Điều khoản chuyển tiếp
1. Đơn
đăng ký sở hữu công nghiệp, đơn yêu cầu cấp thẻ giám định viên sở hữu trí tuệ
đã được nộp trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành được xử lý theo quy định của
pháp luật có hiệu lực tại thời điểm nộp đơn, trừ các nội dung sau đây áp dụng
quy định của Luật này:
a) Thẩm
định hình thức đối với đơn đăng ký sở hữu công nghiệp chưa được cơ quan quản lý
nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp chấp nhận đơn hợp lệ;
b) Thời
hạn phản đối đối với đơn đăng ký sở hữu công nghiệp được công bố kể từ ngày Luật
này có hiệu lực thi hành;
c) Thời
hạn thẩm định nội dung đối với đơn đăng ký sở hữu công nghiệp được công bố kể từ
ngày Luật này có hiệu lực thi hành.
2. Đối với
đơn đăng ký bảo hộ giống cây trồng đã được nộp trước ngày Luật này có hiệu lực
thi hành nhưng chưa thực hiện khảo nghiệm kỹ thuật, thời hạn hai mươi tư tháng
quy định tại điểm d khoản 3 Điều 176 của Luật Sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11 đã
được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 36/2009/QH12, Luật số
42/2019/QH14, Luật số 07/2022/QH15 và Luật số 93/2025/QH15 được sửa đổi, bổ
sung theo khoản 59 Điều 1 của Luật này được tính từ ngày Luật này có hiệu lực
thi hành.
3. Đối với
Bằng bảo hộ giống cây trồng có thời điểm đến hạn nộp lệ phí duy trì hiệu lực
cho năm hiệu lực tiếp theo trong thời hạn ba mươi ngày trước hoặc sau ngày Luật
này có hiệu lực thi hành, việc nộp lệ phí duy trì hiệu lực được thực hiện theo
quy định của Luật Sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11 đã được sửa đổi, bổ sung một số
điều theo Luật số 36/2009/QH12, Luật số 42/2019/QH14, Luật số 07/2022/QH15 và
Luật số 93/2025/QH15.
4. Căn cứ
hủy bỏ hiệu lực văn bằng bảo hộ được áp dụng theo quy định của pháp luật có hiệu
lực đối với việc xét cấp văn bằng bảo hộ đó.
5. Các vụ
việc xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đã được cơ quan có thẩm quyền thụ lý trước
ngày Luật này có hiệu lực thi hành nhưng chưa giải quyết xong thì tiếp tục áp dụng
quy định của Luật Sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11 đã được sửa đổi, bổ sung một số
điều theo Luật số 36/2009/QH12, Luật số 42/2019/QH14, Luật số 07/2022/QH15 và
Luật số 93/2025/QH15 để giải quyết
_________________________
Luật này được Quốc hội
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, Kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10
tháng 12 năm 2025.
|
|
CHỦ TỊCH QUỐC HỘI Đã ký: Trần Thanh Mẫn |
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét