|
QUỐC HỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
LUẬT
THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ
Căn cứ Hiến
pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung một số điều
theo Nghị quyết số 203/2025/QH15;
Quốc hội ban
hành Luật Thi hành án hình sự.
Chương I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm
vi điều chỉnh
Luật này quy định nguyên tắc, trình tự, thủ tục, tổ chức,
nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, người có thẩm quyền trong thi hành bản án, quyết
định về án phạt tù, tử hình, trục xuất, cảnh cáo, cải tạo không giam giữ, cấm
cư trú, quản chế, tước một số quyền công dân, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành
nghề hoặc làm công việc nhất định, án treo, tha tù trước thời hạn có điều kiện,
hình phạt đình chỉ hoạt động có thời hạn, đình chỉ hoạt động vĩnh viễn, cấm
kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định, cấm huy động vốn, biện
pháp tư pháp; quyền, nghĩa vụ của người, pháp nhân thương mại chấp hành án hình
sự, biện pháp tư pháp; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan
trong thi hành án hình sự, biện pháp tư pháp; hợp tác quốc tế trong thi hành án
hình sự.
Điều 2. Bản
án, quyết định được thi hành
1. Bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật và
đã có quyết định thi hành.
2. Bản án, quyết định của Tòa án được thi hành ngay theo
quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự hoặc kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật
theo quy định của Bộ luật Hình sự.
3. Quyết định của Tòa án tiếp nhận người đang chấp hành
án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam chấp hành án và đã có quyết định thi hành;
quyết định của Tòa án chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam
cho nước ngoài.
4. Quyết định của Viện kiểm sát được thi hành theo quy định
của pháp luật.
5. Bản án, quyết định về áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc
chữa bệnh, buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu, buộc thực hiện một số biện
pháp nhằm khắc phục, ngăn chặn hậu quả tiếp tục xảy ra đối với pháp nhân thương
mại thuộc thẩm quyền của cơ quan thi hành án hình sự.
Điều 3. Giải
thích từ ngữ
Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1. Người chấp hành
án là người bị kết án, phải chịu hình phạt theo bản án, quyết định của Tòa
án có hiệu lực pháp luật và đã có quyết định thi hành.
2. Phạm nhân là
người đang chấp hành án phạt tù có thời hạn, tù chung thân.
3. Người thân thích
của người chấp hành án (sau đây gọi là người thân thích) bao gồm vợ, chồng,
bố đẻ, mẹ đẻ, bố chồng, mẹ chồng, bố vợ, mẹ vợ, bố nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con
nuôi, con dâu, con rể; ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột,
em ruột; cụ nội, cụ ngoại, bác ruột, chú ruột, cậu ruột, dì ruột, cô ruột, cháu
ruột, chắt ruột của họ.
4. Cơ sở giam giữ
phạm nhân là nơi tổ chức quản lý, giam giữ và giáo dục cải tạo phạm nhân,
bao gồm trại giam, trại tạm giam.
5. Thi hành án phạt
tù là việc cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của Luật này buộc người
bị kết án phạt tù có thời hạn, tù chung thân phải chịu sự quản lý giam giữ,
giáo dục cải tạo.
6. Thi hành án tử
hình là việc cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của Luật này tước bỏ
tính mạng của người bị kết án tử hình.
7. Thi hành quyết định
hoãn chấp hành án phạt tù là việc cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định
của Luật này quản lý, giám sát, giáo dục người được hoãn chấp hành án phạt tù
trong thời gian được hoãn chấp hành án phạt tù.
8. Thi hành quyết định
tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù là việc cơ quan, người có thẩm quyền theo
quy định của Luật này quản lý, giám sát, giáo dục người được tạm đình chỉ chấp
hành án phạt tù trong thời gian được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù.
9. Thi hành án treo
là việc cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của Luật này quản lý, giám
sát, giáo dục người bị kết án phạt tù được hưởng án treo trong thời gian thử
thách.
10. Thi hành quyết
định tha tù trước thời hạn có điều kiện là việc cơ quan, người có thẩm quyền
theo quy định của Luật này quản lý, giám sát, giáo dục người được tha tù trước
thời hạn có điều kiện trong thời gian thử thách.
11. Thi hành án phạt
cải tạo không giam giữ là việc cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của
Luật này quản lý, giám sát, giáo dục người chấp hành án tại nơi cư trú hoặc nơi
làm việc, học tập; khấu trừ một phần thu nhập sung quỹ nhà nước, giám sát việc
thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng theo bản án, quyết định của
Tòa án có hiệu lực pháp luật.
12. Thi hành án phạt
cấm cư trú là việc cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của Luật này
buộc người chấp hành án không được tạm trú, thường trú ở một số địa phương nhất
định theo bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
13. Thi hành án phạt
quản chế là việc cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của Luật này buộc
người chấp hành án phải cư trú và cải tạo ở một địa phương nhất định dưới sự quản
lý, kiểm soát, giáo dục của chính quyền và Nhân dân địa phương theo bản án, quyết
định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
14. Thi hành án phạt
trục xuất là việc cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của Luật này
buộc người chấp hành án phải rời khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam theo bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
15. Thi hành án phạt
tước một số quyền công dân là việc cơ quan có thẩm quyền theo quy định của
Luật này thực hiện việc tước một hoặc một số quyền công dân của người chấp hành
án theo bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
16.Thi hành án phạt
cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định là việc
cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền theo quy định của Luật này buộc người chấp
hành án không được đảm nhiệm chức vụ, hành nghề hoặc làm công việc nhất định
theo bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
17. Thi hành biện
pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh là việc cơ quan, người có thẩm quyền theo
quy định của Luật này buộc người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội hoặc
người chấp hành án mắc bệnh tâm thần, bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc
khả năng điều khiển hành vi phải điều trị tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo
quyết định của Tòa án, Viện kiểm sát.
18. Áp giải trong
thi hành án hình sự là việc cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của
Luật này buộc người chấp hành án phạt tù, tử hình, trục xuất đến nơi để chấp
hành án hoặc buộc người có quyết định trưng cầu giám định pháp y, pháp y tâm thần
đến nơi thực hiện giám định.
19. Trích xuất
là việc thực hiện quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của
Luật này đưa phạm nhân, người bị kết án tử hình ra khỏi nơi quản lý và chuyển
giao cho cơ quan, người có thẩm quyền để phục vụ hoạt động điều tra, truy tố,
xét xử, khám bệnh, chữa bệnh, quản lý giam giữ, giáo dục cải tạo, phục vụ trưng
cầu giám định pháp y, pháp y tâm thần, hiến mô, bộ phận cơ thể và tham gia thực
hiện quyền, nghĩa vụ khác của phạm nhân, người bị kết án tử hình theo quy định
của pháp luật trong thời hạn nhất định.
20. Danh bản là
bản ghi thông tin tóm tắt về lý lịch, nhân dạng, ảnh chụp 03 tư thế, in dấu vân
02 ngón tay trỏ của người chấp hành án, người chấp hành biện pháp tư pháp do cơ
quan có thẩm quyền lập và lưu giữ.
21. Chỉ bản là
bản ghi thông tin tóm tắt về lý lịch và in dấu vân của tất cả các ngón tay, in
bàn tay trái và in bàn tay phải của người chấp hành án do cơ quan có thẩm quyền
lập và lưu giữ.
22. Pháp nhân
thương mại chấp hành án là pháp nhân thương mại bị kết án, phải chịu hình
phạt, biện pháp tư pháp theo bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
23. Thi hành hình
phạt đình chỉ hoạt động có thời hạn là việc cơ quan, người có thẩm quyền
theo quy định của Luật này buộc pháp nhân thương mại chấp hành án phải tạm dừng
hoạt động đối với ngành, nghề trong một hoặc một số lĩnh vực bị đình chỉ hoạt động
có thời hạn theo bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
24. Thi hành hình
phạt đình chỉ hoạt động vĩnh viễn là việc cơ quan, người có thẩm quyền theo
quy định của Luật này buộc pháp nhân thương mại chấp hành án phải chấm dứt ngay
hoạt động đối với ngành, nghề trong một hoặc một số lĩnh vực bị đình chỉ hoạt động
vĩnh viễn hoặc toàn bộ hoạt động bị đình chỉ vĩnh viễn theo bản án, quyết định
của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
25. Thi hành hình
phạt cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định là việc
cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của Luật này buộc pháp nhân thương mại
chấp hành án không được tiếp tục kinh doanh, hoạt động đối với ngành, nghề
trong lĩnh vực bị cấm trong thời hạn theo bản án, quyết định của Tòa án có hiệu
lực pháp luật.
26. Thi hành hình
phạt cấm huy động vốn là việc cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của
Luật này buộc pháp nhân thương mại chấp hành án không được thực hiện một hoặc một
số hình thức huy động vốn trong thời hạn bị cấm theo bản án, quyết định của Tòa
án có hiệu lực pháp luật.
27. Cơ quan quản lý
nhà nước đối với pháp nhân thương mại chấp hành án là cơ quan có thẩm quyền
đăng ký kinh doanh, cấp giấy chứng nhận đăng ký, cấp giấy phép, chấp thuận cho
pháp nhân thương mại hoạt động, giám sát, theo dõi pháp nhân thương mại hoạt động
được cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền yêu cầu thực hiện một hoặc một số
nhiệm vụ để bảo đảm thi hành hình phạt, biện pháp tư pháp đối với pháp nhân
thương mại chấp hành án.
Điều 4.
Nguyên tắc thi hành án hình sự
1. Tuân thủ Hiến pháp, pháp luật, bảo đảm lợi ích của Nhà
nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
2. Bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật phải
được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên
quan phải nghiêm chỉnh chấp hành.
3. Bảo đảm nhân đạo xã hội chủ nghĩa; tôn trọng danh dự,
nhân phẩm, quyền, lợi ích hợp pháp của người chấp hành án, người chấp hành biện
pháp tư pháp, quyền, lợi ích hợp pháp của pháp nhân thương mại chấp hành án.
4. Kết hợp trừng trị và giáo dục cải tạo trong việc thi
hành án; áp dụng biện pháp giáo dục cải tạo phải trên cơ sở tính chất, mức độ
phạm tội, độ tuổi, sức khỏe, giới tính, trình độ học vấn và các đặc điểm nhân
thân khác của người chấp hành án.
5. Khuyến khích người chấp hành án ăn năn hối cải, tích cực
học tập, lao động cải tạo, tự nguyện bồi thường thiệt hại.
6. Bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo hành vi, quyết định
trái pháp luật của cơ quan, người có thẩm quyền trong thi hành án hình sự.
7. Bảo đảm sự tham gia của cơ quan, tổ chức, cá nhân và
gia đình trong hoạt động thi hành án hình sự, tái hòa nhập cộng đồng theo quy định
của pháp luật.
8. Ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và hiện đại
hóa hoạt động thi hành án hình sự.
Điều 5. Giám
sát, kiểm sát việc thi hành án hình sự
1. Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
và các tổ chức thành viên của Mặt trận giám sát hoạt động của cơ quan, tổ chức,
người có thẩm quyền và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan trong thi
hành án hình sự theo quy định của pháp luật.
2. Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật
của cơ quan, người có thẩm quyền và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan
trong thi hành án hình sự.
Điều 6. Hợp
tác quốc tế trong thi hành án hình sự
1. Hợp tác quốc tế trong thi hành án hình sự giữa cơ quan
có thẩm quyền của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với cơ quan có thẩm
quyền tương ứng của nước ngoài được thực hiện trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ
quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình
đẳng, cùng có lợi, phù hợp với Hiến pháp, pháp luật của Việt Nam và điều ước quốc
tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
2. Trường hợp giữa Việt Nam và nước có liên quan chưa có
điều ước quốc tế thì việc hợp tác quốc tế trong thi hành án hình sự được thực
hiện theo nguyên tắc có đi có lại nhưng không trái với Hiến pháp của Việt Nam,
phù hợp với pháp luật quốc tế và tập quán quốc tế.
Điều 7. Các
hành vi bị nghiêm cấm trong thi hành án hình sự
1. Phá hủy cơ sở quản lý, giam giữ; hủy hoại hoặc cố ý
làm hư hỏng tài sản của cơ sở quản lý, giam giữ; tổ chức trốn hoặc trốn khỏi
nơi quản lý, giam giữ; tổ chức trốn hoặc trốn khi đang bị áp giải, dẫn giải;
đánh tháo phạm nhân, người chấp hành biện pháp tư pháp, người bị áp giải, dẫn
giải.
2. Không chấp hành quyết định thi hành án hình sự; cản trở
hoặc chống lại việc thực hiện nội quy, quy chế về thi hành án hình sự hoặc quyết
định, yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền trong thi hành án hình sự.
3. Tổ chức, kích động, xúi giục, lôi kéo, dụ dỗ, giúp sức,
cưỡng bức người khác vi phạm pháp luật về thi hành án hình sự; trả thù, xâm phạm
tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của người có trách nhiệm thi
hành án hình sự.
4. Không ra quyết định thi hành án hình sự; không thi
hành quyết định trả tự do theo quy định của pháp luật và quyết định khác của cơ
quan, người có thẩm quyền trong thi hành án hình sự.
5. Đưa hối lộ, nhận hối lộ, môi giới hối lộ, nhũng nhiễu
trong thi hành án hình sự.
6. Tha trái pháp luật người đang bị giam, người bị áp giải
thi hành án; thiếu trách nhiệm trong việc quản lý, canh gác, áp giải thi hành
án để người chấp hành án phạt tù, án tử hình hoặc án phạt trục xuất trốn.
7. Lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn để đề nghị miễn,
giảm, hoãn, tạm đình chỉ, tha tù trước thời hạn có điều kiện, rút ngắn thời
gian thử thách cho người không đủ điều kiện; không đề nghị cho người đủ điều kiện
được miễn, giảm, hoãn, tạm đình chỉ, tha tù trước thời hạn có điều kiện, rút ngắn
thời gian thử thách; đề nghị hoặc không đề nghị chấm dứt trước thời hạn việc chấp
hành biện pháp tư pháp, hoãn, đình chỉ thi hành biện pháp tư pháp; cản trở người,
pháp nhân thương mại chấp hành án thực hiện các quyền theo quy định của Luật
này.
8. Tra tấn và các hình thức đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo,
vô nhân đạo hoặc hạ nhục người chấp hành án, biện pháp tư pháp; lợi dụng, lạm dụng
chức vụ, quyền hạn để xâm hại quyền, lợi ích hợp pháp của người chấp hành án;
trù dập, trả thù người tố cáo, người khiếu nại trong thi hành án hình sự.
9. Kỳ thị, phân biệt đối xử hoặc xâm phạm quyền, lợi ích
hợp pháp của người, pháp nhân thương mại chấp hành án.
10. Cấp hoặc từ chối cấp trái quy định của pháp luật quyết
định, chứng nhận, xác nhận hoặc giấy tờ khác về thi hành án hình sự.
11. Làm sai lệch hồ sơ, sổ sách về thi hành án hình sự.
Điều 8. Hệ
thống tổ chức thi hành án hình sự
1. Cơ quan quản lý thi hành án hình sự bao gồm:
a) Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an;
b) Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Quốc phòng.
2. Cơ quan thi hành án hình sự bao gồm:
a) Trại giam thuộc Bộ Công an, trại giam thuộc Bộ Quốc
phòng (sau đây gọi là trại giam);
b) Cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh, thành phố
(sau đây gọi là cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh);
c) Cơ quan thi hành án hình sự quân khu và tương đương
(sau đây gọi là cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu).
3. Cơ quan được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự
bao gồm:
a) Trại tạm giam thuộc Bộ Công an, trại tạm giam thuộc Bộ
Quốc phòng, trại tạm giam thuộc Công an cấp tỉnh, trại tạm giam cấp quân khu
(sau đây gọi là trại tạm giam);
b) Ủy ban nhân dân cấp xã;
c) Đơn vị quân đội cấp trung đoàn và tương đương (sau đây
gọi là đơn vị quân đội);
d) Công an xã, phường, đặc khu (sau đây gọi là Công an cấp
xã).
4. Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định
chi tiết tổ chức bộ máy của cơ quan quản lý thi hành án hình sự, cơ quan thi
hành án hình sự.
Điều 9. Nhiệm
vụ, quyền hạn của Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an
1. Giúp Bộ trưởng Bộ Công an thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn
sau đây:
a) Tổ chức thi hành pháp luật về thi hành án hình sự;
b) Chỉ đạo nghiệp vụ, hướng dẫn việc áp dụng thống nhất
các quy định của pháp luật về thi hành án hình sự;
c) Tổng kết công tác thi hành án hình sự.
2. Kiểm tra công tác thi hành án hình sự.
3. Quyết định đưa người chấp hành án phạt tù đến nơi chấp
hành án; quyết định điều chuyển người chấp hành án phạt tù giữa các cơ sở giam
giữ phạm nhân.
4. Trực tiếp quản lý trại giam, cơ sở giáo dục bắt buộc,
trại giáo dưỡng thuộc Bộ Công an.
5. Thực hiện chế độ thống kê, báo cáo.
6. Giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án hình sự
theo quy định của Luật này và Luật Tố cáo.
7. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của
Luật này và nhiệm vụ, quyền hạn do Bộ trưởng Bộ Công an giao.
Điều 10. Nhiệm
vụ, quyền hạn của Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Quốc phòng
1. Giúp Bộ trưởng Bộ Quốc phòng thực hiện nhiệm vụ, quyền
hạn sau đây:
a) Tổ chức thi hành pháp luật về thi hành án hình sự;
b) Chỉ đạo nghiệp vụ, hướng dẫn việc áp dụng thống nhất
các quy định của pháp luật về thi hành án hình sự trong quân đội;
c) Tổng kết công tác thi hành án hình sự trong quân đội.
2. Kiểm tra công tác thi hành án hình sự trong quân đội.
3. Quyết định đưa người chấp hành án phạt tù đến nơi chấp
hành án; quyết định điều chuyển người chấp hành án phạt tù giữa các cơ sở giam
giữ phạm nhân.
4. Trực tiếp quản lý trại giam thuộc Bộ Quốc phòng.
5. Thực hiện chế độ thống kê, báo cáo.
6. Giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án hình sự
theo quy định của Luật này và Luật Tố cáo.
7. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của
Luật này và nhiệm vụ, quyền hạn do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng giao.
Điều 11. Nhiệm
vụ, quyền hạn của cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh
1. Giúp Giám đốc Công an cấp tỉnh quản lý, chỉ đạo công
tác thi hành án hình sự trên địa bàn:
a) Chỉ đạo nghiệp vụ và kiểm tra công tác thi hành án
hình sự đối với trại tạm giam thuộc Công an cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp xã,
Công an cấp xã;
b) Tổng kết công tác thi hành án hình sự và thực hiện chế
độ thống kê, báo cáo theo hướng dẫn của Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ
Công an.
2. Tiếp nhận bản án, quyết định của Tòa án, quyết định
thi hành án; hoàn chỉnh hồ sơ, lập danh sách người chấp hành án phạt tù, báo
cáo Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an ra quyết định đưa đến nơi chấp
hành án.
3. Đề nghị Tòa án có thẩm quyền ra quyết định trưng cầu
giám định pháp y, pháp y tâm thần đối với phạm nhân có dấu hiệu mắc bệnh tâm thần,
bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi.
4. Đề nghị Tòa án có thẩm quyền xem xét, quyết định tạm
đình chỉ chấp hành án phạt tù, giảm thời hạn chấp hành án phạt tù, tha tù trước
thời hạn có điều kiện, áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh đối với người
chấp hành án theo quy định của Luật này.
Đề nghị Tòa án có thẩm quyền xem xét, quyết định hoãn chấp
hành án phạt tù cho người bị kết án phạt tù đang tại ngoại, buộc người được hưởng
án treo vi phạm nghĩa vụ phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án
treo, hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện đối với người được tha
tù trước thời hạn có điều kiện vi phạm nghĩa vụ và buộc người đó phải chấp hành
phần hình phạt tù còn lại chưa chấp hành, rút ngắn thời gian thử thách đối với
người được hưởng án treo, đối với người được tha tù trước thời hạn có điều kiện,
giảm thời hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ, miễn chấp hành thời hạn
còn lại đối với người chấp hành án phạt quản chế, cấm cư trú.
5. Tổ chức tiếp nhận người bị kết án phạt tù do nước
ngoài chuyển giao về Việt Nam chấp hành án theo quyết định của Tòa án có thẩm
quyền, hoàn chỉnh hồ sơ thi hành án, báo cáo cơ quan quản lý thi hành án hình sự
ra quyết định đưa đến nơi chấp hành án.
Thông báo cho cơ quan đại diện ngoại giao của nước mà người
chấp hành án là người nước ngoài có quốc tịch trong trường hợp tiếp nhận quyết
định thi hành án; giảm, miễn thời hạn chấp hành án; chấp hành xong án phạt hoặc
người chấp hành án chết.
6. Tổ chức thi hành án đối với người chấp hành án treo,
án phạt cải tạo không giam giữ, cấm cư trú, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề
hoặc làm công việc nhất định, tước một số quyền công dân, quản chế; tổ chức quản
lý người được hoãn, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, người được tha tù trước
thời hạn có điều kiện.
Tổ chức thi hành án phạt trục xuất; tham gia thi hành án
tử hình; quản lý số phạm nhân phục vụ việc tạm giữ, tạm giam theo quy định của
Luật này; trực tiếp quản lý cơ sở lưu trú thuộc Công an cấp tỉnh.
7. Tổ chức thu thập thông tin sinh trắc học gồm mống mắt,
ADN, giọng nói của người chấp hành hình phạt chính là cảnh cáo, phạt tiền, cải
tạo không giam giữ, trục xuất, án treo trong trường hợp chưa có thông tin trong
cơ sở dữ liệu.
8. Ra quyết định truy nã và tổ chức truy bắt người chấp
hành án bỏ trốn.
9. Quyết định trích xuất hoặc thực hiện lệnh trích xuất
theo yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền.
10. Lập hồ sơ, tổ chức thi hành hình phạt, biện pháp tư
pháp đối với pháp nhân thương mại theo quy định của Luật này.
11. Cấp chứng nhận chấp hành xong hình phạt, chứng nhận
chấp hành xong biện pháp tư pháp theo thẩm quyền.
12. Giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án hình sự
theo quy định của Luật này và Luật Tố cáo.
13. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của
Luật này.
Điều 12. Nhiệm
vụ, quyền hạn của cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu
1. Giúp Tư lệnh cấp quân khu quản lý, chỉ đạo công tác
thi hành án hình sự trên địa bàn quân khu và tương đương:
a) Chỉ đạo nghiệp vụ và kiểm tra công tác thi hành án
hình sự;
b) Tổng kết công tác thi hành án hình sự và thực hiện thống
kê, báo cáo theo hướng dẫn của Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Quốc
phòng.
2. Tiếp nhận bản án, quyết định của Tòa án, quyết định
thi hành án; hoàn chỉnh hồ sơ, lập danh sách người chấp hành án phạt tù, báo
cáo Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Quốc phòng ra quyết định đưa đến nơi
chấp hành án.
3. Đề nghị Tòa án có thẩm quyền ra quyết định trưng cầu
giám định pháp y, pháp y tâm thần đối với phạm nhân có dấu hiệu mắc bệnh tâm thần,
bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi.
4. Đề nghị Tòa án có thẩm quyền xem xét, quyết định tạm
đình chỉ chấp hành án phạt tù, giảm thời hạn chấp hành án phạt tù, tha tù trước
thời hạn có điều kiện, áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh đối với người
chấp hành án theo quy định của pháp luật.
Đề nghị Tòa án có thẩm quyền xem xét, quyết định hoãn chấp
hành án phạt tù cho người bị kết án phạt tù đang tại ngoại, buộc người được hưởng
án treo vi phạm nghĩa vụ phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án
treo, hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện đối với người được tha
tù trước thời hạn có điều kiện vi phạm nghĩa vụ và buộc người đó phải chấp hành
phần hình phạt tù còn lại chưa chấp hành, rút ngắn thời gian thử thách đối với
người được hưởng án treo, đối với người được tha tù trước thời hạn có điều kiện,
giảm thời hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ.
5. Áp giải thi hành án đối với người bị kết án phạt tù
đang được tại ngoại, được hoãn, tạm đình chỉ, người bị Tòa án buộc chấp hành
hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo, người bị Tòa án hủy quyết định
tha tù trước thời hạn có điều kiện.
6. Tổ chức thi hành án đối với người chấp hành án treo,
án phạt cải tạo không giam giữ, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm
công việc nhất định; tổ chức quản lý người được hoãn, tạm đình chỉ chấp hành án
phạt tù, người được tha tù trước thời hạn có điều kiện.
Tham gia thi hành án tử hình; quản lý số phạm nhân phục vụ
việc tạm giữ, tạm giam theo quy định của Luật này.
7. Tổ chức thu thập thông tin sinh trắc học gồm mống mắt,
ADN, giọng nói của người chấp hành hình phạt chính là cảnh cáo, phạt tiền, cải
tạo không giam giữ, án treo trong trường hợp chưa có thông tin trong cơ sở dữ
liệu.
8. Ra quyết định truy nã và tổ chức truy bắt người chấp
hành án bỏ trốn.
9. Quyết định trích xuất hoặc thực hiện lệnh trích xuất
theo yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền.
10. Lập hồ sơ, tổ chức thi hành hình phạt, biện pháp tư
pháp đối với pháp nhân thương mại theo quy định của Luật này.
11. Cấp chứng nhận chấp hành xong hình phạt, chứng nhận
chấp hành xong biện pháp tư pháp theo thẩm quyền.
12. Giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án hình sự
theo quy định của Luật này và Luật Tố cáo.
13. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của
Luật này.
Điều 13. Nhiệm
vụ, quyền hạn của trại giam
1. Trại giam có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Tiếp nhận phạm nhân, con của phạm nhân dưới 36 tháng
tuổi theo mẹ vào trại giam; thu thập thông tin sinh trắc học gồm mống mắt, ADN,
giọng nói của phạm nhân trong trường hợp chưa có thông tin trong cơ sở dữ liệu;
tổ chức quản lý giam giữ, giáo dục cải tạo phạm nhân;
b) Thông báo cho gia đình của phạm nhân về việc tiếp nhận
phạm nhân và tình hình chấp hành án của người đó;
c) Lập hồ sơ và đề nghị Tòa án có thẩm quyền xem xét, quyết
định giảm thời hạn chấp hành án phạt tù, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, tha
tù trước thời hạn có điều kiện, trưng cầu giám định pháp y, pháp y tâm thần, áp
dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh đối với phạm nhân theo quy định của
pháp luật;
d) Thực hiện lệnh trích xuất của cơ quan, người có thẩm
quyền;
đ) Phối hợp với cơ quan thi hành án dân sự trong việc
cung cấp thông tin, chuyển giao giấy tờ, tiền, tài sản, việc thu, trả tiền, tài
sản có liên quan đến phạm nhân là người phải thi hành án dân sự, người được thi
hành án dân sự;
e) Cấp chứng nhận chấp hành xong án phạt tù, chứng nhận
tha tù trước thời hạn có điều kiện;
g) Làm thủ tục giải quyết trường hợp phạm nhân chết, con
của phạm nhân ở cùng mẹ trong trại giam chết;
h) Áp giải, bàn giao phạm nhân là người nước ngoài theo
quyết định của Tòa án về việc chuyển giao phạm nhân; tiếp nhận, tổ chức quản lý
giam giữ, giáo dục cải tạo phạm nhân là công dân Việt Nam phạm tội và bị kết án
phạt tù ở nước ngoài được chuyển giao về Việt Nam để chấp hành án; thực hiện
các quy định của Luật này về thi hành án phạt trục xuất;
i) Thực hiện thống kê, báo cáo về thi hành án phạt tù;
k) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của
pháp luật.
2. Giám thị trại giam có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Tổ chức thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của trại giam
theo quy định tại khoản 1 Điều này;
b) Ra quyết định phân loại và tổ chức giam giữ phạm nhân
theo loại; quyết định xếp loại chấp hành án phạt tù, quyết định nâng, hạ loại
phạm nhân, quyết định công nhận phạm nhân vi phạm kỷ luật đã tiến bộ, quyết định
một số biện pháp điều tra theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự và
pháp luật về tổ chức cơ quan điều tra hình sự; quyết định khen thưởng, kỷ luật
phạm nhân, tập thể tổ, đội phạm nhân;
c) Quyết định kiểm tra, thu giữ, xử lý đồ vật thuộc danh
mục đồ vật cấm;
d) Quyết định trích xuất phạm nhân;
d) Ra quyết định truy nã và phối hợp tổ chức truy bắt kịp
thời phạm nhân trốn trại giam; quyết định đình nã khi bắt được phạm nhân trốn
trại giam.
3. Phó Giám thị trại giam thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của
Giám thị theo sự phân công hoặc ủy quyền của Giám thị và chịu trách nhiệm trong
phạm vi công việc được giao.
Điều 14. Nhiệm
vụ, quyền hạn của trại tạm giam trong thi hành án hình sự
1. Trực tiếp quản lý, giam giữ, giáo dục cải tạo phạm
nhân chấp hành án tại trại tạm giam theo quy định của Luật này; tổ chức lao động,
học nghề cho phạm nhân bảo đảm yêu cầu phục vụ tạm giữ, tạm giam và khả năng của
trại tạm giam.
2. Tổ chức thu thập thông tin sinh trắc học gồm mống mắt,
ADN, giọng nói của phạm nhân trong trường hợp chưa có thông tin trong cơ sở dữ
liệu.
3. Lập hồ sơ đề nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết
định giảm thời hạn chấp hành án, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, tha tù trước
thời hạn có điều kiện cho phạm nhân, trưng cầu giám định pháp y, pháp y tâm thần,
áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh.
4. Cấp chứng nhận chấp hành xong án phạt tù, chứng nhận
tha tù trước thời hạn có điều kiện cho phạm nhân chấp hành án tại trại tạm giam
thuộc Bộ Công an, trại tạm giam thuộc Bộ Quốc phòng.
5. Quyết định trích xuất và tổ chức thực hiện trích xuất
theo quy định của Luật này.
6. Phối hợp với cơ quan thi hành án dân sự trong việc
cung cấp thông tin, chuyển giao giấy tờ, tiền, tài sản, việc thu, trả tiền, tài
sản có liên quan đến phạm nhân là người phải thi hành án dân sự, người được thi
hành án dân sự.
7. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của
Luật này.
Điều 15. Nhiệm
vụ, quyền hạn của Tòa án trong thi hành án hình sự
1. Ra quyết định thi hành án.
2. Quyết định thành lập Hội đồng thi hành án tử hình.
3. Ra quyết định hoặc huỷ quyết định hoãn, tạm đình chỉ
chấp hành án phạt tù, tha tù trước thời hạn có điều kiện; quyết định đình chỉ
thi hành án; quyết định miễn chấp hành án, giảm thời hạn chấp hành án; quyết định
rút ngắn thời gian thử thách đối với người được hưởng án treo, người được tha
tù trước thời hạn có điều kiện; quyết định buộc người được hưởng án treo phải
chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo; quyết định kéo dài thời
hạn trục xuất; quyết định áp dụng hoặc huỷ quyết định áp dụng biện pháp tư pháp
bắt buộc chữa bệnh, quyết định đình chỉ thi hành biện pháp tư pháp bắt buộc chữa
bệnh.
4. Xem xét, giải quyết việc cho nhận tử thi của người bị
thi hành án tử hình.
5. Gửi bản án, quyết định được thi hành và quyết định quy
định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, tài liệu có liên quan cho cơ quan, tổ chức,
cá nhân theo quy định của Luật này.
6. Ra quyết định tiếp nhận phạm nhân là công dân Việt Nam
phạm tội và bị kết án phạt tù ở nước ngoài được chuyển giao về Việt Nam để chấp
hành án, chuyển giao phạm nhân là người nước ngoài.
7. Ra quyết định trưng cầu giám định pháp y, pháp y lâm
sàng đối với phạm nhân có dấu hiệu mắc bệnh tâm thần, bệnh khác làm mất khả
năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi.
8. Thực hiện chế độ thống kê, báo cáo về thi hành án hình
sự theo thẩm quyền.
9. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của
Luật này.
Chương II
THI HÀNH ÁN PHẠT TÙ
Mục 1
THỦ TỤC THI HÀNH ÁN PHẠT TÙ VÀ CHẾ ĐỘ
QUẢN LÝ GIAM GIỮ, GIÁO DỤC PHẠM NHÂN
Điều 16. Quyết
định thi hành án phạt tù
1. Quyết định thi hành án phạt tù phải ghi rõ họ tên, chức
vụ người ra quyết định; bản án, quyết định được thi hành; tên cơ quan có nhiệm
vụ thi hành quyết định thi hành án; họ tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi cư trú của
người bị kết án; thời hạn chấp hành án phạt tù, thời hạn chấp hành hình phạt bổ
sung. Trường hợp người bị kết án đang tại ngoại, quyết định thi hành án phải
ghi rõ trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được quyết định, người bị kết án
phải có mặt tại Công an cấp xã nơi người đó cư trú, cơ quan thi hành án hình sự
cấp quân khu có nhiệm vụ thi hành.
2. Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định
thi hành án phạt tù, Tòa án phải gửi quyết định đó cho cá nhân, cơ quan sau
đây:
a) Người chấp hành án và người đại diện trong trường hợp
người chấp hành án là người dưới 18 tuổi;
b) Viện kiểm sát cùng cấp;
c) Bộ Ngoại giao trong trường hợp người chấp hành án là
người nước ngoài.
3. Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định
thi hành án phạt tù, Tòa án phải gửi cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp
tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu, trại tạm giam nơi người chấp
hành án đang bị tạm giam hoặc Công an cấp xã, đơn vị quân đội nơi người chấp
hành án đang tại ngoại:
a) Bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật;
trường hợp xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm thì phải kèm theo bản án
sơ thẩm;
b) Quyết định thi hành án phạt tù.
Điều 17. Thi
hành quyết định thi hành án phạt tù
1. Trường hợp người bị kết án phạt tù đang bị tạm giam
thì trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định thi hành
án, trại tạm giam thuộc Công an cấp tỉnh nơi người bị kết án phạt tù đang bị tạm
giam phải tống đạt quyết định thi hành án cho người bị kết án và báo cáo cơ
quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ
ngày nhận được báo cáo, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh hoàn chỉnh
hồ sơ, lập danh sách người chấp hành án phạt tù để báo cáo Cơ quan quản lý thi
hành án hình sự Bộ Công an. Trường hợp người bị kết án phạt tù đang bị tạm giam
tại trại tạm giam thuộc Bộ Công an thì trại tạm giam phải tống đạt quyết định
thi hành án cho người bị kết án, hoàn chỉnh hồ sơ, lập danh sách để báo cáo Cơ
quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an. Trường hợp người đang chấp hành án
bị kết án về hành vi phạm tội khác thì trại giam tống đạt quyết định thi hành
án của bản án mới cho người đó.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo
cáo của cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh hoặc trại tạm giam thuộc Bộ
Công an, Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an ra quyết định đưa người
chấp hành án đi chấp hành án. Đối với người chấp hành án là người nước ngoài
thì trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định, Cơ quan quản lý
thi hành án hình sự Bộ Công an thông báo cho Bộ Ngoại giao để thông báo cho cơ
quan đại diện ngoại giao hoặc lãnh sự của nước mà người đó có quốc tịch.
Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được quyết định
đưa người chấp hành án đi chấp hành án, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp
tỉnh hoặc trại tạm giam thuộc Bộ Công an phải hoàn chỉnh hồ sơ và chuyển người
chấp hành án đến cơ sở giam giữ phạm nhân để thi hành án, trừ trường hợp do
tình trạng khẩn cấp, lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan.
Đối với người bị kết án phạt tù đang bị tạm giam mà có thời
hạn chấp hành án phạt tù còn lại dưới 03 tháng kể từ ngày nhận được quyết định
thi hành án thì chấp hành án tại cơ sở giam giữ đang giam giữ họ.
2. Trường hợp người bị kết án phạt tù đang bị tạm giam tại
trại tạm giam cấp quân khu thì trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận
được quyết định thi hành án, trại tạm giam phải tống đạt quyết định thi hành án
cho người bị kết án và báo cáo cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu. Trong
thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo, cơ quan thi hành án
hình sự cấp quân khu hoàn chỉnh hồ sơ, lập danh sách người chấp hành án phạt tù
để báo cáo Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Quốc phòng. Trường hợp người
bị kết án phạt tù đang bị tạm giam tại trại tạm giam thuộc Bộ Quốc phòng thì trại
tạm giam phải tống đạt quyết định thi hành án cho người bị kết án, hoàn chỉnh hồ
sơ, lập danh sách để báo cáo Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Quốc phòng.
Trường hợp người đang chấp hành án bị kết án về hành vi phạm tội khác thì trại
giam tống đạt quyết định thi hành án của bản án mới cho người đó.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo
cáo của cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu hoặc trại tạm giam thuộc Bộ Quốc
phòng, Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Quốc phòng ra quyết định đưa người
chấp hành án đi chấp hành án. Đối với người chấp hành án là người nước ngoài
thì trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định, Cơ quan quản lý
thi hành án hình sự Bộ Quốc phòng thông báo cho Bộ Ngoại giao để thông báo cho
cơ quan đại diện ngoại giao hoặc lãnh sự của nước mà người đó có quốc tịch.
Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được quyết định
đưa người chấp hành án đi chấp hành án, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân
khu hoặc trại tạm giam thuộc Bộ Quốc phòng phải hoàn chỉnh hồ sơ và chuyển người
chấp hành án đến cơ sở giam giữ phạm nhân để thi hành án, trừ trường hợp do
tình trạng khẩn cấp, lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan.
Đối với người bị kết án phạt tù đang bị tạm giam mà có thời
hạn chấp hành án phạt tù còn lại dưới 03 tháng kể từ ngày nhận được quyết định
thi hành án thì chấp hành án tại cơ sở giam giữ đang giam giữ họ.
3. Trong thời gian chờ chuyển đến nơi chấp hành án phạt
tù, người chấp hành án được hưởng chế độ như đối với phạm nhân.
4. Trường hợp người bị kết án phạt tù đang tại ngoại thì
trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được quyết định thi hành án, người chấp
hành án phải có mặt tại trụ sở Công an cấp xã hoặc cơ quan thi hành án hình sự
cấp quân khu được chỉ định trong quyết định thi hành án để làm thủ tục đi chấp
hành án; quá thời hạn này mà người đó không có mặt thì Trưởng Công an cấp xã,
Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu ra quyết định áp giải thi
hành án, trừ trường hợp do tình trạng khẩn cấp, lý do bất khả kháng hoặc trở ngại
khách quan.
Trường hợp do tình trạng khẩn cấp, lý do bất khả kháng hoặc
trở ngại khách quan mà người bị kết án phạt tù đang tại ngoại không có mặt
trong thời hạn 07 ngày thì ngay sau khi hết lý do tình trạng khẩn cấp, bất khả
kháng hoặc trở ngại khách quan, người chấp hành án phải có mặt tại trụ sở Công
an cấp xã hoặc cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu được chỉ định trong quyết
định thi hành án để làm thủ tục đi chấp hành án.
Trường hợp người bị kết án phạt tù đang tại ngoại bỏ trốn
thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp
quân khu nơi người đó cư trú trước khi bỏ trốn ra quyết định truy nã và tổ chức
truy bắt; trường hợp người đó có dấu hiệu mắc bệnh tâm thần, bệnh khác làm mất
khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi thì cơ quan thi hành án
hình sự Công an cấp tỉnh hoặc cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu thực hiện
trưng cầu giám định pháp y, pháp y tâm thần; trường hợp kết quả giám định xác định
người đó mắc bệnh tâm thần, bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng
điều khiển hành vi thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan
thi hành án hình sự cấp quân khu đề nghị Tòa án đã ra quyết định thi hành án
quyết định áp dụng biện pháp luật pháp bắt buộc chữa bệnh.
Trường hợp người bị kết án phạt tù đang tại ngoại chết
thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp
quân khu báo cáo Tòa án đã ra quyết định thi hành án để ra quyết định đình chỉ
thi hành án.
Điều 18. Thủ
tục hoãn chấp hành án phạt tù
1. Đối với người bị kết án phạt tù đang được tại ngoại,
Chánh án Tòa án đã ra quyết định thi hành án có thể tự mình hoặc theo đơn đề
nghị của người bị kết án, văn bản đề nghị của Viện kiểm sát cùng cấp, cơ quan
thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh nơi người chấp hành án cư trú, cơ quan thi
hành án hình sự cấp quân khu nơi người chấp hành án làm việc hoặc cư trú ra quyết
định hoãn chấp hành án phạt tù. Đơn đề nghị hoặc văn bản đề nghị phải được gửi
cho Tòa án đã ra quyết định thi hành án kèm theo các giấy tờ có liên quan.
2. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được đơn hoặc
văn bản đề nghị hoãn chấp hành án phạt tù, Chánh án Tòa án đã ra quyết định thi
hành án phải xem xét, ra quyết định hoãn chấp hành án phạt tù hoặc không chấp
nhận đề nghị hoãn chấp hành án phạt tù. Quyết định hoãn chấp hành án phạt tù phải
nêu rõ họ tên, ngày, tháng, năm sinh, địa chỉ cư trú (thường trú, tạm trú); bản
án, quyết định thi hành án, tội danh, mức án phạt tù, hình phạt bổ sung; trường
hợp hoãn, thời hạn hoãn; tên cơ quan thi hành án hình sự có nhiệm vụ thi hành,
tên Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã, đơn vị quân đội có trách nhiệm quản
lý, giám sát, giáo dục người được hoãn chấp hành án phạt tù.
Trường hợp không chấp nhận đề nghị hoãn chấp hành án phạt
tù thì quyết định không chấp nhận phải nêu rõ lý do. Quyết định không chấp nhận
đề nghị hoãn chấp hành án phạt tù được gửi cho người có đơn đề nghị hoặc cơ
quan đề nghị, Viện kiểm sát cùng cấp.
3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định
hoãn chấp hành án phạt tù, Tòa án phải gửi quyết định đó cho cá nhân, cơ quan
sau đây:
a) Người được hoãn chấp hành án phạt tù và người đại diện
trong trường hợp người được hoãn chấp hành án là người dưới 18 tuổi;
b) Viện kiểm sát cùng cấp;
c) Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh hoặc cơ
quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi người được hoãn chấp hành án cư trú,
làm việc;
d) Bộ Ngoại giao trong trường hợp người được hoãn chấp
hành án là người nước ngoài;
đ) Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã, đơn vị quân đội
được giao quản lý, giám sát, giáo dục người được hoãn chấp hành án phạt tù.
Điều 19. Thi
hành quyết định hoãn chấp hành án phạt tù
1. Ngay sau khi nhận được quyết định hoãn chấp hành án phạt
tù của Tòa án, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, Công an cấp xã, cơ
quan thi hành án hình sự cấp quân khu phải ngừng việc làm thủ tục đưa người chấp
hành án phạt tù đi chấp hành án.
2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được
quyết định hoãn chấp hành án phạt tù, Công an cấp xã, cơ quan thi hành án hình
sự cấp quân khu phải triệu tập người được hoãn chấp hành án đến Công an cấp xã
nơi cư trú hoặc đơn vị quân đội đang quản lý người đó để thông báo quyết định
và yêu cầu người đó cam kết bằng văn bản chấp hành nghiêm nghĩa vụ của người được
hoãn chấp hành án phạt tù. Người được hoãn chấp hành án phạt tù phải có mặt
theo giấy triệu tập và viết cam kết, trừ trường hợp do tình trạng khẩn cấp, lý
do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan.
Trường hợp người được hoãn chấp hành án phạt tù không cam
kết thì Công an cấp xã, đơn vị quân đội lập biên bản, báo cáo cơ quan thi hành
án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu để thông
báo cho Tòa án đã ra quyết định hoãn chấp hành án phạt tù xử lý theo thẩm quyền.
Trường hợp người được hoãn chấp hành án không có mặt theo
yêu cầu triệu tập thì Công an cấp xã, đơn vị quân đội xác minh và yêu cầu họ có
mặt tại trụ sở Công an cấp xã, đơn vị quân đội để làm thủ tục thông báo và cam
kết chấp hành nghiêm nghĩa vụ.
Trường hợp người được hoãn chấp hành án phạt tù vẫn không
có mặt sau khi đã có yêu cầu lần thứ hai hoặc không cam kết thì Công an cấp xã,
đơn vị quân đội lập biên bản, báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh,
cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu để đề nghị Tòa án đã ra quyết định
hoãn chấp hành án phạt tù hủy quyết định hoãn chấp hành án phạt tù.
Trường hợp người được hoãn chấp hành án vì lý do bệnh nặng
đang điều trị tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hoặc tại nhà mà không thể có mặt
theo yêu cầu triệu tập thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ
quan thi hành án hình sự cấp quân khu phối hợp với Công an cấp xã, đơn vị quân
đội và cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nơi điều trị, gia đình người được hoãn để làm
thủ tục thông báo và cam kết chấp hành nghĩa vụ.
3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được
quyết định hoãn chấp hành án phạt tù, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh,
cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu lập hồ sơ thi hành quyết định hoãn chấp
hành án phạt tù và bàn giao cho Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản
lý, giám sát, giáo dục người được hoãn chấp hành án phạt tù. Hồ sơ bao gồm:
a) Quyết định hoãn chấp hành án phạt tù;
b) Bản án, quyết định thi hành án;
c) Cam kết của người được hoãn chấp hành án phạt tù hoặc
cam kết của đại diện gia đình họ;
d) Tài liệu khác có liên quan.
4. Hằng tháng, Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao
quản lý, giám sát, giáo dục người được hoãn chấp hành án phạt tù phải báo cáo
cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp
quân khu về việc quản lý, giám sát, giáo dục người được hoãn chấp hành án.
Người được hoãn chấp hành án không được đi khỏi nơi cư
trú trong thời gian được hoãn chấp hành án nếu không được sự đồng ý của Công an
cấp xã, đơn vị quân đội và phải có mặt theo yêu cầu triệu tập của Công an cấp
xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục người được hoãn chấp
hành án.
Trường hợp đi khỏi nơi cư trú do tình trạng khẩn cấp, lý
do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì ngay sau khi hết lý do, người được
hoãn chấp hành án phải trình diện hoặc báo cáo Công an cấp xã, đơn vị quân đội
được giao quản lý, giám sát, giáo dục.
Việc thay đổi nơi cư trú, nơi làm việc của người được hoãn
chấp hành án thực hiện theo quy định tại Điều 66 của Luật này.
Trường hợp người được hoãn chấp hành án vì lý do bệnh nặng
đang điều trị tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh ngoài nơi cư trú thì Công an cấp
xã, đơn vị quân đội có trách nhiệm phối hợp với gia đình để quản lý, giám sát,
giáo dục người đó.
5. Trong thời gian được hoãn chấp hành án phạt tù mà người
được hoãn chấp hành án thực hiện hành vi phạm tội mới, bỏ trốn hoặc vi phạm
pháp luật gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội thì Công an cấp
xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục người được hoãn chấp
hành án báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành
án hình sự cấp quân khu để đề nghị Tòa án có thẩm quyền xem xét ra quyết định hủy
quyết định hoãn chấp hành án phạt tù.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc từ ngày nhận được đề nghị
hủy quyết định hoãn chấp hành án phạt tù của cơ quan thi hành án hình sự Công
an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu, Tòa án ra quyết định hủy
quyết định hoãn chấp hành án phạt tù hoặc không chấp nhận đề nghị hủy quyết định
hoãn chấp hành án phạt tù và nêu rõ lý do, gửi cơ quan thi hành án hình sự Công
an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định
hủy quyết định hoãn chấp hành án phạt tù, Tòa án phải gửi quyết định đó cho cá
nhân, cơ quan được quy định tại khoản 3 Điều 18 của Luật này. Ngay sau khi nhận
được quyết định của Tòa án, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ
quan thi hành án hình sự cấp quân khu tổ chức thi hành án.
Trường hợp người được hoãn chấp hành án bỏ trốn thì cơ
quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân
khu ra quyết định truy nã và tổ chức truy bắt.
6. Trong thời gian được hoãn chấp hành án phạt tù mà người
được hoãn chấp hành án chết thì Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản
lý, giám sát, giáo dục người được hoãn chấp hành án phải báo cáo và bàn giao hồ
sơ cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự
cấp quân khu để thông báo cho Tòa án đã ra quyết định hoãn chấp hành án phạt tù
ra quyết định đình chỉ thi hành án và giải quyết các thủ tục có liên quan.
7. Việc thi hành án phạt tù đối với người được hoãn chấp
hành án phạt tù:
a) Trường hợp chưa hết thời hạn hoãn chấp hành án phạt
tù, người được hoãn chấp hành án phạt tù tự giác đến Công an cấp xã, đơn vị
quân đội trình diện xin đi chấp hành án thì Công an cấp xã, đơn vị quân đội lập
biên bản tiếp nhận và tiến hành đưa người được hoãn chấp hành án phạt tù đến cơ
sở giam giữ theo chỉ định của cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ
quan thi hành án hình sự cấp quân khu để đưa đi chấp hành án.
Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi
hành án hình sự cấp quân khu có trách nhiệm thông báo cho Tòa án đã ra quyết định
hoãn chấp hành án phạt tù để hủy quyết định hoãn;
b) Hết thời hạn hoãn chấp hành án phạt tù, người được
hoãn chấp hành án phạt tù phải trình diện tại Công an cấp xã, đơn vị quân đội để
thực hiện thủ tục đi chấp hành án phạt tù.
Sau thời hạn 07 ngày kể từ ngày hết thời hạn hoãn chấp
hành án phạt tù mà người được hoãn chấp hành án phạt tù không có mặt để thực hiện
thủ tục đi chấp hành án thì Trưởng Công an cấp xã, Thủ trưởng cơ quan thi hành
án hình sự cấp quân khu ra quyết định áp giải thi hành án, trừ trường hợp do
tình trạng khẩn cấp, lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan.
Trường hợp tại thời điểm hết thời hạn hoãn chấp hành án
phạt tù mà người được hoãn chấp hành án phạt tù đang được xem xét giải quyết tiếp
tục cho hoãn thì tạm ngừng việc thi hành án phạt tù cho đến khi có quyết định của
Tòa án.
8. Đối với người được hoãn chấp hành án phạt tù vì lý do
bị bệnh nặng, nếu xét thấy có dấu hiệu phục hồi sức khỏe mà vẫn lấy lý do về sức
khỏe để trốn tránh việc chấp hành án hoặc người được hoãn chấp hành án phạt tù
có dấu hiệu mắc bệnh tâm thần, bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả
năng điều khiển hành vi thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh nơi
người được hoãn chấp hành án phạt tù cư trú, cơ quan thi hành án hình sự cấp
quân khu nơi đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục người đó có
trách nhiệm yêu cầu xác định tình trạng bệnh tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cấp
cơ bản trở lên hoặc trưng cầu giám định pháp y, pháp y tâm thần.
Trường hợp kết quả giám định xác định người được hoãn chấp
hành án đã phục hồi sức khỏe thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh,
cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu thực hiện việc đưa người đó đến nơi chấp
hành án và thông báo cho Tòa án đã ra quyết định hoãn chấp hành án để ra quyết
định hủy quyết định hoãn chấp hành án phạt tù.
Trường hợp kết quả giám định xác định người đó đang mắc bệnh
tâm thần, bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi
thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp
quân khu đề nghị Tòa án đã ra quyết định thi hành án để ra quyết định hủy quyết
định hoãn chấp hành án và quyết định áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh.
Trường hợp hết thời hạn hoãn chấp hành án phạt tù đối với
người đang được hoãn do bệnh nặng mà bệnh án của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
đang điều trị hoặc kết luận về tình trạng bệnh của Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cấp
cơ bản trở lên xác định sức khỏe của họ chưa phục hồi, cơ quan thi hành án hình
sự Công an cấp tỉnh nơi họ về cư trú, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu
nơi đơn vị được giao quản lý, giám sát, giáo dục người đó thông báo bằng văn bản
cho Tòa án đã ra quyết định hoãn chấp hành án phạt tù xem xét, quyết định việc
tiếp tục cho họ được hoãn chấp hành án. Các tài liệu gửi kèm theo văn bản của
cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh hoặc cơ quan thi hành án hình sự cấp
quân khu gồm: đơn xin tiếp tục được hoãn chấp hành án phạt tù của người được
hoãn chấp hành án hoặc đại diện gia đình của họ, có xác nhận của Công an cấp
xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục người được hoãn chấp
hành án; bản sao bệnh án hoặc kết luận về tình trạng bệnh của người được hoãn
chấp hành án.
Trường hợp người được hoãn chấp hành án phạt tù từ chối
yêu cầu xác định tình trạng bệnh của cơ quan có thẩm quyền mà không có lý do
chính đáng thì Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát,
giáo dục người được hoãn chấp hành án phạt tù lập biên bản và báo cáo cơ quan
thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh nơi họ cư trú, cơ quan thi hành án hình sự
cấp quân khu nơi đơn vị được giao quản lý, giám sát, giáo dục người đó để đề
nghị Tòa án đã ra quyết định hủy quyết định hoãn chấp hành án phạt tù. Trong thời
hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đề nghị, Tòa án phải xem xét ra quyết
định hủy quyết định hoãn chấp hành án phạt tù.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định
hủy quyết định hoãn chấp hành án phạt tù, Tòa án phải gửi quyết định đó cho cá
nhân, cơ quan được quy định tại khoản 3 Điều 18 của Luật này. Ngay sau khi nhận
được quyết định của Tòa án, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ
quan thi hành án hình sự cấp quân khu tổ chức thi hành án.
Điều 20. Nhiệm
vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã, đơn vị quân đội trong
quản lý, giám sát, giáo dục người được hoãn chấp hành án phạt tù
1. Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý, giám sát, giáo dục người
được hoãn chấp hành án phạt tù.
2. Công an cấp xã có nhiệm vụ trực tiếp giúp Ủy ban nhân
dân cấp xã quản lý, giám sát, giáo dục người được hoãn chấp hành án phạt tù và
có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Tiếp nhận hồ sơ, tổ chức quản lý, giám sát, giáo dục
người được hoãn chấp hành án phạt tù; bổ sung tài liệu trong quá trình quản lý,
giám sát, giáo dục; bàn giao hồ sơ cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp
tỉnh;
b) Yêu cầu người được hoãn chấp hành án phạt tù thực hiện
đầy đủ nghĩa vụ của mình; có biện pháp giáo dục, phòng ngừa khi người đó có dấu
hiệu vi phạm pháp luật;
c) Giải quyết cho người được hoãn chấp hành án phạt tù được
vắng mặt hoặc thay đổi nơi cư trú theo quy định của Luật này và pháp luật về cư
trú;
d) Phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức
thành viên, gia đình và cơ quan, tổ chức nơi người được hoãn chấp hành án phạt
tù cư trú trong việc quản lý, giám sát, giáo dục người đó;
đ) Báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh
tiến hành trình tự, thủ tục đề nghị Tòa án có thẩm quyền hủy quyết định hoãn chấp
hành án phạt tù trong trường hợp người đó lại thực hiện hành vi phạm tội mới, bỏ
trốn hoặc vi phạm pháp luật gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã
hội;
e) Báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh
khi người được hoãn chấp hành án phạt tù chết, vắng mặt, thay đổi nơi cư trú
khi chưa được sự đồng ý của Công an cấp xã;
g) Hằng tháng, báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công
an cấp tỉnh về việc quản lý, giám sát, giáo dục người được hoãn chấp hành án phạt
tù;
h) Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của
Luật này.
3. Trưởng Công an cấp xã có trách nhiệm báo cáo định kỳ
hoặc theo yêu cầu của Ủy ban nhân dân cấp xã về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền
hạn theo quy định tại khoản 2 Điều này.
4. Đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục
người được hoãn chấp hành án phạt tù có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại điểm b và điểm d khoản
2 Điều này;
b) Tiếp nhận hồ sơ, tổ chức quản lý, giám sát, giáo dục
người được hoãn chấp hành án phạt tù; bổ sung tài liệu trong quá trình quản lý,
giám sát, giáo dục; bàn giao hồ sơ cho cơ quan thi hành án hình sự cấp quân
khu;
c) Phối hợp với Công an cấp xã giải quyết cho người được
hoãn chấp hành án phạt tù được vắng mặt hoặc thay đổi nơi cư trú theo quy định
của Luật này và pháp luật về cư trú;
d) Báo cáo cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu tiến
hành trình tự, thủ tục đề nghị Tòa án có thẩm quyền hủy quyết định hoãn chấp
hành án phạt tù trong trường hợp người đó lại thực hiện hành vi phạm tội mới, bỏ
trốn hoặc vi phạm pháp luật gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã
hội;
đ) Báo cáo cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu khi
người được hoãn chấp hành án phạt tù chết, bỏ trốn, vắng mặt, thay đổi nơi cư
trú khi chưa được sự đồng ý của đơn vị quân đội;
e) Hằng tháng, báo cáo cơ quan thi hành án hình sự cấp
quân khu về việc quản lý, giám sát, giáo dục người được hoãn chấp hành án phạt
tù.
Điều 21.
Nghĩa vụ của người được hoãn chấp hành án phạt tù
1. Có mặt theo giấy triệu tập và cam kết bằng văn bản về
việc chấp hành nghĩa vụ.
2. Thực hiện nghiêm cam kết trong việc tuân thủ pháp luật,
nghĩa vụ công dân, nội quy, quy chế của nơi cư trú, làm việc.
3. Chấp hành sự quản lý, giám sát, giáo dục của Ủy ban
nhân dân cấp xã, Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát,
giáo dục.
4. Phải có mặt theo yêu cầu của Ủy ban nhân dân cấp xã,
Công an cấp xã hoặc đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục.
5. Báo cáo bằng văn bản hoặc hình thức khác về tình hình
chấp hành pháp luật theo yêu cầu của Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao
quản lý, giám sát, giáo dục.
6. Tự giác trình diện tại Công an cấp xã, đơn vị quân đội
được giao quản lý, giám sát, giáo dục trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày hết thời
hạn hoãn chấp hành án phạt tù hoặc khi sức khỏe hồi phục để tiếp tục chấp hành
án.
7. Người được hoãn chấp hành án phạt tù bị tạm hoãn xuất
cảnh trong thời gian hoãn chấp hành án phạt tù.
Điều 22. Hồ
sơ đưa người bị kết án đến nơi chấp hành án phạt tù
1. Hồ sơ đưa người bị kết án đến nơi chấp hành án phạt tù
phải có đủ các tài liệu sau đây:
a) Bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật;
trường hợp xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm thì phải có bản án sơ thẩm
kèm theo:
b) Quyết định thi hành án phạt tù; quyết định tổng hợp
hình phạt (nếu có); quyết định thi hành án treo và quyết định của Tòa án buộc
chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo, quyết định của Tòa án hủy
quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện (nếu có);
c) Quyết định của cơ quan quản lý thi hành án hình sự đưa
người chấp hành án phạt tù đến trại giam, trại tạm giam;
d) Danh bản của người chấp hành án phạt tù;
đ) Bản sao hộ chiếu hoặc giấy tờ chứng minh quốc tịch đối
với người chấp hành án phạt tù là người nước ngoài;
e) Phiếu khám sức khỏe và tài liệu khác có liên quan đến
sức khỏe của người chấp hành án phạt tù;
g) Bản nhận xét việc chấp hành nội quy của trại tạm giam
đối với người bị tạm giam;
h) Tài liệu khác có liên quan (nếu có).
2. Trường hợp con của người bị kết án phạt tù theo mẹ vào
trại giam thì phải có giấy khai sinh. Trường hợp chưa có giấy khai sinh thì phải
có giấy chứng sinh do cơ quan y tế nơi trẻ em được sinh ra cấp hoặc văn bản của
người làm chứng nếu trẻ em được sinh ra ngoài cơ sở y tế; trường hợp không có
các giấy tờ nêu trên thì phải có báo cáo bằng văn bản của cơ quan thi hành án
hình sự Công an cấp tỉnh, trại tạm giam chuyển người bị kết án phạt tù đến trại
giam để chấp hành án kèm theo giấy cam đoan của mẹ về việc sinh con.
Trại giam có trách nhiệm tổ chức thực hiện việc đăng ký
khai sinh cho trẻ em theo mẹ vào trại giam theo quy định của pháp luật về hộ tịch.
3. Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an, Cơ
quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Quốc phòng, cơ quan thi hành án hình sự
công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu, Công an cấp xã có
trách nhiệm hoàn chỉnh hồ sơ quy định tại khoản 1 Điều này, tổ chức đưa người bị
kết án phạt tù và hồ sơ kèm theo đến bàn giao cho trại giam, trại tạm giam đã
được chỉ định để thi hành án.
Điều 23. Quyền
và nghĩa vụ của phạm nhân
1. Phạm nhân có các quyền sau đây:
a) Được bảo hộ tính mạng, sức khỏe, tài sản, tôn trọng
danh dự, nhân phẩm; được phổ biến quyền và nghĩa vụ của mình, nội quy cơ sở
giam giữ phạm nhân;
b) Được hiến mô, bộ phận cơ thể; được hưởng chế độ, chính
sách theo quy định pháp luật về hiến mô, bộ phận cơ thể người;
c) Được bảo đảm chế độ ăn, ở, mặc, đồ dùng sinh hoạt cá
nhân, chăm sóc y tế theo quy định; gửi, nhận thư, nhận tiền, đồ vật theo quy định;
đọc sách, báo, nghe đài, xem truyền hình phù hợp với điều kiện của nơi chấp
hành án;
d) Được tham gia hoạt động thể dục, thể thao, sinh hoạt
văn hóa, văn nghệ;
đ) Được lao động, học tập, học nghề;
e) Được gặp, liên lạc với người thân thích, đại diện cơ
quan, tổ chức hoặc cá nhân; đối với phạm nhân là người nước ngoài được thăm gặp,
tiếp xúc lãnh sự;
g) Được tự mình hoặc thông qua người đại diện để thực hiện
giao dịch dân sự theo quy định của pháp luật;
h) Được bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo; được bồi thường
thiệt hại theo quy định của pháp luật;
i) Được tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, hưởng chế độ,
chính sách về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật;
k) Được sử dụng kinh sách, bày tỏ niềm tin tín ngưỡng,
tôn giáo theo quy định của pháp luật;
l) Được khen thưởng khi có thành tích trong quá trình chấp
hành án.
2. Phạm nhân có các nghĩa vụ sau đây:
a) Chấp hành bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực
pháp luật, quyết định của cơ quan quản lý thi hành án hình sự, cơ quan thi hành
án hình sự trong quá trình thi hành án hình sự và các quyết định khác của cơ
quan nhà nước có thẩm quyền liên quan đến bản án mà phạm nhân đang chấp hành
án;
b) Chấp hành nội quy cơ sở giam giữ phạm nhân, các tiêu
chuẩn thi đua chấp hành án;
c) Chấp hành yêu cầu, mệnh lệnh, hướng dẫn của cán bộ cơ
sở giam giữ phạm nhân;
d) Lao động, học tập, học nghề theo quy định;
đ) Phạm nhân làm hư hỏng, làm mất hoặc hủy hoại tài sản của
người khác thì phải bồi thường.
3. Phạm nhân có quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của
Luật này.
Điều 24. Tiếp
nhận người chấp hành án phạt tù
1. Trại giam, trại tạm giam được chỉ định thi hành án phải
tiếp nhận người chấp hành án phạt tù khi có đủ hồ sơ quy định tại khoản 1 Điều
22 của Luật này.
2. Khi tiếp nhận người chấp hành án phạt tù, trại giam,
trại tạm giam có trách nhiệm sau đây:
a) Kiểm tra thông tin để xác định đúng người chấp hành án
phạt tù theo quyết định thi hành án của Tòa án;
b) Lập biên bản giao nhận người chấp hành án phạt tù;
biên bản bàn giao hồ sơ, tài liệu;
c) Kiểm tra người chấp hành án phạt tù; kiểm tra và xử lý
đồ vật mang theo trước khi đưa vào buồng giam;
d) Tổ chức khám sức khỏe cho người chấp hành án phạt tù
và trẻ em dưới 36 tháng tuổi theo mẹ vào trại giam (nếu có); tổ chức thu thập
thông tin sinh trắc học của phạm nhân gồm mống mắt, ADN, giọng nói đối với những
trường hợp chưa có thông tin. Kết quả thu thập thông tin được chia sẻ cho cơ
quan quản lý căn cước để cập nhật, điều chỉnh vào Cơ sở dữ liệu căn cước;
đ) Giải thích quyền, nghĩa vụ của phạm nhân; phổ biến nội
quy cơ sở giam giữ phạm nhân.
3. Cơ quan tiếp nhận phổ biến cho phạm nhân thực hiện các
quy định sau đây:
a) Chỉ được đưa vào buồng giam những đồ dùng theo quy định;
trường hợp có tư trang chưa dùng đến, có tiền, giấy tờ có giá, các loại thẻ
thanh toán bằng hình thức điện tử, vàng, bạc, đá quý, kim loại quý thì phải gửi
trại giam, trại tạm giam quản lý; trường hợp phạm nhân có nhu cầu được chuyển số
tiền, đồ dùng, tư trang cho người thân thích hoặc người đại diện và tự chịu chi
phí thì trại giam, trại tạm giam có trách nhiệm thực hiện việc chuyển hoặc giao
trực tiếp cho người thân thích hoặc người đại diện của phạm nhân tại nơi chấp
hành án;
b) Không được sử dụng tiền, giấy tờ có giá tại nơi chấp
hành án. Việc phạm nhân mua lương thực, thực phẩm và các hàng hóa khác để phục
vụ đời sống, sinh hoạt tại nơi chấp hành án được thực hiện bằng hình thức mua
qua sổ lưu ký;
c) Không được đưa vào nơi chấp hành án đồ vật thuộc danh
mục đồ vật cấm do Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định.
4. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận
người chấp hành án, trại giam, trại tạm giam phải thông báo cho Tòa án đã ra
quyết định thi hành án, gia đình của người chấp hành án phạt tù biết và báo cáo
cơ quan quản lý thi hành án hình sự. Trường hợp người chấp hành án là người nước
ngoài, trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận người chấp hành án,
trại giam, trại tạm giam phải thông báo cho Bộ Ngoại giao để thông báo cho cơ
quan đại diện ngoại giao hoặc lãnh sự của nước mà người đó có quốc tịch.
Điều 25. Hồ
sơ phạm nhân
1. Hồ sơ, tài liệu theo quy định tại khoản 1 và khoản 2
Điều 22 của Luật này.
2. Biên bản giao nhận người chấp hành án phạt tù; biên bản
bàn giao hồ sơ, tài liệu; biên bản giao nhận tiền, tài sản khác của người chấp
hành án phạt tù gửi lưu ký hoặc giao cho người thân thích, người đại diện của họ
quản lý; quyết định, biên bản xử lý đồ vật thuộc danh mục đồ vật cấm (nếu có).
3. Tài liệu phản ánh kết quả chấp hành các quy định về
thi hành án phạt tù; tài liệu về sức khỏe, khám bệnh, chữa bệnh; tài liệu liên
quan đến việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của người chấp hành án phạt tù trong thời
gian chấp hành án; tài liệu về việc thực hiện nghĩa vụ dân sự; biên bản, quyết
định kỷ luật về việc vi phạm nội quy cơ sở giam giữ phạm nhân, pháp luật về thi
hành án phạt tù, tài liệu liên quan đến việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, yêu
cầu, đề nghị của người chấp hành án, tài liệu về thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự (nếu
có).
4. Tài liệu khác có liên quan trong quá trình chấp hành
án.
Điều 26.
Giam giữ phạm nhân
1. Trại giam tổ chức giam giữ phạm nhân như sau:
a) Khu giam giữ đối với phạm nhân có mức án phạt tù trên
15 năm, tù chung thân, phạm nhân thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm;
b) Khu giam giữ đối với phạm nhân có mức án phạt tù từ 15
năm trở xuống; phạm nhân có mức án phạt tù trên 15 năm đã được giảm thời hạn chấp
hành án phạt tù và thời hạn chấp hành án còn lại dưới 15 năm; phạm nhân thuộc
trường hợp tái phạm nguy hiểm, đã chấp hành một phần hai thời hạn chấp hành án
phạt tù và đã được giảm thời hạn chấp hành án;
c) Trường hợp để bảo đảm chế độ ở của phạm nhân quy định
tại điểm b khoản này, Giám thị trại giam có thể bố trí giam tại khu giam giữ
quy định tại điểm a khoản này nhưng không được giam cùng buồng với phạm nhân có
mức án phạt tù trên 15 năm, tù chung thân, thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm;
d) Buồng kỷ luật đối với phạm nhân bị kỷ luật.
2. Trong các khu giam giữ quy định tại khoản 1 Điều này,
những phạm nhân dưới đây được bố trí giam giữ riêng:
a) Phạm nhân nữ;
b) Phạm nhân là người nước ngoài;
c) Phạm nhân là người mắc bệnh truyền nhiễm nhóm A;
d) Phạm nhân có dấu hiệu mắc bệnh tâm thần, bệnh khác làm
mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi trong thời gian chờ đưa
đi giám định pháp y, pháp y tâm thần, chờ kết quả giám định và quyết định của
Tòa án;
đ) Phạm nhân có con dưới 36 tháng tuổi theo mẹ vào trại
giam; phạm nhân có thai;
e) Phạm nhân thường xuyên vi phạm nội quy cơ sở giam giữ
phạm nhân.
3. Phạm nhân là người đồng tính, người chuyển giới hoặc
trường hợp vì lý do giới tính khác có thể được giam giữ riêng.
4. Trong trại tạm giam, những phạm nhân quy định tại điểm
a và điểm e khoản 2 Điều này được bố trí giam giữ riêng.
5. Phạm nhân được chia thành các tổ, đội để lao động, học
tập và sinh hoạt. Căn cứ vào tính chất của tội phạm, mức hình phạt, đặc điểm
nhân thân của phạm nhân, kết quả chấp hành án, Giám thị trại giam, Giám thị trại
tạm giam quyết định việc phân loại, chuyển khu giam giữ.
Điều 27. Chế
độ học tập, học nghề của phạm nhân
1. Phạm nhân được phổ biến pháp luật, giáo dục công dân
và được học văn hóa, học nghề. Phạm nhân chưa biết chữ phải học văn hóa để xóa
mù chữ. Phạm nhân là người nước ngoài được khuyến khích học tiếng Việt. Phạm
nhân được bố trí 01 ngày trong tuần để học tập, trừ ngày chủ nhật, lễ, tết theo
quy định của pháp luật và được bố trí thời gian học nghề tùy thuộc vào trình độ
đào tạo.
2. Căn cứ yêu cầu quản lý, giáo dục cải tạo phạm nhân và
thời hạn chấp hành án, trại giam, trại tạm giam tổ chức dạy học cho phạm nhân.
3. Chương trình, nội dung học tập, học nghề của phạm nhân
do Chính phủ quy định.
Điều 28. Chế
độ lao động của phạm nhân
1. Phạm nhân được tổ chức lao động phù hợp với độ tuổi, sức
khỏe và đáp ứng yêu cầu quản lý, giáo dục, hòa nhập cộng đồng. Phạm nhân lao động
phải dưới sự giám sát, quản lý của trại giam, trại tạm giam. Thời giờ lao động
của phạm nhân không quá 08 giờ trong 01 ngày và 05 ngày trong 01 tuần, được nghỉ
vào các ngày chủ nhật, lễ, tết theo quy định của pháp luật. Phạm nhân là người
nước ngoài còn được nghỉ thêm 01 ngày Tết cổ truyền dân tộc và 01 ngày Quốc
khánh của nước mà họ có quốc tịch.
Trường hợp đột xuất hoặc thời vụ, Giám thị trại giam,
Giám thị trại tạm giam có thể yêu cầu phạm nhân làm thêm giờ nhưng không được
vượt quá tổng số giờ làm thêm trong ngày theo quy định của pháp luật về lao động.
Trường hợp phạm nhân lao động thêm giờ hoặc lao động trong ngày nghỉ thì được
nghỉ bù hoặc được bồi dưỡng bằng tiền, hiện vật.
Trại giam, trại tạm giam phải áp dụng các biện pháp cần
thiết để bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động cho phạm nhân.
2. Phạm nhân nữ được bố trí làm công việc phù hợp với giới
tính; không được bố trí làm công việc không sử dụng lao động nữ theo quy định của
pháp luật về lao động.
3. Phạm nhân bị bệnh hoặc có nhược điểm về thể chất, tâm
thần thì tùy mức độ, tính chất của bệnh và trên cơ sở chỉ định của y tế trại
giam, trại tạm giam được miễn hoặc giảm thời gian lao động, giảm chi tiêu, định
mức lao động.
4. Phạm nhân được nghỉ lao động trong các trường hợp sau
đây:
a) Phạm nhân bị bệnh, không đủ sức khỏe lao động và được
y tế cơ sở giam giữ phạm nhân xác nhận;
b) Phạm nhân đang điều trị tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh;
c) Phạm nhân có con dưới 36 tháng tuổi đang ở cùng mẹ
trong trại giam mà bị bệnh, được y tế trại giam xác nhận;
d) Phạm nhân nữ có thai được nghỉ lao động trước và sau
khi sinh con theo quy định của pháp luật về lao động;
đ) Phạm nhân thực hiện các chế độ học tập, học nghề, chế
độ thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự và chế độ liên lạc.
Điều 29. Tổ
chức lao động cho phạm nhân
1. Trại giam tổ chức cho phạm nhân lao động trong và
ngoài trại giam nhằm giáo dục cải tạo, rèn luyện kỹ năng lao động, góp phần chuẩn
bị tái hòa nhập cộng đồng.
2. Căn cứ vào độ tuổi, sức khỏe, giới tính, mức án, tính
chất, mức độ hành vi phạm tội của phạm nhân; điều kiện đất đai, tài nguyên,
ngành nghề; trang thiết bị, phương tiện, vật tư, nguồn vốn; điều kiện cơ sở vật
chất, khả năng hợp tác với tổ chức, cá nhân để tổ chức lao động cho phạm nhân,
Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam lập kế hoạch tổ chức lao động cho phạm
nhân, gửi Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an, Cơ quan quản lý thi
hành án hình sự Bộ Quốc phòng để phê duyệt.
Kế hoạch tổ chức lao động cho phạm nhân gồm kế hoạch theo
giai đoạn, kế hoạch năm và có nội dung cơ bản sau đây:
a) Tổng số phạm nhân, trong đó có số lượng phạm nhân đủ
điều kiện, không đủ điều kiện lao động theo quy định của pháp luật;
b) Tổng diện tích đất đang sử dụng phục vụ tổ chức lao động
cho phạm nhân và cơ cấu sử dụng đất;
c) Dự kiến chỉ tiêu, định mức lao động cho phạm nhân;
d) Dự kiến chi phí cho lao động; trích khấu hao tài sản cố
định;
đ) Dự kiến kết quả lao động của phạm nhân; chênh lệch
thu, chi trong tổ chức lao động của phạm nhân;
e) Dự kiến, đề xuất kế hoạch sử dụng kết quả lao động của
phạm nhân.
3. Việc tổ chức cho phạm nhân lao động ngoài trại giam phải
bảo đảm an ninh, an toàn trong quá trình tổ chức lao động; phục vụ hiệu quả
công tác giáo dục cải tạo, tái hòa nhập cộng đồng cho phạm nhân; tạo điều kiện
giúp phạm nhân tìm kiếm việc làm sau khi chấp hành xong án phạt tù.
4. Phạm nhân thuộc một trong các trường hợp sau đây thì
không được đưa ra lao động, hướng nghiệp, dạy nghề ngoài trại giam:
a) Phạm nhân phạm một trong các tội về xâm phạm an ninh
quốc gia, phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh;
b) Phạm nhân có thời gian chấp hành án phạt tù còn lại
trên 07 năm đối với phạm nhân có mức án từ 15 năm trở xuống và trên 10 năm đối
với phạm nhân có mức án trên 15 năm;
c) Phạm nhân là người nước ngoài;
d) Phạm nhân đang mắc bệnh truyền nhiễm nhóm A;
đ) Phạm nhân là người dưới 18 tuổi;
e) Phạm nhân từ đủ 60 tuổi trở lên;
g) Phạm nhân đang xếp loại chấp hành án phạt tù loại
“Kém”;
h) Phạm nhân đã có hành vi trốn khỏi cơ sở giam giữ hoặc
trốn khỏi cơ sở giáo dục bắt buộc;
i) Phạm nhân thuộc một trong các trường hợp quy định tại
khoản 3 và khoản 4 Điều 28 của Luật này.
5. Trại giam, trại tạm giam tổ chức lao động cho phạm
nhân theo kế hoạch được cấp có thẩm quyền quyết định tại khoản 2 Điều này phê
duyệt.
6. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 30. Sử
dụng kết quả lao động của phạm nhân
1. Kết quả lao động của phạm nhân sau khi trừ các chi phí
hợp lý được sử dụng như sau:
a) Bổ sung mức ăn cho phạm nhân;
b) Lập Quỹ hòa nhập cộng đồng để chi hỗ trợ cho phạm nhân
khi chuẩn bị chấp hành xong án phạt tù;
c) Bổ sung vào quỹ phúc lợi, khen thưởng của cơ sở giam
giữ phạm nhân;
d) Chi hỗ trợ đầu tư trở lại cho cơ sở giam giữ phạm nhân
phục vụ việc tổ chức lao động, giáo dục, dạy nghề cho phạm nhân; nâng cao tay
nghề cho phạm nhân chuẩn bị chấp hành xong án phạt tù;
đ) Chi trả một phần công lao động cho phạm nhân trực tiếp
tham gia lao động; chi hỗ trợ cho phạm nhân bị tai nạn lao động.
Trường hợp kết quả lao động của phạm nhân vượt chi tiêu
được giao thì phần kết quả vượt chi tiêu được sử dụng để chi trả cho phạm nhân
trực tiếp tham gia lao động vượt chi tiêu và bổ sung quỹ phúc lợi của cơ sở
giam giữ phạm nhân.
2. Phạm nhân được sử dụng theo quy định số tiền thưởng
quy định tại điểm c khoản 1 Điều này và số tiền được nhận quy định tại điểm đ
khoản 1 Điều này hoặc gửi cơ sở giam giữ phạm nhân quản lý và được nhận lại khi
chấp hành xong án phạt tù.
3. Việc thu, chi từ hoạt động lao động, học nghề của phạm
nhân được thực hiện như sau:
a) Trại giam, trại tạm giam mở sổ sách kế toán và việc
ghi chép, hạch toán nghiệp vụ thu, chi tài chính phát sinh, báo cáo tài chính
thực hiện theo chế độ kế toán hành chính sự nghiệp.
Mọi khoản thu, chi từ hoạt động lao động, học nghề của phạm
nhân được phản ánh qua hệ thống sổ sách tài vụ - kế toán của trại giam, trại tạm
giam;
b) Trại giam, trại tạm giam tập hợp đầy đủ các chi phí
theo quy định vào giá thành sản phẩm;
c) Báo cáo kết quả thu, chi từ hoạt động lao động của phạm
nhân trong trại giam, trại tạm giam là báo cáo tổng hợp về số liệu, tình hình
và kết quả thu, chi từ hoạt động tổ chức lao động cho phạm nhân. Giám thị trại
giam, Giám thị trại tạm giam chịu trách nhiệm lập báo cáo tổng hợp và báo cáo
thuyết minh chi tiết về kết quả thu, chi từ hoạt động lao động của phạm nhân gửi
cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an, Bộ Quốc phòng;
d) Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an, Bộ Quốc
phòng chịu trách nhiệm thẩm định và phê duyệt báo cáo kết quả thu, chi từ hoạt
động lao động của phạm nhân và báo cáo cơ quan quản lý tài chính của Bộ Công
an, Bộ Quốc phòng để tổng hợp chung vào báo cáo quyết toán ngân sách hằng năm của
Bộ Công an, Bộ Quốc phòng theo quy định của pháp luật.
4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 31. Xếp
loại chấp hành án phạt tù
1. Trong thời gian chấp hành án phạt tù, phạm nhân được
nhận xét, đánh giá kết quả chấp hành án phạt tù theo các ngày trong tuần và xếp
loại chấp hành án phạt tù theo tháng, quý. Việc nhận xét, đánh giá và xếp loại
chấp hành án phạt tù phải bảo đảm khách quan, công bằng, công khai, dân chủ và
bảo đảm tính liên tục.
2. Căn cứ kết quả thực hiện các tiêu chuẩn thi đua chấp
hành án phạt tù, nội quy cơ sở giam giữ phạm nhân, học tập, lao động cải tạo để
nhận xét, đánh giá và xếp loại chấp hành án phạt tù cho phạm nhân theo một
trong các mức tốt, khá, trung bình, kém.
3. Kết quả xếp loại chấp hành án phạt tù theo quý phải bằng
văn bản, được lưu hồ sơ phạm nhân. Phạm nhân lập công thì được nâng mức xếp loại
chấp hành án phạt tù.
4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 32. Thủ
tục đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù
1. Thẩm quyền đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù
được quy định như sau:
a) Trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc
phòng;
b) Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan
thi hành án hình sự cấp quân khu;
c) Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát khu vực,
Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu.
2. Cơ quan có thẩm quyền nơi phạm nhân đang chấp hành án
quy định tại khoản 1 Điều này có trách nhiệm lập hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ chấp
hành án phạt tù và chuyển cho Tòa án có thẩm quyền xem xét, quyết định.
3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ
sơ đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, Chánh án Tòa án nhân dân khu vực,
Chánh án Tòa án quân sự cấp quân khu nơi phạm nhân đang chấp hành án phải xem
xét, ra quyết định tạm đình chỉ hoặc không chấp nhận đề nghị tạm đình chỉ.
Quyết định tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù phải ghi rõ:
họ tên, ngày, tháng, năm sinh, địa chỉ cư trú (thường trú, tạm trú); bản án,
quyết định thi hành án, tội danh, mức án phạt tù, hình phạt bổ sung; ngày chấp
hành án phạt tù, nơi chấp hành án phạt tù; cơ quan đề nghị tạm đình chỉ; trường
hợp tạm đình chỉ, thời hạn tạm đình chỉ; tên cơ quan thi hành án hình sự có nhiệm
vụ thi hành, tên Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã, đơn vị quân đội có
trách nhiệm quản lý, giám sát, giáo dục người được tạm đình chỉ chấp hành án phạt
tù.
Trường hợp không chấp nhận đề nghị tạm đình chỉ chấp hành
án phạt tù thì quyết định không chấp nhận phải nêu rõ lý do. Quyết định không
chấp nhận đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù được gửi đến cơ quan đề nghị
tạm đình chỉ, Viện kiểm sát cùng cấp.
4. Việc tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù để xét xử theo
thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm do người đã kháng nghị quyết định.
Điều 33. Thi
hành quyết định tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù
1. Ngay sau khi ra quyết định tạm đình chỉ chấp hành án
phạt tù, Tòa án phải gửi quyết định đó cho cá nhân, cơ quan sau đây:
a) Người được tạm đình chỉ và người đại diện trong trường
hợp người được tạm đình chỉ là người dưới 18 tuổi;
b) Cơ quan đề nghị tạm đình chỉ, trại giam, trại tạm giam
nơi người được tạm đình chỉ đang chấp hành án;
c) Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh hoặc cơ
quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi người được tạm đình chỉ chấp hành án
về cư trú;
d) Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã nơi người được
tạm đình chỉ về cư trú, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục
người đó;
đ) Viện kiểm sát cùng cấp;
e) Tòa án đã ra quyết định thi hành án;
g) Bộ Ngoại giao trong trường hợp người được tạm đình chỉ
là người nước ngoài.
2. Trường hợp Viện trưởng Viện kiểm sát quyết định tạm
đình chỉ thi hành án phạt tù thì phải gửi quyết định đó cho cá nhân, cơ quan
quy định tại các điểm a, b, c, d, e và g khoản 1 Điều này.
3. Trại giam, trại tạm giam đang quản lý người được tạm
đình chỉ tổ chức giao người được tạm đình chỉ cho Công an cấp xã, đơn vị quân đội
được giao quản lý, giám sát, giáo dục người đó; gia đình của người được tạm
đình chỉ có trách nhiệm tiếp nhận người được tạm đình chỉ.
Trường hợp người được tạm đình chỉ bị bệnh nặng đang phải
điều trị tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thì trại giam, trại tạm giam giao người
được tạm đình chỉ cho gia đình người đó tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, lập
biên bản giao người, thông báo và gửi biên bản giao người cho cơ quan thi hành
án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu. Cơ quan
thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh nơi người đó về cư trú, cơ quan thi hành
án hình sự cấp quân khu được giao quản lý, giám sát, giáo dục có trách nhiệm phối
hợp với gia đình của người đó để quản lý, giám sát, giáo dục người được tạm
đình chỉ trong thời gian người đó điều trị tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh. Trường
hợp người được tạm đình chỉ xuất viện thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp
tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu thông báo cho Công an cấp xã,
đơn vị quân đội để quản lý, giám sát, giáo dục.
4. Ngay sau khi tiếp nhận người được tạm đình chỉ, Công
an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục yêu cầu người
đó cam kết bằng văn bản chấp hành nghiêm nghĩa vụ của người được tạm đình chỉ
chấp hành án phạt tù, trừ trường hợp do tình trạng khẩn cấp, lý do bất khả
kháng hoặc trở ngại khách quan.
Trường hợp bàn giao người được tạm đình chỉ tại cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh thì Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý,
giám sát, giáo dục phối hợp với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nơi điều trị, gia
đình người được tạm đình chỉ để yêu cầu người được tạm đình chỉ viết cam kết chấp
hành nghĩa vụ.
Trường hợp người được tạm đình chỉ cố tình không viết cam
kết thì Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục
báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình
sự cấp quân khu để làm thủ tục hủy quyết định tạm đình chỉ.
5. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được
quyết định tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, cơ quan thi hành án hình sự Công
an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu lập hồ sơ thi hành quyết
định tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù và bàn giao cho Công an cấp xã, đơn vị
quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục người được tạm đình chỉ chấp
hành án phạt tù. Hồ sơ bao gồm:
a) Quyết định tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù;
b) Bản sao bản án, quyết định thi hành án;
c) Văn bản đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù; đơn
xin tạm đình chỉ và tài liệu về đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù;
d) Bệnh án hoặc kết luận về tình trạng bệnh của cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh trong trường hợp tạm đình chỉ do bị bệnh nặng;
đ) Tài liệu khác có liên quan.
6. Trong thời gian tạm đình chỉ, người được tạm đình chỉ
không được đi khỏi nơi cư trú nếu không được sự đồng ý của Công an cấp xã, đơn
vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục; báo cáo về tình hình chấp
hành pháp luật theo yêu cầu của Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản
lý, giám sát, giáo dục; phải tự giác trình báo Công an cấp xã, đơn vị quân đội
được giao quản lý, giám sát, giáo dục khi hết thời hạn tạm đình chỉ hoặc khi sức
khỏe hồi phục để tiếp tục chấp hành án.
Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám
sát, giáo dục người được tạm đình chỉ có trách nhiệm quản lý, giám sát, giáo dục
người được tạm đình chỉ, xem xét, giải quyết cho người đó được đi khỏi nơi cư
trú, nơi làm việc; triệu tập người được tạm đình chỉ để yêu cầu báo cáo việc chấp
hành pháp luật trong thời gian tạm đình chỉ; hằng tháng, phải báo cáo cơ quan
thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu
về việc quản lý, giám sát, giáo dục người được tạm đình chỉ.
7. Việc thay đổi nơi cư trú, nơi làm việc của người được
tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù được thực hiện theo quy định tại Điều 66 của
Luật này.
8. Việc tiếp tục thi hành án đối với người được tạm đình
chỉ thực hiện như sau:
a) Hết thời hạn tạm đình chỉ, người được tạm đình chỉ chấp
hành án phạt tù phải trình diện tại Công an cấp xã, đơn vị quân đội để thực hiện
thủ tục đi chấp hành án.
Sau thời hạn 07 ngày kể từ ngày hết thời hạn tạm đình chỉ
chấp hành án phạt tù mà người được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù không có mặt
để làm thủ tục đi chấp hành án thì Trưởng Công an cấp xã, Thủ trưởng cơ quan
thi hành án hình sự cấp quân khu ra quyết định áp giải thi hành án, trừ trường
hợp do tình trạng khẩn cấp, lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan;
b) Đối với người được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù
vì lý do bị bệnh nặng, nếu xét thấy có dấu hiệu phục hồi sức khỏe mà vẫn lấy lý
do về sức khỏe để trốn tránh việc chấp hành án hoặc người được tạm đình chỉ chấp
hành án có dấu hiệu mắc bệnh tâm thần, bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc
khả năng điều khiển hành vi thì Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản
lý, giám sát, giáo dục báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh nơi
người được tạm đình chỉ cư trú, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi
đơn vị được giao quản lý, giám sát, giáo dục người đó để yêu cầu xác định tình
trạng bệnh tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cấp cơ bản trở lên hoặc trưng cầu
giám định pháp y, pháp y tâm thần.
Trường hợp kết quả giám định xác định người được tạm đình
chỉ chấp hành án đã phục hồi sức khỏe thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp
tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu thực hiện việc đưa người đó đến
nơi chấp hành án và thông báo cho Tòa án đã ra quyết định tạm đình chỉ.
Trường hợp kết quả giám định xác định người đó mắc bệnh
tâm thần, bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi
thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp
quân khu đề nghị Tòa án đã ra quyết định tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù để
ra quyết định hủy quyết định tạm đình chỉ và quyết định áp dụng biện pháp tư
pháp bắt buộc chữa bệnh.
Trường hợp hết thời hạn tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù
đối với người đang được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù do bệnh nặng mà bệnh
án của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đang điều trị hoặc kết luận về tình trạng bệnh
của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cấp cơ bản trở lên xác định sức khỏe của họ chưa
phục hồi, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh nơi họ về cư trú, cơ
quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi đơn vị được giao quản lý, giám sát,
giáo dục người đó thông báo bằng văn bản cho Chánh án Tòa án đã ra quyết định tạm
đình chỉ chấp hành án phạt tù xem xét, quyết định việc tiếp tục cho họ được tạm
đình chỉ hoặc không được tiếp tục tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù.
Các loại liệu gửi kèm theo văn bản của cơ quan thi hành
án hình sự Công an cấp tỉnh hoặc cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu gồm:
đơn xin tiếp tục được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù của người được tạm đình
chỉ hoặc gia đình của họ, có xác nhận của Công an cấp xã, đơn vị quân đội được
giao quản lý, giám sát, giáo dục người được tạm đình chỉ; bản sao bệnh án hoặc
kết luận về tình trạng bệnh của người được tạm đình chỉ.
Trường hợp người được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù từ
chối yêu cầu xác định tình trạng bệnh của cơ quan có thẩm quyền mà không có lý
do chính đáng thì Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát,
giáo dục người được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù lập biên bản và báo cáo
cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh nơi họ về cư trú, cơ quan thi hành
án hình sự cấp quân khu nơi đơn vị được giao quản lý, giám sát người đó để đề
nghị Tòa án đã ra quyết định hủy quyết định tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đề nghị, Tòa án phải xem
xét ra quyết định hủy quyết định tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định
hủy quyết định tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, Tòa án phải gửi quyết định đó
cho cá nhân, cơ quan được quy định tại khoản 1 Điều 33 của Luật này. Ngay sau
khi nhận được quyết định của Tòa án, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh,
cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu tổ chức thi hành án.
9. Trong thời gian được tạm đình chỉ, người được tạm đình
chỉ lại thực hiện hành vi phạm tội mới, bỏ trốn hoặc vi phạm pháp luật gây ảnh
hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội thì Công an cấp xã, đơn vị quân
đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục người được tạm đình chỉ báo cáo cơ
quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân
khu để thông báo cho Tòa án đã ra quyết định tạm đình chỉ. Trong thời hạn 03
ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo, Tòa án đã ra quyết định tạm đình
chỉ phải xem xét ra quyết định hủy quyết định tạm đình chỉ và gửi quyết định đó
cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp
quân khu, Viện kiểm sát cùng cấp.
Trường hợp người được tạm đình chỉ bỏ trốn, cơ quan thi
hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu ra
quyết định truy nã và tổ chức truy bắt.
10. Trường hợp người được tạm đình chỉ chết, Công an cấp
xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục người đó báo cáo cơ
quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân
khu để thông báo cho Tòa án đã ra quyết định tạm đình chỉ và Tòa án đã ra quyết
định thi hành án. Trường hợp người được tạm đình chỉ chết khi đang điều trị tại
cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo quy định tại khoản 3 Điều này thì cơ quan thi
hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu
thông báo cho Tòa án đã ra quyết định tạm đình chỉ và Tòa án đã ra quyết định
thi hành án, Viện kiểm sát có thẩm quyền.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được
thông báo, Tòa án đã ra quyết định thi hành án phải ra quyết định đình chỉ thi
hành án và gửi cho cơ quan quy định tại các điểm b, c, d, đ và g khoản 1 Điều
này và Tòa án đã ra quyết định tạm đình chỉ.
Điều 34. Nhiệm
vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã, đơn vị quân đội trong
quản lý, giám sát, giáo dục người được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù
1. Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý, giám sát, giáo dục người
được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù.
2. Công an cấp xã có nhiệm vụ trực tiếp giúp Ủy ban nhân
dân cấp xã quản lý, giám sát, giáo dục người được tạm đình chỉ chấp hành án phạt
tù và có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Tiếp nhận hồ sơ, tổ chức quản lý, giám sát, giáo dục
người được tạm đình chỉ; bổ sung tài liệu trong quá trình quản lý, giám sát,
giáo dục; bàn giao hồ sơ cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh;
b) Yêu cầu người được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù
thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình; có biện pháp giáo dục, phòng ngừa khi người
đó có dấu hiệu vi phạm pháp luật;
c) Giải quyết cho người được tạm đình chỉ chấp hành án phạt
tù được vắng mặt hoặc thay đổi nơi cư trú theo quy định của Luật này và pháp luật
về cư trú;
d) Phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức
thành viên, gia đình và cơ quan, tổ chức nơi người được tạm đình chỉ chấp hành
án phạt tù cư trú trong việc quản lý, giám sát, giáo dục người đó;
d) Báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh
tiến hành trình tự, thủ tục đề nghị Tòa án có thẩm quyền hủy quyết định tạm
đình chỉ chấp hành án phạt tù trong trường hợp người đó lại thực hiện hành vi
phạm tội mới, bỏ trốn hoặc vi phạm pháp luật gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật
tự, an toàn xã hội;
e) Báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh
khi người được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù chết, bỏ trốn, vắng mặt, thay
đổi nơi cư trú khi chưa được sự đồng ý của Công an cấp xã;
g) Hằng tháng, báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công
an cấp tỉnh về việc quản lý, giám sát, giáo dục người được tạm đình chỉ chấp
hành án phạt tù.
3. Trưởng Công an cấp xã có trách nhiệm báo cáo định kỳ
hoặc theo yêu cầu của Ủy ban nhân dân cấp xã về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền
hạn theo quy định tại khoản 2 Điều này.
4. Đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục
người được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại các điểm b và điểm d
khoản 2 Điều này;
b) Tiếp nhận hồ sơ, tổ chức quản lý, giám sát, giáo dục
người được tạm đình chỉ; bổ sung tài liệu trong quá trình quản lý, giám sát,
giáo dục; bàn giao hồ sơ cho cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu;
c) Phối hợp với Công an cấp xã giải quyết người được tạm
đình chỉ chấp hành án phạt tù được vắng mặt hoặc thay đổi nơi cư trú theo quy định
của Luật này và pháp luật về cư trú;
d) Báo cáo cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu tiến
hành trình tự, thủ tục đề nghị Tòa án có thẩm quyền hủy quyết định tạm đình chỉ
chấp hành án phạt tù trong trường hợp người đó lại thực hiện hành vi phạm tội mới,
bỏ trốn hoặc vi phạm pháp luật gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn
xã hội;
đ) Báo cáo cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu khi
người được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù chết, bỏ trốn, vắng mặt, thay đổi
nơi cư trú khi chưa được sự đồng ý của đơn vị quân đội;
e) Hằng tháng, báo cáo cơ quan thi hành án hình sự cấp
quân khu về việc quản lý, giám sát, giáo dục người được tạm đình chỉ chấp hành
án phạt tù.
Điều 35.
Nghĩa vụ của người được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù
1. Có mặt theo giấy triệu tập và cam kết bằng văn bản về
việc chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật.
2. Thực hiện nghiêm chỉnh cam kết trong việc tuân thủ
pháp luật, nghĩa vụ công dân, nội quy, quy chế của nơi cư trú, làm việc.
3. Chấp hành sự quản lý, giám sát, giáo dục của Ủy ban
nhân dân cấp xã, Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát,
giáo dục.
4. Phải có mặt theo yêu cầu của Ủy ban nhân dân cấp xã,
Công an cấp xã hoặc đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục.
5. Báo cáo về tình hình chấp hành pháp luật theo yêu cầu
của Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục.
6. Tự giác trình báo Công an cấp xã, đơn vị quân đội được
giao quản lý, giám sát, giáo dục khi hết thời hạn tạm đình chỉ chấp hành án phạt
tù hoặc khi sức khỏe hồi phục để tiếp tục chấp hành án.
7. Người được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù bị tạm
hoãn xuất cảnh trong thời gian tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù.
Điều 36. Thủ
tục giảm thời hạn chấp hành án phạt tù
1. Cơ quan quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 32
của Luật này có thẩm quyền đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù.
2. Cơ quan có thẩm quyền đề nghị giảm thời hạn chấp hành
án phạt tù có trách nhiệm lập hồ sơ và chuyển cho Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa
án quân sự cấp quân khu nơi phạm nhân đang chấp hành án xem xét, quyết định, đồng
thời gửi 01 bộ hồ sơ đến Viện kiểm sát cùng cấp với Tòa án. Hồ sơ bao gồm:
a) Trích sao bản án; trường hợp xét giảm án từ lần hai
thì trích sao bản án được thay bằng bản sao quyết định thi hành án;
b) Văn bản của cơ quan có thẩm quyền đề nghị giảm thời hạn
chấp hành án phạt tù;
c) Kết quả xếp loại chấp hành án phạt tù theo quý; quyết
định khen thưởng hoặc xác nhận của cơ quan có thẩm quyền về việc phạm nhân lập
công;
d) Kết luận về tình trạng bệnh của cơ sở khám bệnh, chữa
bệnh cấp cơ bản trở lên đối với trường hợp phạm nhân bị bệnh hiểm nghèo hoặc
tài liệu thể hiện phạm nhân là người quá già yếu;
đ) Bản sao quyết định giảm thời hạn chấp hành án phạt tù
đối với trường hợp đã được giảm;
e) Tài liệu chứng minh kết quả bồi thường nghĩa vụ dân sự
và kết quả khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội gây ra của người được đề nghị
giảm thời hạn chấp hành án phạt tù.
3. Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ
sơ đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù, Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh,
Chánh án Tòa án quân sự cấp quân khu nơi phạm nhân đang chấp hành án phân công
01 Thẩm phán chủ trì phiên họp để xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù. Trong
thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải mở phiên họp
xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù và ra quyết định về việc giảm thời hạn
chấp hành án phạt tù; quyết định phải nêu rõ việc chấp nhận hoặc không chấp nhận
giảm thời hạn chấp hành án phạt tù.
Phiên họp phải có sự tham gia của Kiểm sát viên Viện kiểm
sát cùng cấp. Trường hợp hồ sơ phải bổ sung theo yêu cầu của Tòa án thì thời hạn
mở phiên họp được tính từ ngày nhận được hồ sơ bổ sung.
4. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định
về việc giảm thời hạn chấp hành án phạt tù, Tòa án phải gửi quyết định đó cho
người chấp hành án, cơ quan đề nghị giảm thời hạn chấp hành án, Viện kiểm sát
cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp, Tòa án đã ra quyết định thi hành
án, Bộ Ngoại giao trong trường hợp người được giảm thời hạn chấp hành án là người
nước ngoài.
5. Việc xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù được thực
hiện mỗi năm 03 đợt. Người chấp hành án mỗi năm chỉ được xét giảm thời hạn chấp
hành án 01 lần. Trường hợp sau khi được giảm thời hạn chấp hành án mà có lý do
đặc biệt đáng được khoan hồng thêm như đã lập công, đã quá già yếu hoặc bị bệnh
hiểm nghèo thì có thể được xét giảm tiếp nhưng không quá 02 lần trong 01 năm.
Điều 37. Thủ
tục miễn chấp hành án phạt tù
1. Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự
cấp quân khu nơi người chấp hành án phạt tù đang cư trú hoặc làm việc lập hồ sơ
đề nghị Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu xét miễn chấp
hành án phạt tù. Hồ sơ bao gồm:
a) Bản sao bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp
luật;
b) Văn bản đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm
quyền;
c) Đơn xin miễn chấp hành án phạt tù của người bị kết án;
d) Đối với người bị kết án đã lập công hoặc lập công lớn
thì phải có bản tường trình có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền; đối với người
bị kết án bị bệnh hiểm nghèo thì phải có kết luận về tình trạng bệnh của cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh cấp cơ bản trở lên; đối với người bị kết án chấp hành tốt
pháp luật, có hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn thì phải có xác nhận của Ủy
ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú.
2. Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ
sơ đề nghị miễn chấp hành án phạt tù, Chánh án Tòa án có thẩm quyền phân công
01 Thẩm phán chủ trì phiên họp để xét miễn chấp hành án phạt tù. Trong thời hạn
07 ngày kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải mở phiên họp xét miễn chấp
hành án phạt tù và ra quyết định về việc miễn thời hạn chấp hành án phạt tù;
quyết định phải nêu rõ việc chấp nhận hoặc không chấp nhận miễn chấp hành án phạt
tù.
Phiên họp phải có sự tham gia của Kiểm sát viên Viện kiểm
sát cùng cấp. Trường hợp hồ sơ phải bổ sung theo yêu cầu của Tòa án thì thời hạn
mở phiên họp được tính từ ngày nhận được hồ sơ bổ sung.
3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định
về việc miễn chấp hành án phạt tù, Tòa án phải gửi quyết định đó cho người chấp
hành án, Viện kiểm sát đề nghị, Viện kiểm sát cấp trên, cơ quan thi hành án
hình sự Công an cấp tỉnh nơi người được miễn chấp hành án cư trú, cơ quan thi
hành án hình sự cấp quân khu, Tòa án đã ra quyết định thi hành án, Ủy ban nhân
dân cấp xã nơi người được miễn chấp hành án cư trú, đơn vị quân đội được giao
quản lý người đó, Bộ Ngoại giao trong trường hợp người được miễn chấp hành án
là người nước ngoài.
4. Ngay sau khi nhận được quyết định miễn chấp hành án phạt
tù, trại giam, trại tạm giam phải làm thủ tục trả tự do cho người được miễn chấp
hành án và báo cáo kết quả cho cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an,
Bộ Quốc phòng hoặc cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi
hành án hình sự cấp quân khu.
Điều 38. Thực
hiện trích xuất phạm nhân
1. Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng khi có
yêu cầu trích xuất phạm nhân phải gửi văn bản yêu cầu cho cơ quan quản lý thi
hành án hình sự Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, cơ quan thi hành án hình sự Công an
cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi cơ quan, người có thẩm
quyền tiến hành tố tụng có yêu cầu trích xuất để yêu cầu người có thẩm quyền
quy định tại khoản 2 Điều này ra lệnh trích xuất. Khi nhận được yêu cầu trích
xuất phạm nhân, người có thẩm quyền phải ra lệnh trích xuất.
2. Thẩm quyền trích xuất phạm nhân để phục vụ điều tra,
truy tố, xét xử được thực hiện như sau:
a) Thủ trưởng Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Công
an ra lệnh trích xuất đối với phạm nhân đang chấp hành án tại trại giam, trại tạm
giam thuộc Bộ Công an; Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh
ra lệnh trích xuất đối với phạm nhân đang chấp hành án tại trại tạm giam thuộc
Công an cấp tỉnh;
b) Thủ trưởng Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Quốc
phòng ra lệnh trích xuất đối với phạm nhân đang chấp hành án tại trại giam, trại
tạm giam thuộc Bộ Quốc phòng; Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự cấp quân
khu ra lệnh trích xuất đối với phạm nhân đang chấp hành án tại trại tạm giam cấp
quân khu.
3. Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam ra lệnh
trích xuất phạm nhân trong trường hợp sau:
a) Phục vụ yêu cầu quản lý giam giữ, giáo dục cải tạo;
b) Khám bệnh, chữa bệnh hoặc hiến mô, bộ phận cơ thể;
c) Đến khu điều trị tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh để phục
vụ phạm nhân bị bệnh nặng không tự phục vụ bản thân được, chăm sóc con của phạm
nhân đang ở cùng mẹ trong cơ sở giam giữ phạm nhân phải đưa đi khám bệnh, chữa
bệnh tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và tiêm chủng;
d) Phục vụ trưng cầu giám định hoặc tham gia thực hiện
quyền, nghĩa vụ khác của phạm nhân theo quy định của pháp luật.
4. Lệnh trích xuất phạm nhân phải có các nội dung sau
đây:
a) Cơ quan, họ tên, chức vụ, cấp bậc người ra lệnh;
b) Họ tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi cư trú, ngày bị bắt,
tội danh, thời hạn và nơi phạm nhân đang chấp hành án phạt tù;
c) Mục đích và thời hạn trích xuất;
d) Cơ quan, người nhận phạm nhân được trích xuất (nếu
có);
d) Ngày, tháng, năm ra lệnh; chữ ký của người ra lệnh và
đóng dấu.
5. Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam có trách
nhiệm kiểm tra, bàn giao, lập biên bản giao nhận phạm nhân được trích xuất. Trường
hợp thời gian trích xuất bằng thời gian chấp hành án phạt tù còn lại của phạm
nhân được trích xuất thì bàn giao phạm nhân cùng với hồ sơ và giấy tờ, đồ vật,
tiền, tài sản khác (nếu có) của phạm nhân được trích xuất để cơ quan, người có
thẩm quyền nhận phạm nhân trích xuất cấp chứng nhận chấp hành xong án phạt tù
khi hết thời hạn và ghi sổ theo dõi trích xuất.
Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi
hành án hình sự cấp quân khu nơi cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng
có yêu cầu trích xuất có nhiệm vụ tiếp nhận, áp giải, quản lý phạm nhân và hồ
sơ phạm nhân được trích xuất trong thời gian trích xuất.
6. Trường hợp đưa phạm nhân được trích xuất ra khỏi nơi
chấp hành án thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành
án hình sự cấp quân khu tiếp nhận phạm nhân được trích xuất phải bảo đảm chế độ
ăn, ở, sinh hoạt cho người đó theo quy định của pháp luật trong thời gian trích
xuất. Căn cứ lệnh trích xuất, trại tạm giam nơi cơ quan điều tra, truy tố, xét
xử có yêu cầu phải quản lý phạm nhân được trích xuất theo quy định của pháp luật.
7. Trường hợp không đưa phạm nhân được trích xuất ra khỏi
nơi chấp hành án thì trại giam, trại tạm giam bảo đảm chế độ ăn, ở, sinh hoạt
và quản lý phạm nhân đó ngoài thời gian cơ quan, người nhận phạm nhân được
trích xuất làm việc với phạm nhân.
8. Hết thời hạn trích xuất, cơ quan nhận phạm nhân được
trích xuất phải gửi thông báo cho cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Công
an, Bộ Quốc phòng, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi
hành án hình sự cấp quân khu và bàn giao phạm nhân được trích xuất cho trại
giam, trại tạm giam để tiếp tục thi hành án, trừ trường hợp thời hạn trích xuất
bằng thời gian chấp hành án phạt tù còn lại quy định tại khoản 5 Điều này; nếu
có nhu cầu tiếp tục trích xuất thì đề nghị gia hạn trích xuất; thời hạn trích
xuất và gia hạn trích xuất không được kéo dài hơn thời hạn chấp hành án phạt tù
còn lại của phạm nhân.
9. Thời gian trích xuất được tính vào thời hạn chấp hành
án phạt tù, trừ trường hợp phạm nhân đó bỏ trốn trong thời gian được trích xuất.
Đối với phạm nhân được trích xuất không phải với vai trò
bị can, bị cáo thì việc trích xuất không ảnh hưởng đến việc xếp loại chấp hành
án phạt tù, xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù, tha tù trước thời hạn có điều
kiện và xét đặc xá của người được trích xuất.
Điều 39.
Khen thưởng phạm nhân, tập thể tổ, đội phạm nhân
1. Trong thời gian chấp hành án phạt tù, phạm nhân chấp
hành tốt nội quy cơ sở giam giữ phạm nhân, có thành tích trong lao động, học tập
hoặc lập công thì được khen thưởng theo một hoặc nhiều hình thức sau đây:
a) Tặng giấy khen;
b) Biểu dương;
c) Thưởng tiền hoặc hiện vật;
d) Tăng số lần được liên lạc với người thân thích, tăng
thời gian mỗi lần gặp và số lần gặp người thân thích, số lần được nhận quà.
2. Trong thời gian chấp hành án phạt tù, tập thể tổ, đội
phạm nhân chấp hành tốt nội quy cơ sở giam giữ phạm nhân, có thành tích trong
lao động, học tập thì được khen thưởng theo một hoặc nhiều hình thức sau đây:
a) Tặng giấy khen;
b) Biểu dương;
c) Thưởng tiền hoặc hiện vật.
3. Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam thuộc Bộ
Công an, Bộ Quốc phòng, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh,
Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu quyết định khen thưởng phạm
nhân, tập thể tổ, đội phạm nhân. Việc khen thưởng phải bằng văn bản, được lưu
vào hồ sơ phạm nhân. Phạm nhân được khen thưởng có thể được nâng mức xếp loại
chấp hành án phạt tù và được đề nghị xét nâng mức giảm thời hạn chấp hành án phạt
tù theo quy định của pháp luật.
Điều 40. Giải
quyết trường hợp phạm nhân bỏ trốn
1. Khi phạm nhân bỏ trốn, trại giam, trại tạm giam, cơ
quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân
khu phải tổ chức truy bắt ngay, báo cáo cơ quan quản lý thi hành án hình sự và
thông báo cho Viện kiểm sát có thẩm quyền. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi phát
hiện phạm nhân bỏ trốn mà việc truy bắt không có kết quả thì Giám thị trại
giam, Giám thị trại tạm giam thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Thủ trưởng cơ
quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình
sự cấp quân khu phải ra quyết định truy nã và tổ chức truy bắt.
Mọi trường hợp phạm nhân bỏ trốn đều phải được lập biên bản,
áp dụng các biện pháp ngăn chặn, điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật về
hình sự, tố tụng hình sự.
2. Phạm nhân đã bỏ trốn ra đầu thú thì cơ quan tiếp nhận
phạm nhân đầu thú lập biên bản, xử lý theo thẩm quyền hoặc giao phạm nhân đó
cho cơ quan thi hành án hình sự nơi gần nhất để xử lý theo quy định của pháp luật.
Điều 41. Xử
lý phạm nhân vi phạm
1. Phạm nhân vi phạm nội quy cơ sở giam giữ phạm nhân hoặc
có hành vi vi phạm pháp luật thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị kỷ luật
bằng một trong các hình thức sau đây:
a) Khiển trách:
b) Cảnh cáo:
c) Giam tại buồng kỷ luật đến 10 ngày.
2. Trong thời gian bị giam tại buồng kỷ luật, phạm nhân
không được gặp người thân thích và có thể bị cùm 01 chân. Không áp dụng cùm
chân đối với phạm nhân nữ, phạm nhân là người đủ 70 tuổi trở lên, phạm nhân là
người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng.
3. Khi xem xét kỷ luật phạm nhân, Giám thị trại giam,
Giám thị trại tạm giam xét thấy có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ thì có thể
tăng hoặc hạ hình thức kỷ luật hoặc không xử lý kỷ luật mà áp dụng hình thức xử
lý phù hợp.
4. Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam quyết định
kỷ luật phạm nhân bằng văn bản và lưu hồ sơ phạm nhân.
5. Trường hợp hành vi vi phạm của phạm nhân có dấu hiệu của
tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Giám thị trại giam thì Giám thị trại
giam ra quyết định khởi tố vụ án, tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy
định của pháp luật. Trường hợp không thuộc thẩm quyền điều tra của mình thì phải
kiến nghị cơ quan điều tra có thẩm quyền khởi tố theo quy định của pháp luật.
Trường hợp hành vi vi phạm của phạm nhân đang giam giữ tại
trại tạm giam có dấu hiệu của tội phạm thì Giám thị trại tạm giam kiến nghị cơ
quan điều tra có thẩm quyền khởi tố theo quy định của pháp luật.
6. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 42.
Thông báo tình hình chấp hành án; phối hợp với gia đình phạm nhân, cơ quan, tổ
chức, cá nhân tham gia giáo dục cải tạo phạm nhân
1. Định kỳ 06 tháng, trại giam, trại tạm giam có trách
nhiệm thông báo tình hình chấp hành án cho gia đình phạm nhân.
2. Trại giam, trại tạm giam phối hợp với gia đình phạm
nhân, chính quyền địa phương, cơ quan, tổ chức, cá nhân quan tâm động viên phạm
nhân tích cực học tập, lao động, rèn luyện để được hưởng sự khoan hồng của Nhà
nước; hỗ trợ các hoạt động giáo dục, dạy nghề cho phạm nhân và chuẩn bị các điều
kiện cần thiết để phạm nhân tái hòa nhập cộng đồng sau khi chấp hành xong án phạt
tù.
Điều 43. Tái
hòa nhập cộng đồng
1. Trại giam, trại tạm giam có trách nhiệm tổ chức chuẩn
bị tái hòa nhập cộng đồng trước khi phạm nhân chấp hành xong án phạt tù, được đặc
xá, được tha tù trước thời hạn có điều kiện. Nội dung chuẩn bị tái hòa nhập cộng
đồng bao gồm:
a) Tư vấn tâm lý, hỗ trợ các thủ tục pháp lý;
b) Định hướng nghề nghiệp, tìm kiếm việc làm;
c) Hỗ trợ một phần kinh phí từ Quỹ hòa nhập cộng đồng.
2. Kinh phí bảo đảm cho việc thực hiện tái hòa nhập cộng
đồng bao gồm:
a) Kinh phí do ngân sách nhà nước cấp;
b) Quỹ hòa nhập cộng đồng và các quỹ khác theo quy định của
pháp luật;
c) Nguồn đóng góp tự nguyện của cơ quan, tổ chức, cá nhân
và các nguồn thu hợp pháp khác.
3. Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức thực hiện
giúp đỡ người chấp hành xong án phạt tù, người được đặc xá, người được tha tù
trước thời hạn có điều kiện tái hòa nhập cộng đồng bằng các biện pháp sau đây:
a) Thông tin, truyền thông, giáo dục về tái hòa nhập cộng
đồng;
b) Dạy nghề, vay vốn, tìm việc làm;
c) Trợ giúp về tâm lý và hỗ trợ các thủ tục pháp lý;
d) Các biện pháp hỗ trợ khác.
4. Công an cấp xã tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp xã
thực hiện công tác tái hòa nhập cộng đồng đối với người chấp hành xong án phạt
tù, người được đặc xá, người được tha tù trước thời hạn có điều kiện quy định tại
khoản 3 Điều này.
Nhà nước khuyến khích cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân tạo
điều kiện, giúp đỡ người chấp hành xong án phạt tù, người được đặc xá, người được
tha tù trước thời hạn có điều kiện tái hòa nhập cộng đồng bằng các biện pháp
quy định tại khoản 3 Điều này.
5. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 44. Trả
tự do cho phạm nhân
1. 02 tháng trước khi phạm nhân hết thời hạn chấp hành án
phạt tù, trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, cơ quan thi
hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu
thông báo cho Công an cấp xã, Ủy ban nhân dân cấp xã, cơ quan, tổ chức nơi người
chấp hành xong án phạt tù về cư trú, làm việc, Bộ Ngoại giao trong trường hợp
phạm nhân là người nước ngoài. Nội dung thông báo bao gồm kết quả chấp hành án
phạt tù, hình phạt bổ sung mà phạm nhân còn phải chấp hành và thông tin cần thiết
khác có liên quan để xem xét, sắp xếp, tạo lập cuộc sống bình thường cho người
đó.
Trường hợp không xác định được nơi người chấp hành xong
án phạt tù về cư trú thì trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc
phòng, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự
cấp quân khu đề nghị với Ủy ban nhân dân cấp xã nơi phạm nhân chấp hành án hoặc
cơ quan, tổ chức khác để tiếp nhận người chấp hành xong án phạt tù về cư trú.
2. Vào ngày cuối cùng của thời hạn chấp hành án phạt tù,
trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan
thi hành án hình sự cấp quân khu hoàn chỉnh thủ tục theo quy định của pháp luật
để trả tự do cho phạm nhân; cấp chứng nhận chấp hành xong án phạt tù cho người
đã chấp hành xong án phạt tù, cấp khoản tiền từ Quỹ hòa nhập cộng đồng, cấp tiền
tàu xe, tiền ăn trong thời gian đi đường trở về nơi cư trú hoặc nơi làm việc;
trả lại đầy đủ giấy tờ, đồ vật, tiền, tài sản khác mà phạm nhân đã gửi tại nơi
chấp hành án phạt tù quản lý.
3. Trường hợp phạm nhân được trả tự do theo quyết định của
cơ quan có thẩm quyền thì căn cứ quyết định trả tự do, trại giam, trại tạm
giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự
cấp quân khu phải thực hiện ngay thủ tục theo quy định tại khoản 2 Điều này.
4. Trường hợp phạm nhân đang bị áp dụng biện pháp tư pháp
bắt buộc chữa bệnh mà hết thời hạn chấp hành án phạt tù thì trại giam, trại tạm
giam thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh,
cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu đã đề nghị áp dụng biện pháp tư pháp bắt
buộc chữa bệnh phối hợp với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được chỉ định bắt buộc
chữa bệnh cấp chứng nhận chấp hành xong án phạt tù theo quy định khoản 2 Điều
này.
5. Trường hợp phạm nhân được trích xuất để phục vụ điều
tra, truy tố, xét xử mà thời gian trích xuất bằng thời gian chấp hành án phạt
tù còn lại thì cơ quan có thẩm quyền nhận phạm nhân được trích xuất có trách
nhiệm thông báo theo quy định tại khoản 1 Điều này, cấp chứng nhận chấp hành
xong án phạt tù, trả tự do cho người được trích xuất và giải quyết các thủ tục,
nghĩa vụ, quyền, lợi ích có liên quan của người được trích xuất theo quy định tại
khoản 2 Điều này nếu người đó không bị tạm giam về tội khác theo quyết định của
cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
6. Phạm nhân là người nước ngoài đã chấp hành xong án phạt
tù thì được cấp chứng nhận chấp hành xong án phạt tù và phải lưu trú tại cơ sở
lưu trú do Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an chỉ định trong thời
gian chờ làm thủ tục xuất cảnh.
7. Cơ quan đã cấp chứng nhận chấp hành xong án phạt tù có
trách nhiệm gửi chứng nhận đó cho Tòa án đã ra quyết định thi hành án, cơ quan
chịu trách nhiệm thi hành các hình phạt bổ sung, cơ quan được thông báo quy định
tại khoản 1 Điều này và thông báo bằng văn bản cho cơ quan thi hành phần dân sự
trong bản án, quyết định hình sự.
8. Chính phủ quy định chi tiết khoản 2 và khoản 3 Điều
này.
Mục 2
CHẾ ĐỘ ĂN, MẶC, Ở, SINH HOẠT, CHĂM SÓC
Y TẾ
ĐỐI VỚI PHẠM NHÂN
Điều 45. Chế
độ ăn, ở đối với phạm nhân
1. Phạm nhân được bảo đảm tiêu chuẩn định lượng về lương
thực, thực phẩm, nguyên liệu, nhiên liệu phục vụ sinh hoạt để bảo đảm sức khỏe.
Đối với phạm nhân lao động nặng nhọc, độc hại theo quy định của pháp luật thì định
lượng ăn được tăng thêm nhưng không quá 02 lần tiêu chuẩn ăn ngày thường. Ngày
lễ, tết theo quy định của pháp luật, phạm nhân được ăn thêm nhưng mức ăn không
quá 05 lần tiêu chuẩn ăn ngày thường.
Căn cứ yêu cầu bảo đảm sức khỏe của phạm nhân trong quá
trình giam giữ, lao động, học tập tại nơi chấp hành án, Chính phủ quy định cụ
thể định mức ăn phù hợp với điều kiện kinh tế, ngân sách và biến động giá cả thị
trường. Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam có thể quyết định hoán đổi định
lượng ăn cho phù hợp với thực tế để phạm nhân có thể ăn hết tiêu chuẩn.
2. Ngoài tiêu chuẩn ăn quy định tại khoản 1 Điều này, phạm
nhân được sử dụng tiền của mình để mua đồ ăn thêm tại căng tin do cơ sở giam giữ
phạm nhân tổ chức nhưng không quá 05 lần định lượng trong 01 tháng cho mỗi phạm
nhân.
3. Phạm nhân được bảo đảm ăn, uống hợp vệ sinh. Giám thị
trại giam, Giám thị trại tạm giam có trách nhiệm tổ chức bếp ăn cho phạm nhân bảo
đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, đúng định lượng.
Bếp ăn cho phạm nhân được cấp các dụng cụ cần thiết cho
việc nấu ăn, đun nước uống và chia đồ ăn cho phạm nhân theo khẩu phần tiêu chuẩn.
4. Phạm nhân được ở theo buồng giam tập thể, trừ phạm
nhân đang bị giam riêng theo quy định tại các điểm c, d, đ, e khoản 2 và khoản
3 Điều 26 của Luật này. Chỗ nằm tối thiểu của mỗi phạm nhân là 02 m2.
Đối với phạm nhân có con dưới 36 tháng tuổi ở cùng thì được bố trí chỗ nằm tối
thiểu là 03 m2.
5. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 46. Chế
độ mặc và tư trang của phạm nhân
1. Phạm nhân được cấp quần áo theo mẫu thống nhất, khăn mặt,
chăn, chiếu, màn, dép, mũ hoặc nón, xà phòng, kem và bàn chải đánh răng; phạm
nhân nữ được cấp thêm đồ dùng cần thiết cho vệ sinh của phụ nữ. Phạm nhân tham
gia lao động được cấp thêm quần áo để lao động và căn cứ vào điều kiện công việc
cụ thể được cấp dụng cụ bảo hộ lao động cần thiết.
2. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 47. Chế
độ hoạt động thể dục, thể thao, sinh hoạt văn hóa, văn nghệ và sử dụng kinh
sách, bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo của phạm nhân
1. Phạm nhân được hoạt động thể dục, thể thao, sinh hoạt
văn hóa, văn nghệ, đọc sách, báo, nghe đài, xem truyền hình phù hợp với điều kiện
của nơi chấp hành án.
Mỗi phân trại của trại giam có thư viện, khu vui chơi,
sân thể thao, được trang bị một hệ thống truyền thanh nội bộ, mỗi buồng giam tập
thể được trang bị 01 ti vi.
2. Thời gian hoạt động thể dục, thể thao, sinh hoạt văn
hóa, văn nghệ, đọc sách, báo, nghe đài, xem truyền hình của phạm nhân được thực
hiện theo nội quy cơ sở giam giữ phạm nhân.
3. Phạm nhân theo tôn giáo được sử dụng kinh sách xuất bản
dưới hình thức sách in, phát hành hợp pháp và được bày tỏ niềm tin tín ngưỡng,
tôn giáo theo quy định của pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo.
4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 48. Chế
độ đối với phạm nhân nữ có thai, nuôi con dưới 36 tháng tuổi
1. Phạm nhân nữ có thai nếu không được tạm đình chỉ chấp
hành án phạt tù thì được bố trí nơi giam hợp lý, được khám thai định kỳ hoặc đột
xuất, được chăm sóc y tế trong trường hợp cần thiết, được giảm thời gian lao động,
được hưởng chế độ ăn, uống bảo đảm sức khỏe.
2. Phạm nhân nữ có thai được nghỉ lao động trước và sau
khi sinh con theo quy định của pháp luật về lao động. Trong thời gian nghỉ sinh
con, phạm nhân được bảo đảm tiêu chuẩn, định lượng ăn theo chỉ dẫn của y sĩ hoặc
bác sĩ, được cấp phát thực phẩm, đồ dùng cần thiết cho việc chăm sóc trẻ sơ
sinh. Phạm nhân nữ nuôi con dưới 36 tháng tuổi được bố trí thời gian phù hợp để
chăm sóc, nuôi dưỡng con.
3. Trẻ em dưới 36 tháng tuổi, trẻ em từ 36 tháng tuổi trở
lên trong thời gian chờ đưa vào cơ sở trợ giúp xã hội là con của phạm nhân ở
cùng mẹ trong trại giam, trại tạm giam được hưởng chế độ ăn, mặc, ở, cấp phát
nhu yếu phẩm và được chăm sóc y tế, khám chữa bệnh để bảo đảm thực hiện quyền của
trẻ em theo quy định của Luật Trẻ em.
4. Trại giam, trại tạm giam có trách nhiệm làm thủ tục đề
nghị đăng ký khai sinh cho con của phạm nhân, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi phạm
nhân chấp hành án có trách nhiệm đăng ký và cấp giấy khai sinh.
5. Phạm nhân nữ có con từ 36 tháng tuổi trở lên phải gửi
con về cho người thân thích nuôi dưỡng. Trường hợp con của phạm nhân không có
người thân thích nhận nuôi dưỡng thì trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Công an,
Bộ Quốc phòng, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành
án hình sự cấp quân khu phải đề nghị Sở Y tế nơi có cơ sở giam giữ phạm nhân chỉ
định cơ sở trợ giúp xã hội tiếp nhận, nuôi dưỡng. Trong thời hạn 05 ngày làm việc
kể từ ngày nhận được đề nghị, Sở Y tế phải chỉ định cơ sở trợ giúp xã hội có
trách nhiệm tiếp nhận, nuôi dưỡng. Người chấp hành xong án phạt tù được nhận lại
con đang được cơ sở trợ giúp xã hội nuôi dưỡng.
6. Trại giam phải tổ chức nhà trẻ ngoài khu giam giữ để
chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em là con của phạm nhân dưới 36 tháng tuổi và con của
phạm nhân từ 36 tháng tuổi trở lên trong thời gian chờ làm thủ tục đưa vào cơ sở
trợ giúp xã hội.
7. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 49. Chế
độ gặp, nhận quà của phạm nhân
1. Phạm nhân được gặp người thân thích 01 lần trong 01
tháng, mỗi lần gặp không quá 01 giờ. Căn cứ kết quả xếp loại chấp hành án, yêu
cầu giáo dục cải tạo, thành tích lao động, học tập của phạm nhân. Giám thị trại
giam, Giám thị trại tạm giam quyết định kéo dài thời gian gặp người thân thích
nhưng không quá 03 giờ hoặc được gặp vợ, chồng ở phòng riêng không quá 24 giờ.
Phạm nhân được khen thưởng hoặc lập công thì được gặp người thân thích thêm 01
lần trong 01 tháng.
Phạm nhân vi phạm nội quy cơ sở giam giữ phạm nhân thì 02
tháng được gặp người thân thích 01 lần, mỗi lần không quá 01 giờ.
Thời gian gặp người thân thích của phạm nhân được thực hiện
theo giờ làm việc của cơ sở giam giữ phạm nhân trong tất cả các ngày, kể cả
ngày nghỉ, lễ, tết.
2. Trường hợp đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khác
có đề nghị được gặp phạm nhân thì Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam
xem xét, quyết định.
3. Người thân thích, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá
nhân khác quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này được gặp trực tiếp phạm
nhân; trường hợp do tình trạng khẩn cấp, lý do bất khả kháng hoặc trở ngại
khách quan hoặc không thể bố trí gặp trực tiếp thì có thể gặp bằng hình thức trực
tuyến.
Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam quyết định
hình thức gặp người thân thích, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khác.
4. Khi gặp người thân thích, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc
cá nhân khác, phạm nhân được nhận thư, liên, đồ vật, trừ đồ vật thuộc danh mục
đồ vật cấm. Đối với tiền, phạm nhân phải gửi trại giam, trại tạm giam quản lý.
Phạm nhân được nhận quà là tiền và đồ vật qua đường bưu
chính, ngân hàng không quá 02 lần trong 01 tháng.
Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam tổ chức tiếp
nhận, kiểm tra định mức quà là đồ vật, loại bỏ các vật thuộc danh mục đồ vật cấm
và giao đầy đủ cho phạm nhân; kiểm tra, phòng ngừa, ngăn chặn các hành vi chiếm
đoạt quà, đồ dùng cá nhân của phạm nhân.
5. Người thân thích của phạm nhân đến gặp phạm nhân phải
mang theo sổ thăm gặp hoặc hình thức xác nhận khác. Trại giam, trại tạm giam phải
phổ biến cho người thân thích của phạm nhân về quy định gặp phạm nhân; người
thân thích của phạm nhân phải chấp hành các quy định này.
Đối với phạm nhân là người nước ngoài, trường hợp người
thân thích là người nước ngoài thì phải có đơn xin gặp gửi cơ quan quản lý thi
hành án hình sự, đơn phải viết bằng tiếng Việt hoặc được dịch ra tiếng Việt và
có xác nhận của cơ quan đại diện ngoại giao hoặc lãnh sự của nước mà người đó
có quốc tịch hoặc cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế tại Việt Nam nơi người
đó làm việc; trường hợp người thân thích là người Việt Nam thì đơn xin gặp phải
có xác nhận của Công an cấp xã nơi người đó cư trú. Trong thời hạn 10 ngày kể từ
ngày nhận được đơn, cơ quan quản lý thi hành án hình sự có trách nhiệm trả lời
người có đơn; trường hợp đặc biệt có thể kéo dài nhưng thời hạn trả lời không
quá 20 ngày.
Người thân thích của phạm nhân đăng ký gặp tại trại giam,
trại tạm giam hoặc thăm gặp trực tuyến.
6. Trại giam, trại tạm giam bố trí nơi phạm nhân gặp người
thân thích, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khác.
7. Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định
chi tiết Điều này.
Điều 50. Thủ
tục thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự
1. Cơ quan đại diện ngoại giao, lãnh sự nước ngoài có yêu
cầu thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự đối với phạm nhân có quốc tịch nước mình đang chấp
hành án phạt tù tại Việt Nam phải gửi văn bản đề nghị đến Bộ Ngoại giao. Nội
dung văn bản đề nghị bao gồm:
a) Tên cơ quan đại diện ngoại giao, lãnh sự gửi văn bản;
b) Họ tên, quốc tịch phạm nhân cần thăm gặp, tiếp xúc
lãnh sự;
c) Trại giam nơi phạm nhân đang chấp hành án;
d) Họ tên, chức vụ của những người đến thăm gặp, tiếp xúc
lãnh sự;
đ) Họ tên người phiên dịch.
2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được
văn bản đề nghị, Bộ Ngoại giao có trách nhiệm thông báo cho Cơ quan quản lý thi
hành án hình sự Bộ Công an hoặc Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Quốc
phòng. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo, cơ quan
quản lý thi hành án hình sự có thẩm quyền phải trả lời bằng văn bản cho Bộ Ngoại
giao để thông báo cho cơ quan đại diện ngoại giao hoặc lãnh sự đã đề nghị liên
hệ với cơ quan quản lý thi hành án hình sự có thẩm quyền cấp giấy giới thiệu
thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự.
3. Thời gian thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự được thực hiện
trong giờ làm việc, ngày làm việc. Căn cứ kết quả xếp loại chấp hành án, yêu cầu
giáo dục cải tạo, thành tích lao động, học tập của phạm nhân, Giám thị trại
giam quyết định số lần thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự trong tháng và thời gian mỗi
lần thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự.
Trường hợp do tình trạng khẩn cấp, lý do bất khả kháng hoặc
trở ngại khách quan hoặc không thể thu xếp gặp trực tiếp thì phạm nhân có thể
được thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự bằng hình thức trực tuyến.
4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 51. Chế
độ liên lạc của phạm nhân
1. Phạm nhân được gửi mỗi tháng 02 lá thư. Giám thị trại
giam, Giám thị trại tạm giam phải kiểm tra, kiểm duyệt thư mà phạm nhân gửi và
nhận.
2. Phạm nhân được liên lạc điện thoại hoặc kết nối hình ảnh,
âm thanh bằng phương tiện điện tử với người thân thích ở trong nước mỗi tháng
01 lần, mỗi lần không quá 10 phút, trừ trường hợp cấp bách. Giám thị trại giam,
Giám thị trại tạm giam xem xét, quyết định việc cho phạm nhân liên lạc và tổ chức
kiểm soát việc liên lạc.
3. Chi phí cho việc liên lạc của phạm nhân quy định tại
khoản 1 và khoản 2 Điều này do phạm nhân chi trả.
4. Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định
chi tiết Điều này.
Điều 52. Chế
độ chăm sóc y tế đối với phạm nhân
1. Phạm nhân được bảo đảm chăm sóc y tế, chế độ phòng, chống
dịch bệnh. Trại giam, trại tạm giam phối hợp với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cấp
cơ bản trở lên nơi trại giam, trại tạm giam đóng hoặc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
trong Công an nhân dân, Quân đội nhân dân tổ chức khám sức khỏe định kỳ cho phạm
nhân.
2. Phạm nhân bị bệnh, bị thương tích thì được khám bệnh,
chữa bệnh và điều trị tại bệnh xá của trại giam, trại tạm giam hoặc tại cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh của Nhà nước nơi gần nhất. Trường hợp phạm nhân bị bệnh nặng
hoặc thương tích vượt quá khả năng điều trị của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đó
thì trại giam, trại tạm giam phối hợp với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đang điều
trị phạm nhân giới thiệu, chuyển phạm nhân đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác
phù hợp tình trạng bệnh để điều trị; trại giam, trại tạm giam phải thông báo
cho gia đình hoặc đại diện của người đó biết để phối hợp chăm sóc, điều trị. Chế
độ ăn, cấp phát thuốc, bồi dưỡng cho phạm nhân do cơ sở khám bệnh, chữa bệnh chỉ
định.
Trại giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh,
cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu phối hợp với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
nhà nước, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trong Công an nhân dân, Quân đội nhân dân
xây dựng hoặc bố trí một số buồng riêng trong cơ sở khám bệnh, chữa bệnh để điều
trị cho phạm nhân. Việc quản lý, giám sát phạm nhân trong thời gian điều trị tại
cơ sở khám bệnh, chữa bệnh do trại giam, trại tạm giam chịu trách nhiệm.
3. Đối với phạm nhân có dấu hiệu mắc bệnh tâm thần, bệnh
khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi, trại giam, trại
tạm giam thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp
tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu đề nghị Tòa án nhân dân khu vực,
Tòa án quân sự cấp quân khu nơi phạm nhân đang chấp hành án phạt tù trưng cầu
giám định pháp y, pháp y tâm thần. Khi có kết luận giám định là người đó mắc bệnh
tâm thần, bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi
thì Chánh án Tòa án nhân dân khu vực, Chánh án Tòa án quân sự cấp quân khu nơi
phạm nhân chấp hành án ra quyết định tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù và quyết
định áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh đối với người đó.
Việc quản lý, tổ chức điều trị bệnh cho người bị áp dụng
biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh được thực hiện theo quy định tại Chương IX
của Luật này.
4. Phạm nhân nghiện ma túy được trại giam phối hợp với
các đơn vị chức năng liên quan tổ chức cai nghiện.
5. Kinh phí phòng, chống dịch bệnh, khám bệnh, chữa bệnh,
tổ chức cai nghiện ma túy và kinh phí xây dựng, bố trí các buồng chữa bệnh dành
cho phạm nhân tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh do Nhà nước cấp. Đối với trường
hợp phạm nhân có thẻ bảo hiểm y tế thì tiếp tục được hưởng quyền lợi về bảo hiểm
y tế theo quy định, nếu vượt quá định mức chi trả của bảo hiểm y tế thì Nhà nước
chi trả phần vượt quá.
6. Phạm nhân được nhận và sử dụng các loại thuốc phòng bệnh,
chữa bệnh theo chỉ định của bác sĩ, y sĩ tại cơ sở giam giữ phạm nhân hoặc tại
cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nơi đã được khám và điều trị bệnh khi được sự đồng ý
của Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam.
7. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 53. Giải
quyết trường hợp phạm nhân có nguyện vọng hiến mô, bộ phận cơ thể người
1. Phạm nhân được hiến mô, bộ phận cơ thể khi bảo đảm đủ
các điều kiện sau:
a) Tự nguyện hiến mô, bộ phận cơ thể;
b) Hiến mô, bộ phận cơ thể cho người thân thích của phạm
nhân;
c) Đủ điều kiện sức khỏe để hiến mô, bộ phận cơ thể và bảo
đảm sức khỏe để tiếp tục chấp hành án sau khi hiến mô, bộ phận cơ thể;
d) Tự chịu các chi phí hiến mô, bộ phận cơ thể và chăm
sóc sức khỏe bản thân sau khi hiến mô, bộ phận cơ thể;
đ) Là người bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội
phạm nghiêm trọng thuộc trường hợp phạm tội lần đầu và thời gian chấp hành án
còn lại dưới 03 năm.
2. Chính phủ quy định chi tiết trình tự, thủ tục giải quyết
trường hợp phạm nhân có nguyện vọng hiến mô, bộ phận cơ thể.
Điều 54. Thủ
tục giải quyết trường hợp phạm nhân, con của phạm nhân ở cùng mẹ chết
1. Khi phạm nhân, con của phạm nhân ở cùng mẹ chết tại trại
giam, trại tạm giam, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Nhà nước thì cơ quan, tổ chức
đó có trách nhiệm báo ngay cho cơ quan điều tra và Viện kiểm sát nhân dân khu vực,
cơ quan điều tra và Viện kiểm sát quân sự khu vực nơi có phạm nhân, con của phạm
nhân ở cùng mẹ chết để xác định nguyên nhân. Trại giam, trại tạm giam có trách
nhiệm làm thủ tục đăng ký khai tử tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi trại giam, trại
tạm giam đóng và thông báo cho gia đình hoặc đại diện của người chết trước khi
làm thủ tục mai táng. Trường hợp phạm nhân, con của phạm nhân ở cùng mẹ chết ở
cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thì cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đó gửi giấy báo tử
cho trại giam, trại tạm giam.
Trường hợp phạm nhân, con của phạm nhân ở cùng mẹ là người
nước ngoài chết, Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam phải báo ngay cho
cơ quan điều tra và Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, cơ quan điều tra và Viện
kiểm sát quân sự cấp quân khu nơi có phạm nhân, con của phạm nhân ở cùng mẹ
trong trại giam, trại tạm giam chết để xác định nguyên nhân; đồng thời báo cáo
cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an hoặc cơ quan quản lý thi hành án
hình sự Bộ Quốc phòng, Bộ Ngoại giao để thông báo cho cơ quan đại diện ngoại
giao hoặc lãnh sự của nước mà người đó có quốc tịch. Sau khi được cơ quan có thẩm
quyền cho phép, trại giam, trại tạm giam có trách nhiệm tổ chức mai táng.
Đối với trường hợp không xác định được quốc tịch của người
chết thì giải quyết như đối với phạm nhân, con của phạm nhân ở cùng mẹ trong cơ
sở giam giữ là người Việt Nam chết.
2. Khi cơ quan có thẩm quyền cho phép làm các thủ tục mai
táng người chết thì trại giam, trại tạm giam có trách nhiệm thông báo về việc
mai táng cho gia đình hoặc người đại diện của người chết. Trường hợp gia đình của
người chết có đơn đề nghị thì bàn giao tử thi đó cho họ, trừ trường hợp có căn
cứ cho rằng việc đó ảnh hưởng đến an ninh trật tự và vệ sinh môi trường. Sau thời
hạn 48 giờ kể từ khi thông báo mà họ không nhận thì trại giam, trại tạm giam tổ
chức mai táng theo quy định của pháp luật và thông báo cho Tòa án đã ra quyết định
thi hành án. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo,
Tòa án đã ra quyết định thi hành án phải ra quyết định đình chỉ việc chấp hành
án phạt tù và gửi cho gia đình của người chết, trại giam, trại tạm giam nơi phạm
nhân chết, Viện kiểm sát có thẩm quyền.
Ủy ban nhân dân cấp xã nơi trại giam, trại tạm giam đóng
có phạm nhân, con của phạm nhân ở cùng mẹ chết có trách nhiệm phối hợp với trại
giam, trại tạm giam trong việc mai táng và quản lý mộ của phạm nhân, con của phạm
nhân ở cùng mẹ. Kinh phí cho việc mai táng được Nhà nước cấp.
Trường hợp phạm nhân, con của phạm nhân ở cùng mẹ là người
nước ngoài chết, trong thời hạn 48 giờ kể từ khi thông báo về phạm nhân, con của
phạm nhân ở cùng mẹ chết, nếu cơ quan đại diện ngoại giao hoặc lãnh sự của nước
mà người đó có quốc tịch không đề nghị nhận tử thi thì trại giam, trại tạm giam
tổ chức mai táng.
3. Trường hợp gia đình hoặc đại diện của người chết có
đơn đề nghị được nhận tử thi, tro cốt hoặc hài cốt của người chết và tự chịu
chi phí thì trại giam, trại tạm giam có thể xem xét, giải quyết, trừ trường hợp
có căn cứ cho rằng việc đó ảnh hưởng đến an ninh, trật tự và vệ sinh môi trường.
Việc nhận hài cốt chỉ
được giải quyết sau thời hạn 03 năm kể từ ngày mai táng.
Trường hợp phạm nhân, con của phạm nhân ở cùng mẹ là người nước ngoài thì việc
nhận tử thi hoặc hài cốt phải được cơ quan quản lý thi hành án hình sự xem xét,
quyết định.
4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Mục 3
THA TÙ TRƯỚC THỜI HẠN CÓ ĐIỀU KIỆN
Điều 55. Thời
điểm xét tha tù trước thời hạn có điều kiện
Việc xét tha tù trước thời hạn có điều kiện được thực hiện
mỗi năm 03 đợt vào thời điểm kết thúc xếp loại quý I, kết thúc xếp loại quý II
và kết thúc xếp loại quý IV.
Điều 56. Hồ
sơ đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện
1. Trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc
phòng, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự
cấp quân khu có trách nhiệm lập hồ sơ đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện
và chuyển cho Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân
khu, Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu nơi phạm nhân đang
chấp hành án phạt tù.
2. Hồ sơ đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện bao gồm:
a) Đơn xin tha tù trước thời hạn có điều kiện của phạm
nhân kèm theo cam kết không vi phạm pháp luật, các nghĩa vụ phải chấp hành khi
được tha tù trước thời hạn;
b) Bản sao bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp
luật; quyết định thi hành án;
c) Tài liệu thể hiện phạm nhân có nhiều tiến bộ, có ý thức
cải tạo tốt là các quyết định hoặc bản sao quyết định xếp loại chấp hành án phạt
tù;
d) Bản sao quyết định giảm thời hạn chấp hành án phạt tù
đối với người bị kết án về tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng hoặc
tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;
d) Văn bản, tài liệu thể hiện việc chấp hành xong hình phạt
bổ sung là hình phạt tiền, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại, án phí;
e) Tài liệu để xác định thời gian thực tế đã chấp hành án
phạt tù;
g) Trường hợp phạm nhân là người có công với cách mạng hoặc
thân nhân của người có công với cách mạng, người từ đủ 70 tuổi trở lên, người
khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng, phụ nữ đang nuôi con dưới 36
tháng tuổi thì phải có tài liệu chứng minh;
h) Văn bản đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện của
trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, cơ quan thi hành án
hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu.
3. Người đã được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù được bảo
lưu kết quả xếp loại chấp hành án phạt tù và được tính liên tục liền kề với thời
gian sau khi trở lại tiếp tục chấp hành án; nếu được Công an cấp xã, đơn vị
quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục xác nhận họ chấp hành nghiêm chỉnh
các quy định của pháp luật và có đủ các điều kiện theo quy định thì có thể được
xem xét, đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện.
Người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh được
bảo lưu kết quả xếp loại chấp hành án phạt tù và được tính liên tục liền kề với
thời gian sau khi trở lại tiếp tục chấp hành án; được xem xét, đề nghị tha tù
trước thời hạn có điều kiện nếu họ có đủ điều kiện theo quy định.
4. Trường hợp phạm nhân được trích xuất để phục vụ điều
tra, truy tố, xét xử nhưng không thuộc trường hợp đang bị truy cứu trách nhiệm
hình sự về hành vi phạm tội khác thì trại giam, trại tạm giam nơi nhận phạm
nhân trích xuất có văn bản đề nghị trại giam, trại tạm giam nơi đang quản lý hồ
sơ phạm nhân xem xét, lập hồ sơ đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện nếu
họ có đủ điều kiện theo quy định.
Điều 57. Thi
hành quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện
1. Ngay sau khi nhận được quyết định tha tù trước thời hạn
có điều kiện, trại giam, trại tạm giam phải niêm yết danh sách phạm nhân được
tha tù trước thời hạn có điều kiện tại cơ sở giam giữ phạm nhân. Ngay sau khi
quyết định tha tù trước thời hạn có hiệu lực pháp luật, trại giam, trại tạm
giam cấp chứng nhận tha tù trước thời hạn có điều kiện và tha phạm nhân. Thời
gian thử thách được tính từ ngày quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện
có hiệu lực pháp luật.
Trại giam, trại tạm giam có trách nhiệm bàn giao hồ sơ phạm
nhân cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh nơi người được tha tù trước
thời hạn có điều kiện về cư trú, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu.
2. Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh nơi người
được tha tù trước thời hạn có điều kiện về cư trú, cơ quan thi hành án hình sự
cấp quân khu tiếp nhận, quản lý hồ sơ phạm nhân; lập hồ sơ quản lý người được
tha tù trước thời hạn có điều kiện, giao cho Công an cấp xã, đơn vị quân đội để
tổ chức quản lý, giám sát, giáo dục.
Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày được tha tù trước thời
hạn có điều kiện, người được tha tù trước thời hạn có điều kiện phải trình diện
Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục để cam kết
chấp hành nghĩa vụ, trừ trường hợp do tình trạng khẩn cấp, lý do bất khả kháng
hoặc trở ngại khách quan. Trường hợp hết thời hạn 05 ngày mà người được tha tù
trước thời hạn có điều kiện không trình diện, Công an cấp xã, đơn vị quân đội
triệu tập người đó đến trụ sở để cam kết việc chấp hành nghĩa vụ. Trường hợp
người đó không có mặt theo đúng thời hạn triệu tập hoặc không cam kết thì Công
an cấp xã, đơn vị quân đội lập biên bản vi phạm nghĩa vụ.
Công an cấp xã, đơn vị quân đội báo cáo cơ quan thi hành
án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu kết quả
việc trình diện và cam kết của người được tha tù trước thời hạn có điều kiện.
3. Trường hợp người được tha tù trước thời hạn có điều kiện
do quân đội quản lý nhưng sau đó không còn phục vụ trong quân đội thì cơ quan
thi hành án hình sự cấp quân khu bàn giao người đó kèm theo hồ sơ phạm nhân, hồ
sơ quản lý cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh nơi người đó về cư
trú để tiếp tục thi hành án và giao cho Công an cấp xã để quản lý, giám sát,
giáo dục.
4. Cấp chứng nhận chấp hành xong án phạt tù cho người được
tha tù trước thời hạn có điều kiện như sau:
a) 03 ngày trước khi hết thời hạn thử thách hoặc ngay sau
khi nhận được quyết định rút ngắn hết thời gian thử thách tha tù trước thời hạn
có điều kiện, Công an cấp xã, đơn vị quân đội bàn giao hồ sơ quản lý cho cơ
quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân
khu nơi quản lý người được tha tù trước thời hạn có điều kiện. Việc giao nhận hồ
sơ được lập thành biên bản và lưu hồ sơ phạm nhân.
Vào ngày cuối cùng của thời gian thử thách hoặc ngày quyết
định rút ngắn hết thời gian thử thách có hiệu lực pháp luật, cơ quan thi hành
án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu có trách
nhiệm cấp chứng nhận chấp hành xong án phạt tù cho họ và gửi cho Viện kiểm sát
có thẩm quyền, Tòa án đã ra quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện, Tòa
án đã ra quyết định thi hành án, trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án
hình sự cấp quân khu nơi người đó đã chấp hành án, Công an cấp xã nơi người đó
cư trú;
b) Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan
thi hành án hình sự cấp quân khu chưa cấp chứng nhận chấp hành xong án phạt tù
nếu người được tha tù trước thời hạn có điều kiện vi phạm pháp luật trong thời
gian thử thách bị khởi tố bị can hoặc đang bị đề nghị hủy quyết định tha tù trước
thời hạn có điều kiện.
Ngay sau khi nhận được quyết định của cơ quan có thẩm quyền
xác định người được tha tù trước thời hạn có điều kiện không vi phạm pháp luật
hình sự hoặc Tòa án không chấp nhận đề nghị hủy quyết định tha tù trước thời hạn
có điều kiện thì thực hiện cấp chứng nhận chấp hành xong án phạt tù cho người
được tha tù trước thời hạn có điều kiện.
5. Trường hợp người được tha tù trước thời hạn có điều kiện
chết, Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục người
đó báo cáo và bàn giao hồ sơ quản lý cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp
tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu để thông báo cho Tòa án đã ra
quyết định thi hành án và Tòa án đã ra quyết định tha tù trước thời hạn có điều
kiện.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được
thông báo, Tòa án đã ra quyết định thi hành án phải ra quyết định đình chỉ thi
hành án và gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp, cơ quan thi hành án hình sự Công an
cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu, Công an cấp xã, đơn vị quân
đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục người đó.
Điều 58. Hồ
sơ quản lý người được tha tù trước thời hạn có điều kiện
1. Hồ sơ quản lý người được tha tù trước thời hạn có điều
kiện do cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình
sự cấp quân khu lập bao gồm:
a) Bản sao bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp
luật; quyết định thi hành án;
b) Quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện;
c) Chứng nhận tha tù trước thời hạn có điều kiện;
d) Bản nhận xét quá trình chấp hành án phạt tù của người
được tha tù trước thời hạn có điều kiện;
đ) Cam kết của người được tha tù trước thời hạn có điều
kiện;
e) Phiếu thông tin của người được tha tù trước thời hạn
có điều kiện;
g) Tài liệu khác có liên quan.
2. Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý,
giám sát, giáo dục người được tha tù trước thời hạn có điều kiện có trách nhiệm
tiếp nhận và bổ sung vào hồ sơ quản lý các tài liệu sau đây:
a) Bản nhận xét của Công an cấp xã, đơn vị quân đội được
giao quản lý, giám sát, giáo dục người được tha tù trước thời hạn có điều kiện;
b) Báo cáo của người được tha tù trước thời hạn có điều
kiện về việc thực hiện nghĩa vụ;
c) Trường hợp người được tha tù trước thời hạn có điều kiện
bị kiểm điểm theo quy định tại Điều 64 của Luật này thì phải có bản kiểm điểm,
biên bản cuộc họp kiểm điểm và tài liệu có liên quan;
d) Trường hợp người được tha tù trước thời hạn có điều kiện
được rút ngắn thời gian thử thách thì phải có quyết định của Tòa án;
đ) Tài liệu khác có liên quan.
Điều 59. Nhiệm
vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã, đơn vị quân đội được
giao quản lý, giám sát, giáo dục người được tha tù trước thời hạn có điều kiện
1. Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý, giám sát, giáo dục người
được tha tù trước thời hạn có điều kiện.
2. Công an cấp xã có nhiệm vụ trực tiếp giúp Ủy ban nhân
dân cấp xã quản lý, giám sát, giáo dục người được tha tù trước thời hạn có điều
kiện và có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Tiếp nhận hồ sơ, quản lý, giám sát, giáo dục người được
tha tù trước thời hạn có điều kiện; bàn giao hồ sơ cho cơ quan thi hành án hình
sự có thẩm quyền theo quy định của Luật này;
b) Yêu cầu người được tha tù trước thời hạn có điều kiện
thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình; có biện pháp giáo dục, phòng ngừa khi người
đó có dấu hiệu vi phạm pháp luật;
c) Biểu dương người được tha tù trước thời hạn có điều kiện
có nhiều tiến bộ hoặc lập công;
d) Giải quyết cho người được tha tù trước thời hạn có điều
kiện được vắng mặt ở nơi cư trú hoặc thay đổi nơi cư trú theo quy định của Luật
này và pháp luật về cư trú, được ra khỏi nơi cư trú để làm việc, học tập;
đ) Phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức
thành viên, gia đình và cơ quan, tổ chức nơi người được tha tù trước thời hạn
có điều kiện làm việc, học tập trong việc quản lý, giám sát, giáo dục người đó;
e) Lập hồ sơ, báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an
cấp tỉnh đề nghị Tòa án có thẩm quyền xem xét, quyết định rút ngắn thời gian thử
thách;
g) Báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh
tiến hành trình tự, thủ tục đề nghị Tòa án có thẩm quyền hủy quyết định tha tù
trước thời hạn có điều kiện và buộc người được tha tù trước thời hạn có điều kiện
phải chấp hành phần hình phạt tù còn lại chưa chấp hành trong trường hợp người
đó vi phạm quy định tại khoản 4 Điều 66 của Bộ luật Hình sự;
h) Báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh
khi người được tha tù trước thời hạn có điều kiện bỏ trốn;
i) Nhận xét bằng văn bản quá trình chấp hành nghĩa vụ
trong thời gian thử thách của người được tha tù trước thời hạn có điều kiện;
k) Báo cáo cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền về kết
quả quản lý, giám sát, giáo dục người được tha tù trước thời hạn có điều kiện
trong thời gian thử thách.
3. Trưởng Công an cấp xã có trách nhiệm báo cáo định kỳ
hoặc theo yêu cầu của Ủy ban nhân dân cấp xã về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền
hạn theo quy định tại khoản 2 Điều này.
4. Đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục
người được tha tù trước thời hạn có điều kiện có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại các điểm a, b, c, i
và k khoản 2 Điều này;
b) Phối hợp với Công an cấp xã giải quyết cho người được
tha tù trước thời hạn có điều kiện được vắng mặt ở nơi cư trú hoặc thay đổi nơi
cư trú theo quy định của Luật này và pháp luật về cư trú;
c) Phối hợp với gia đình của người được tha tù trước thời
hạn có điều kiện trong việc quản lý người đó:
d) Lập hồ sơ, báo cáo cơ quan thi hành án hình sự cấp
quân khu đề nghị Tòa án có thẩm quyền xem xét, quyết định rút ngắn thời gian thử
thách;
đ) Báo cáo cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu tiến
hành trình tự, thủ tục đề nghị Tòa án có thẩm quyền hủy quyết định tha tù trước
thời hạn có điều kiện và buộc người được tha tù trước thời hạn có điều kiện phải
chấp hành phần hình phạt tù còn lại chưa chấp hành trong trường hợp người đó vi
phạm quy định tại khoản 4 Điều 66 của Bộ luật Hình sự;
e) Báo cáo cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu khi
người được tha tù trước thời hạn có điều kiện bỏ trốn.
Điều 60.
Nghĩa vụ của người được tha tù trước thời hạn có điều kiện
1. Thực hiện nghiêm chỉnh cam kết trong việc tuân thủ
pháp luật, nghĩa vụ công dân, nội quy, quy chế của nơi cư trú, nơi làm việc, học
tập.
2. Trình diện và cam kết theo quy định tại khoản 2 Điều
57 của Luật này.
3. Chấp hành sự quản lý, giám sát, giáo dục của Ủy ban
nhân dân cấp xã, Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát,
giáo dục và chỉ được cư trú trên địa bàn cấp xã theo quyết định của Tòa án có
thẩm quyền, trừ trường hợp quy định tại Điều 65 và Điều 67 của Luật này.
4. Chấp hành quy định tại Điều 65 và Điều 67 của Luật
này.
5. Phải có mặt theo yêu cầu của Ủy ban nhân dân cấp xã,
Công an cấp xã hoặc đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục.
6. Hằng tháng, phải trình diện và báo cáo bằng văn bản với
Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục về tình
hình chấp hành nghĩa vụ của mình. Trường hợp vắng mặt theo quy định tại khoản 1
Điều 65 và Điều 67 của Luật này thì khi hết thời hạn vắng mặt, người được tha
tù trước thời hạn có điều kiện phải báo cáo về tình hình chấp hành nghĩa vụ của
mình.
Điều 61. Việc
lao động, học tập của người được tha tù trước thời hạn có điều kiện
1. Người được tha tù trước thời hạn có điều kiện nếu được
tiếp tục làm việc tại cơ quan, tổ chức, đơn vị thì được hưởng tiền lương và chế
độ khác phù hợp với công việc đảm nhiệm, được tính vào thời gian công tác theo
quy định của pháp luật.
2. Người được tha tù trước thời hạn có điều kiện được cơ
sở giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp tiếp nhận học tập thì được hưởng
quyền lợi theo quy định của pháp luật.
3. Người được tha tù trước thời hạn có điều kiện không
thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì được Ủy ban nhân
dân cấp xã tạo điều kiện tìm việc làm.
Điều 62. Rút
ngắn thời gian thử thách đối với người được tha tù trước thời hạn có điều kiện
1. Người được tha tù trước thời hạn có điều kiện được đề
nghị rút ngắn thời gian thử thách khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Đã chấp hành được một phần hai thời gian thử thách;
b) Có nhiều tiến bộ trong thời gian thử thách;
c) Có đơn đề nghị rút ngắn thời gian thử thách tha tù trước
thời hạn có điều kiện.
2. Người được tha tù trước thời hạn có điều kiện mỗi năm
có thể được rút ngắn thời gian thử thách 01 lần từ 03 tháng đến 02 năm. Trường
hợp thời gian thử thách của người được tha tù trước thời hạn có điều kiện còn lại
dưới 03 tháng thì Tòa án có thể quyết định rút ngắn hết thời gian thử thách còn
lại.
Người được tha tù trước thời hạn có điều kiện có thể được
rút ngắn thời gian thử thách nhiều lần, nhưng phải bảo đảm thực tế đã chấp hành
ít nhất ba phần tư thời gian thử thách, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều
này.
3. Trường hợp người được tha tù trước thời hạn có điều kiện
là người đã lập công, người đã quá già yếu hoặc người bị bệnh hiểm nghèo và có
đủ điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này thì Tòa án có thể rút ngắn hết thời
gian thử thách còn lại.
Điều 63. Thủ
tục rút ngắn thời gian thử thách đối với người được tha tù trước thời hạn có điều
kiện
1. Việc rút ngắn thời gian thử thách đối với người được
tha tù trước thời hạn có điều kiện được thực hiện mỗi năm 03 đợt, vào dịp tết
Dương lịch, ngày Chiến thắng và Quốc khánh.
2. Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý,
giám sát, giáo dục người được tha tù trước thời hạn có điều kiện có trách nhiệm
rà soát lập danh sách người đủ điều kiện theo quy định của Bộ luật Hình sự, lập
hồ sơ và có báo cáo đề nghị rút ngắn thời gian thử thách gửi cơ quan thi hành
án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu.
3. Trong thời hạn 07 ngày kể từ khi nhận được hồ sơ và
báo cáo đề nghị của Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám
sát, giáo dục người được tha tù trước thời hạn có điều kiện, cơ quan thi hành
án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu xem xét,
có văn bản đề nghị rút ngắn thời gian thử thách đối với người được tha tù trước
thời hạn có điều kiện gửi Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu
nơi người đó cư trú xem xét, quyết định, đồng thời gửi Viện kiểm sát cùng cấp với
Tòa án.
Trường hợp xét thấy không đủ điều kiện lập hồ sơ rút ngắn
thời gian thử thách, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi
hành án hình sự cấp quân khu có văn bản thông báo cho Công an cấp xã, đơn vị
quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục.
4. Hồ sơ đề nghị rút ngắn thời gian thử thách bao gồm:
a) Văn bản đề nghị rút ngắn thời gian thử thách của cơ
quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân
khu kèm theo tài liệu thể hiện người được tha tù trước thời hạn có điều kiện có
nhiều tiến bộ trong thời gian thử thách;
b) Đơn đề nghị rút ngắn thời gian thử thách của người được
tha tù trước thời hạn có điều kiện;
c) Bản sao quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện;
d) Bản sao bản án. Đối với trường hợp xét rút ngắn thời
gian thử thách từ lần thứ hai thì bản sao bản án được thay bằng bản sao quyết định
thi hành án phạt tù;
đ) Trường hợp người được tha tù trước thời hạn có điều kiện
lập công được khen thưởng thì hồ sơ phải có quyết định khen thưởng hoặc xác nhận
của cơ quan có thẩm quyền về việc người đó lập công; trường hợp người được tha
tù trước thời hạn có điều kiện bị bệnh hiểm nghèo thì phải có kết luận hoặc xác
nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đang điều trị hoặc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
cấp cơ bản trở lên về tình trạng bệnh của họ;
e) Trường hợp người được tha tù trước thời hạn có điều kiện
đã được rút ngắn thời gian thử thách thì phải có bản sao quyết định rút ngắn thời
gian thử thách;
g) Tài liệu khác có liên quan.
5. Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ
sơ và văn bản đề nghị của cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan
thi hành án hình sự cấp quân khu, Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Chánh án
Tòa án quân sự cấp quân khu nơi người được tha tù trước thời hạn có điều kiện
cư trú, làm việc phân công 01 Thẩm phán chủ trì phiên họp để xét rút ngắn thời
gian thử thách. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày được phân công, Thẩm
phán phải mở phiên họp xét rút ngắn thời gian thử thách và ra quyết định về việc
rút ngắn thời gian thử thách; quyết định phải nêu rõ việc chấp nhận hoặc không
chấp nhận rút ngắn thời gian thử thách đối với người được tha tù trước thời hạn
có điều kiện.
Phiên họp phải có sự tham gia của Kiểm sát viên Viện kiểm
sát cùng cấp. Trường hợp hồ sơ phải bổ sung theo yêu cầu của Tòa án thì thời hạn
mở phiên họp được tính từ ngày nhận được hồ sơ bổ sung.
6. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định
về việc rút ngắn thời gian thử thách, Tòa án phải gửi quyết định đó cho người
chấp hành án, Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp, cơ quan
đề nghị rút ngắn thời gian thử thách, Tòa án đã ra quyết định tha tù trước thời
hạn có điều kiện, Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát,
giáo dục.
Điều 64. Việc
kiểm điểm người được tha tù trước thời hạn có điều kiện
1. Trong thời gian thử thách, người được tha tù trước thời
hạn có điều kiện vi phạm lần đầu nghĩa vụ quy định tại Điều 60 của Luật này hoặc
đã bị xử phạt vi phạm hành chính lần đầu thì Công an cấp xã được giao quản lý,
giám sát, giáo dục phải phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã, cơ quan, tổ chức,
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở cơ sở tổ chức họp tại cộng đồng dân cư nơi người được
tha tù trước thời hạn có điều kiện cư trú để kiểm điểm người đó; trường hợp người
được tha tù trước thời hạn có điều kiện đang làm việc tại đơn vị quân đội thì
việc kiểm điểm được thực hiện tại đơn vị quân đội nơi người đó làm việc.
Trường hợp người được tha tù trước thời hạn có điều kiện
không có mặt để kiểm điểm theo đúng thời hạn triệu tập mà không có lý do chính
đáng thì tiến hành lập biên bản vi phạm nghĩa vụ.
2. Việc kiểm điểm phải được lập thành biên bản, lưu hồ sơ
quản lý người được tha tù trước thời hạn có điều kiện và báo cáo cơ quan thi
hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu.
Điều 65. Giải
quyết việc vắng mặt tại nơi cư trú của người được tha tù trước thời hạn có điều
kiện
1. Người được tha tù trước thời hạn có điều kiện có thể vắng
mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định tại
khoản 2 Điều này, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật
về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú được tính vào thời gian thử thách
nhưng mỗi lần không quá 30 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú
không được vượt quá một phần ba thời gian thử thách, trừ trường hợp quy định tại
Điều 66 của Luật này hoặc trường hợp người được tha tù trước thời hạn có điều
kiện bị bệnh phải điều trị tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo chỉ định của bác
sĩ và có xác nhận điều trị của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đó.
2. Người được tha tù trước thời hạn có điều kiện khi vắng
mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép gửi Công an cấp xã, đơn vị quân đội được
giao quản lý, giám sát, giáo dục. Trường hợp do tình trạng khẩn cấp, lý do bất
khả kháng hoặc trở ngại khách quan mà vắng mặt tại nơi cư trú, người được tha
tù trước thời hạn có điều kiện phải có đơn xin phép ngay sau khi không còn lý
do vắng mặt.
Ngay sau khi nhận được đơn xin phép, Công an cấp xã, đơn
vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục quyết định bằng văn bản về việc
giải quyết vắng mặt tại nơi cư trú của người được tha tù trước thời hạn có điều
kiện; trường hợp không đồng ý thì phải nêu rõ lý do.
Người được tha tù trước thời hạn có điều kiện khi đến nơi
cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết
thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu
trú. Trường hợp người được tha tù trước thời hạn có điều kiện vi phạm pháp luật,
Công an cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho Công an cấp
xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục.
3. Người được tha tù trước thời hạn có điều kiện bị tạm
hoãn xuất cảnh trong thời gian thử thách.
Điều 66. Giải
quyết trường hợp người được tha tù trước thời hạn có điều kiện thay đổi nơi cư
trú, nơi làm việc
1. Trường hợp người được tha tù trước thời hạn có điều kiện
vì lý do chính đáng mà phải thay đổi nơi cư trú, nơi làm việc thì phải làm đơn
gửi Công an cấp xã, đơn vị quân đội để giải quyết theo thẩm quyền.
Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được đơn của người
được tha tù trước thời hạn có điều kiện, Công an cấp xã, cơ quan thi hành án
hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu phối hợp với
các đơn vị có liên quan kiểm tra, xác minh và quyết định bằng văn bản cho người
đó thay đổi nơi cư trú, nơi làm việc, trường hợp không đồng ý phải nêu rõ lý
do.
2. Người được tha tù trước thời hạn có điều kiện được xem
xét, giải quyết cho thay đổi nơi cư trú nếu bảo đảm các điều kiện sau đây:
a) Bảo đảm các yêu cầu theo quy định của pháp luật về cư
trú;
b) Được sự đồng ý của Công an cấp xã trong trường hợp
thay đổi nơi cư trú trong phạm vi đơn vị hành chính cấp tỉnh, cơ quan thi hành
án hình sự Công an cấp tỉnh trong trường hợp thay đổi nơi cư trú ngoài phạm vi
đơn vị hành chính cấp tỉnh.
3. Việc thay đổi nơi làm việc của người được tha tù trước
thời hạn có điều kiện trong phạm vi quân khu do cơ quan thi hành án hình sự cấp
quân khu quyết định.
Việc thay đổi nơi làm việc của người được tha tù trước thời
hạn có điều kiện ngoài phạm vi quân khu do Cơ quan quản lý thi hành án hình sự
Bộ Quốc phòng quyết định.
Trường hợp người được tha tù trước thời hạn có điều kiện
không tiếp tục phục vụ trong quân đội thì cơ quan thi hành án hình sự cấp quân
khu làm thủ tục chuyển hồ sơ cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh
nơi người được tha tù trước thời hạn có điều kiện về cư trú để quản lý, giám
sát, giáo dục theo quy định tại khoản 3 Điều 57 của Luật này.
4. Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định
chi tiết Điều này.
Điều 67. Giải
quyết trường hợp người được tha tù trước thời hạn có điều kiện có nguyện vọng
làm việc, học tập ngoài nơi cư trú
1. Trường hợp người được tha tù trước thời hạn có điều kiện
có nguyện vọng lựa chọn làm việc, học tập ngoài nơi cư trú thì phải xin phép và
được sự đồng ý bằng văn bản của Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản
lý, giám sát, giáo dục; trường hợp không đồng ý phải nêu rõ lý do.
2. Người được tha tù trước thời hạn có điều kiện có trách
nhiệm báo cáo Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo
dục về kế hoạch lao động, hợp đồng lao động, chương trình học tập có xác nhận của
cơ quan, tổ chức, cá nhân nơi người đó làm việc, học tập.
3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc sau khi được Công an cấp
xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục đồng ý về việc cho
người được tha tù trước thời hạn có điều kiện làm việc, học tập ngoài nơi cư
trú thì người được tha tù trước thời hạn có điều kiện phải trình báo với Công
an cấp xã nơi mình đến làm việc, học tập; khi kết thúc hợp đồng lao động,
chương trình học tập phải có xác nhận của Công an cấp xã tại nơi mình làm việc,
học tập.
4. Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý,
giám sát, giáo dục người được tha tù trước thời hạn có điều kiện phải thông báo
cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp
quân khu về việc giải quyết cho người được tha tù trước thời hạn có điều kiện
đi khỏi nơi cư trú để làm việc, học tập.
5. Người được tha tù trước thời hạn có điều kiện trong thời
gian làm việc, học tập ngoài nơi cư trú phải chấp hành nghiêm chỉnh nghĩa vụ của
mình. Trường hợp người được tha tù trước thời hạn có điều kiện vi phạm pháp luật
tại nơi làm việc, học tập, Công an cấp xã, đơn vị quân đội nơi người đó đến làm
việc, học tập phải thông báo cho Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản
lý, giám sát, giáo dục để phối hợp giải quyết.
Điều 68. Xử
lý trường hợp được tha tù trước thời hạn có điều kiện vi phạm nghĩa vụ hoặc vi
phạm pháp luật
1. Người được tha tù trước thời hạn có điều kiện cố ý vi
phạm nghĩa vụ quy định tại Điều 60 của Luật này thì Công an cấp xã, đơn vị quân
đội lập biên bản vi phạm: trường hợp cố ý vi phạm lần thứ hai thì lập biên bản
vi phạm và báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi
hành án hình sự cấp quân khu.
2. Trường hợp người được tha tù trước thời hạn có điều kiện
bị xử phạt vi phạm hành chính từ 02 lần trở lên thì Công an cấp xã, đơn vị quân
đội quản lý, giám sát, giáo dục báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp
tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu.
3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được
báo cáo kèm theo biên bản vi phạm nghĩa vụ hoặc quyết định xử phạt vi phạm hành
chính và các tài liệu khác có liên quan của Công an cấp xã, đơn vị quân đội được
giao quản lý, giám sát, giáo dục người được tha tù trước thời hạn có điều kiện,
cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp
quân khu tiến hành thủ tục đề nghị hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều
kiện.
4. Trường hợp người được tha tù trước thời hạn có điều kiện
bị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, trường
giáo dưỡng, cơ sở cai nghiện bắt buộc thì Công an cấp xã phối hợp cơ quan đó để
quản lý, giám sát, giáo dục họ.
5. Trường hợp người được tha tù trước thời hạn có điều kiện
bị khởi tố bị can nhưng chưa bị tạm giam thì cơ quan thi hành án hình sự Công
an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu, Công an cấp xã, đơn vị
quân đội phối hợp với cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng đang thụ lý vụ án
để phục vụ việc quản lý, giám sát, giáo dục họ.
Điều 69. Giải
quyết trường hợp phạm nhân đã được đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện
vi phạm nội quy cơ sở giam giữ phạm nhân hoặc vi phạm pháp luật
1. Trường hợp phạm nhân đã được đề nghị tha tù trước thời
hạn có điều kiện mà vi phạm nội quy cơ sở giam giữ phạm nhân và bị xử lý kỷ luật
hoặc có hành vi vi phạm pháp luật trước khi có quyết định tha tù trước thời hạn
có điều kiện của Tòa án thì cơ quan đã đề nghị theo quy định tại khoản 1 Điều
56 của Luật này có văn bản gửi Viện kiểm sát, Tòa án đề nghị rút hồ sơ và xóa
tên trong danh sách đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện.
2. Trường hợp phạm nhân đã có quyết định tha tù trước thời
hạn có điều kiện của Tòa án nhưng chưa có hiệu lực pháp luật mà vi phạm nội quy
cơ sở giam giữ phạm nhân và bị xử lý kỷ luật hoặc có hành vi vi phạm pháp luật
thì hồ sơ, trình tự, thủ tục xem xét hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều
kiện được thực hiện theo quy định tại khoản 4 Điều 70 của Luật này và Điều 368
của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Điều 70. Hủy
quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện
1. Trường hợp người được tha tù trước thời hạn có điều kiện
vi phạm quy định tại khoản 4 Điều 66 của Bộ luật Hình sự thì cơ quan thi hành
án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu lập hồ sơ
chuyển đến Tòa án để ra quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện để xem
xét, hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện, đồng thời gửi 01 bộ hồ
sơ đến Viện kiểm sát có thẩm quyền. Hồ sơ bao gồm:
a) Văn bản của cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh,
cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu đề nghị hủy quyết định tha tù trước thời
hạn có điều kiện;
b) Biên bản vi phạm nghĩa vụ, quyết định xử phạt vi phạm
hành chính hoặc quyết định khởi tố bị can;
c) Báo cáo của Công an cấp xã, cơ quan thi hành án hình sự
cấp quân khu về việc thực hiện nghĩa vụ của người được tha tù trước thời hạn có
điều kiện trong thời gian thử thách;
d) Bản sao bản án, quyết định của Tòa án; bản sao quyết định
tha tù trước thời hạn có điều kiện;
đ) Tài liệu khác có liên quan.
2. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ
sơ đề nghị, Tòa án phải mở phiên họp để xem xét, quyết định hủy quyết định tha
tù trước thời hạn có điều kiện và buộc người đó phải chấp hành phần hình phạt
tù còn lại; trường hợp không chấp nhận đề nghị hủy quyết định tha tù trước thời
hạn có điều kiện phải nêu rõ lý do.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định
hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện, Tòa án phải gửi quyết định
đó cho Viện kiểm sát có thẩm quyền, Tòa án đã ra quyết định thi hành án, trại
giam, trại tạm giam nơi người đó đã chấp hành án, cơ quan thi hành án hình sự
Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu đang quản lý, giám
sát, giáo dục người đó.
3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày quyết định
hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện có hiệu lực pháp luật, cơ
quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân
khu phải thông báo bằng văn bản cho người bị hủy quyết định tha tù trước thời hạn
có điều kiện. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được thông báo, người bị hủy
quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện phải có mặt tại cơ quan thi hành
án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu để chấp
hành phần hình phạt tù còn lại; quá thời hạn trên mà người đó không có mặt thì
Công an cấp xã hoặc Vệ binh hỗ trợ tư pháp thực hiện áp giải thi hành án. Trường
hợp người bị hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện bỏ trốn thì cơ
quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân
khu ra quyết định truy nã.
4. Trường hợp phạm nhân vi phạm nội quy cơ sở giam giữ phạm
nhân hoặc có hành vi vi phạm pháp luật thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều
69 của Luật này thì cơ quan đã đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện lập hồ
sơ, chuyển đến Tòa án để ra quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện để
xem xét, hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện, đồng thời gửi 01 bộ
hồ sơ đến Viện kiểm sát có thẩm quyền. Hồ sơ bao gồm:
a) Văn bản đề nghị hủy quyết định tha tù trước thời hạn
có điều kiện;
b) Quyết định kỷ luật phạm nhân kèm theo biên bản vi phạm
nội quy cơ sở giam giữ phạm nhân hoặc văn bản về việc vi phạm pháp luật;
c) Tài liệu khác có liên quan.
5. Trình tự, thủ tục Tòa án xem xét, quyết định hủy quyết
định tha tù trước thời hạn có điều kiện thực hiện theo quy định tại Điều 368 của
Bộ luật Tố tụng hình sự.
Điều 71.
Trách nhiệm quản lý, giám sát, giáo dục của cơ quan, tổ chức và gia đình người
được tha tù trước thời hạn có điều kiện
1. Cơ quan, tổ chức có liên quan có trách nhiệm phối hợp
với Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã, đơn vị quân đội trong việc quản lý,
giám sát, giáo dục người được tha tù trước thời hạn có điều kiện.
2. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, lực
lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở phân công người tham gia quản
lý, giám sát, giáo dục người được tha tù trước thời hạn có điều kiện theo quyết
định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã.
3. Gia đình người được tha tù trước thời hạn có điều kiện
có trách nhiệm phối hợp trong việc quản lý, giám sát, giáo dục và thông báo kết
quả chấp hành án của người được tha tù trước thời hạn có điều kiện cho Ủy ban
nhân dân cấp xã, Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát,
giáo dục khi có yêu cầu; phải có mặt theo yêu cầu của Ủy ban nhân dân cấp xã,
Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục người đó.
Chương III
THI HÀNH ÁN TỬ HÌNH
Điều 72. Quyết
định thi hành án tử hình
1. Chánh án Tòa án đã xét xử sơ thẩm ra quyết định thi
hành án tử hình. Quyết định phải ghi rõ ngày, tháng, năm ra quyết định, họ tên,
chức vụ của người ra quyết định; bản án, quyết định được thi hành; họ tên,
ngày, tháng, năm sinh, nơi cư trú của người bị kết án.
2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định
thi hành án tử hình, Tòa án phải gửi quyết định đó cho các cơ quan sau đây:
a) Viện kiểm sát cùng cấp, cơ quan thi hành án hình sự
Công an cấp tỉnh hoặc cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu;
b) Trại tạm giam nơi người chấp hành án đang bị giam giữ.
Điều 73. Quyết
định thành lập Hội đồng thi hành án tử hình
1. Ngay khi có quyết định thi hành án tử hình, Chánh án
Tòa án đã ra quyết định thi hành án có văn bản yêu cầu Viện trưởng Viện kiểm
sát cùng cấp, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh hoặc Thủ
trưởng cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu cử đại diện lãnh đạo tham gia Hội
đồng thi hành án tử hình. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được
văn bản yêu cầu, Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp, Thủ trưởng cơ quan thi
hành án hình sự Công an cấp tỉnh hoặc Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự cấp
quân khu phải có văn bản cử đại diện lãnh đạo tham gia Hội đồng thi hành án tử
hình.
2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được
văn bản cử đại diện lãnh đạo tham gia Hội đồng thi hành án tử hình của các cơ
quan quy định tại khoản 1 Điều này, Chánh án Tòa án đã ra quyết định thi hành
án phải ra quyết định thành lập Hội đồng thi hành án tử hình. Quyết định thành
lập Hội đồng thi hành án tử hình phải ghi rõ ngày, tháng, năm ra quyết định, họ
tên, chức vụ của người ra quyết định; căn cứ ra quyết định; họ tên, chức vụ của
người tham gia Hội đồng.
3. Hội đồng thi hành án tử hình bao gồm:
a) Chánh án hoặc Phó Chánh án Tòa án đã ra quyết định thi
hành án làm Chủ tịch Hội đồng;
b) Viện trưởng hoặc Phó Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp;
c) Thủ trưởng hoặc Phó Thủ trưởng cơ quan thi hành án
hình sự Công an cấp tỉnh hoặc cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu.
4. Giúp việc cho Hội đồng thi hành án tử hình có Thư ký
là cán bộ, công chức của Tòa án, do Chánh án Tòa án có thẩm quyền ra quyết định
thi hành án phân công.
Điều 74. Nhiệm
vụ, quyền hạn của Hội đồng thi hành án tử hình
1. Hội đồng thi hành án tử hình có nhiệm vụ, quyền hạn
sau đây:
a) Quyết định kế hoạch và chuẩn bị các điều kiện bảo đảm
cho việc thi hành án;
b) Tổ chức kiểm tra các điều kiện về người chấp hành án tử
hình theo quy định của Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự; ra quyết định
hoàn thành thi hành án và báo cáo Chánh án Tòa án đã ra quyết định thi hành án
khi người bị kết án không đủ điều kiện để thi hành án;
c) Yêu cầu cơ quan, tổ chức có liên quan cung cấp thông
tin, tài liệu cần thiết cho việc thi hành án; yêu cầu đơn vị vũ trang nhân dân,
cơ quan, tổ chức hỗ trợ bảo đảm an toàn việc thi hành án trong trường hợp cần
thiết;
d) Điều hành việc thi hành án theo kế hoạch;
đ) Thông báo kết quả thi hành án cho cơ quan quản lý thi
hành án hình sự;
e) Hội đồng tự giải thể sau khi hoàn thành nhiệm vụ của
mình.
2. Chủ tịch Hội đồng thi hành án tử hình triệu tập họp,
công bố các quyết định có liên quan đến việc thi hành án tử hình, quyết định thời
gian thi hành án; những nội dung cần giữ bí mật; các điều kiện bảo đảm việc tổ
chức thực hiện kế hoạch thi hành án; địa điểm mai táng đối với trường hợp không
được nhận tử thi hoặc không có đơn đề nghị được nhận tử thi. Cuộc họp phải được
lập biên bản, lưu hồ sơ thi hành án tử hình.
Điều 75. Hồ
sơ thi hành án tử hình
1. Hồ sơ thi hành án tử hình gồm các tài liệu sau đây:
a) Bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật; bản án phúc thẩm
trong trường hợp bản án sơ thẩm có kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm;
b) Quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm (nếu có);
c) Quyết định không kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân
dân tối cao và quyết định không kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân
dân tối cao;
d) Quyết định thi hành án tử hình;
đ) Quyết định thành lập Hội đồng thi hành án tử hình;
e) Biên bản họp Hội đồng thi hành án tử hình;
g) Kế hoạch thi hành án tử hình;
h) Danh bản, chỉ bản, biên bản kiểm tra căn cước người bị
thi hành án tử hình;
i) Biên bản kiểm tra, xác minh người bị thi hành án tử
hình không thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 40 của Bộ luật Hình sự;
k) Tài liệu có liên quan đến việc hoãn thi hành án tử
hình trong trường hợp hoãn thi hành án tử hình;
l) Biên bản giám định pháp y tử thi người đã bị thi hành
án tử hình;
m) 01 ảnh của người đã bị thi hành án tử hình;
n) Biên bản thi hành án tử hình;
o) Báo cáo kết quả thi hành án tử hình;
p) Tài liệu khác có liên quan.
2. Hồ sơ thi hành án tử hình do cơ quan thi hành án hình
sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu lập, quản lý và
được lưu giữ, bảo quản theo chế độ hồ sơ do Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ
Quốc phòng quy định.
Điều 76.
Hoãn thi hành án tử hình
1. Hội đồng thi hành án tử hình quyết định hoãn thi hành
án tử hình nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Người bị kết án tử hình thuộc trường hợp quy định tại
khoản 3 Điều 40 của Bộ luật Hình sự;
b) Do tình trạng khẩn cấp, lý do bất khả kháng hoặc trở
ngại khách quan;
c) Ngay trước khi thi hành án người bị kết án tử hình
khai báo những tình tiết mới về tội phạm.
2. Khi quyết định hoãn thi hành án tử hình, Hội đồng thi
hành án tử hình phải lập biên bản ghi rõ ngày, giờ, tháng, năm, địa điểm thi
hành án; họ tên, chức vụ của thành viên Hội đồng; lý do hoãn thi hành án. Biên
bản hoãn thi hành án phải được tất cả các thành viên Hội đồng ký, lưu hồ sơ thi
hành án tử hình và báo cáo Chánh án Tòa án đã ra quyết định thi hành án, Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự cấp
quân khu và cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án
hình sự cấp quân khu.
3. Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp hoặc Vệ
binh hỗ trợ tư pháp áp giải, bàn giao người được hoãn thi hành án tử hình cho
trại tạm giam để tiếp tục quản lý giam giữ người đó. Việc giao nhận người được
hoãn thi hành án tử hình phải được lập thành biên bản.
4. Trường hợp hoãn thi hành án theo quy định tại điểm a
khoản 1 Điều này thì Hội đồng thi hành án tử hình hoàn thành thi hành án và báo
cáo Chánh án Tòa án đã ra quyết định thi hành án để báo cáo Chánh án Tòa án
nhân dân tối cao xem xét, quyết định.
Trường hợp hoàn thành thi hành án theo quy định tại điểm
b và điểm c khoản 1 Điều này mà lý do hoàn không còn thì Chánh án Tòa án ra quyết
định thi hành án yêu cầu Hội đồng tiếp tục thực hiện việc thi hành án. Trường hợp
có sự thay đổi thành viên Hội đồng thì Chánh án Tòa án đã ra quyết định thi
hành án quyết định thay đổi thành viên Hội đồng hoặc thành lập Hội đồng thi
hành án tử hình theo quy định tại Điều 73 của Luật này.
Điều 77.
Hình thức và trình tự thi hành án tử hình
1. Thi hành án tử hình được thực hiện bằng tiêm thuốc độc.
Quy trình thực hiện việc tiêm thuốc độc do Chính phủ quy định.
2. Trước khi thi hành án, Hội đồng thi hành án tử hình phải
kiểm tra danh bản, chỉ bản, hồ sơ lý lịch của người chấp hành án tử hình; trường
hợp người chấp hành án là nữ thì Hội đồng phải kiểm tra các tài liệu liên quan
đến điều kiện không thi hành án tử hình theo quy định của Bộ luật Hình sự.
3. Trước khi bị đưa ra thi hành án tử hình, người chấp
hành án được ăn, uống, viết thư, ghi âm lời nói gửi lại gia đình của người chấp
hành án.
4. Trình tự thi hành án tử hình được thực hiện như sau:
a) Căn cứ quyết định thi hành án tử hình và yêu cầu của
Chủ tịch Hội đồng thi hành án tử hình, Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ
tư pháp hoặc Vệ binh hỗ trợ tư pháp thực hiện áp giải người chấp hành án đến
nơi làm việc của Hội đồng thi hành án tử hình;
b) Thực hiện yêu cầu của Hội đồng thi hành án tử hình,
cán bộ chuyên môn thuộc Công an nhân dân hoặc Quân đội nhân dân tiến hành lăn
tay, kiểm tra danh bản, chỉ bản, đối chiếu với hồ sơ, tài liệu có liên quan; chụp
ảnh, ghi hình quá trình làm thủ tục lăn tay, kiểm tra và lập biên bản; báo cáo
Hội đồng thi hành án tử hình về kết quả kiểm tra;
c) Chủ tịch Hội đồng thi hành án tử hình công bố quyết định
thi hành án, quyết định không kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao
và quyết định không kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao,
quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao không chấp nhận kháng
nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao hoặc kháng nghị của Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân tối cao, văn bản thông báo của cơ quan có thẩm quyền về việc
không có quyết định ân giảm hình phạt tử hình.
Ngay sau khi Chủ tịch Hội đồng thi hành án công bố các
quyết định, Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp hoặc Vệ binh hỗ trợ
tư pháp có nhiệm vụ giao các quyết định trên cho người chấp hành án để người đó
tự đọc. Trường hợp người chấp hành án không biết chữ, không biết tiếng Việt hoặc
không tự mình đọc được thì Hội đồng thi hành án tử hình chỉ định người đọc hoặc
phiên dịch các quyết định trên cho người đó nghe. Quá trình công bố và đọc các
quyết định phải được chụp ảnh, ghi hình, ghi âm và lưu vào hồ sơ thi hành án tử
hình;
d) Theo lệnh của Chủ tịch Hội đồng thi hành án tử hình,
cán bộ chuyên môn do cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi
hành án hình sự cấp quân khu chỉ định thực hiện việc thi hành án và báo cáo kết
quả cho Chủ tịch Hội đồng;
d) Theo lệnh của Chủ tịch Hội đồng thi hành án tử hình,
bác sĩ pháp y xác định tình trạng của người đã bị thi hành án tử hình và báo
cáo kết quả cho Hội đồng;
e) Hội đồng thi hành án tử hình lập biên bản thi hành án;
báo cáo về quá trình, kết quả thi hành án cho Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm
sát nhân dân tối cao, cơ quan quản lý thi hành án hình sự. Cơ quan thi hành án
hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu làm thủ tục
khai tử tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thi hành án;
g) Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan
thi hành án hình sự cấp quân khu có trách nhiệm bảo quản tử thi, tổ chức mai
táng, vẽ sơ đồ mộ người đã bị thi hành án. Ủy ban nhân dân cấp xã nơi mai táng
có nhiệm vụ phối hợp với cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan
thi hành án hình sự cấp quân khu trong việc mai táng và quản lý mộ của người đã
bị thi hành án;
h) Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày thi hành
án, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp
quân khu thông báo cho gia đình của người đã bị thi hành án biết, trừ trường hợp
quy định tại khoản 1 Điều 78 của Luật này.
Điều 78. Giải
quyết việc xin nhận tử thi, tro cốt và hài cốt của người bị thi hành án tử hình
1. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định
thi hành án tử hình, Chánh án Tòa án đã ra quyết định thi hành án phải thông
báo cho gia đình hoặc người đại diện của người bị thi hành án tử hình biết. Trường
hợp gia đình hoặc người đại diện của người bị thi hành án tử hình có nguyện vọng
nhận tử thi về mai táng thì trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được
thông báo, phải có đơn xin gửi Chánh án Tòa án đã ra thông báo. Đơn xin nhận tử
thi về mai táng phải ghi rõ họ tên, địa chỉ người nhận tử thi; quan hệ với người
bị thi hành án; cam kết bảo đảm yêu cầu về an ninh, trật tự, vệ sinh môi trường
và tự chịu chi phí. Đơn phải có xác nhận của Công an cấp xã nơi cư trú, trường
hợp người bị thi hành án tử hình là người nước ngoài, người không xác định được
quốc tịch thì đơn phải có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền hoặc cơ quan đại
diện của nước mà người đó có quốc tịch và phải được dịch sang tiếng Việt.
2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được
đơn xin nhận tử thi về mai táng của gia đình hoặc người đại diện của người bị
thi hành án tử hình, Chánh án Tòa án đã ra quyết định thi hành án tử hình phải
thông báo bằng văn bản về việc chấp nhận hay không chấp nhận cho nhận tử thi về
mai táng. Nếu không chấp nhận cho nhận tử thi về mai táng thì nêu rõ lý do.
3. Trước khi thi hành án tử hình 03 ngày làm việc, Chánh
án Tòa án đã ra quyết định thi hành án tử hình phải thông báo bằng văn bản cho
cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh hoặc cơ quan thi hành án hình sự cấp
quân khu biết để giải quyết việc cho nhận tử thi của người đã bị thi hành án tử
hình về mai táng hoặc tổ chức việc mai táng người đã bị thi hành án tử hình.
4. Trường hợp Chánh án Tòa án đã ra quyết định thành lập
Hội đồng thi hành án tử hình chấp nhận cho nhận tử thi của người đã bị thi hành
án tử hình, nhưng trong quá trình triển khai thi hành án tử hình, Hội đồng thi
hành án tử hình xét thấy việc cho nhận tử thi không bảo đảm an ninh, trật tự
thì quyết định không cho nhận và thông báo bằng văn bản cho gia đình của người
đã bị thi hành án tử hình, đồng thời giao cho cơ quan thi hành án hình sự Công
an cấp tỉnh hoặc cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu tổ chức mai táng và
báo cáo lại Chánh án Tòa án đã ra quyết định.
5. Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan
thi hành án hình sự cấp quân khu có trách nhiệm thông báo cho người có đơn đề
nghị ngay sau khi thi hành án để đến nhận tử thi về mai táng. Việc giao, nhận tử
thi của người đã bị thi hành án tử hình phải được thực hiện trong thời hạn 24
giờ kể từ khi thông báo và do cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ
quan thi hành án hình sự cấp quân khu thực hiện. Việc giao, nhận tử thi phải được
lập thành văn bản, có chữ ký của bên giao và bên nhận. Hết thời hạn này mà người
có đơn đề nghị không đến nhận tử thi thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp
tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu có trách nhiệm mai táng.
6. Trường hợp gia đình hoặc người đại diện của người bị
thi hành án tử hình muốn nhận tro cốt của người bị thi hành án và tự chịu chi
phí hỏa táng thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành
án hình sự cấp quân khu bàn giao tử thi và hỗ trợ đưa tro thi về nơi hỏa táng.
7. Trường hợp cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh,
cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu tổ chức việc mai táng người bị thi
hành án tử hình thì sau 03 năm kể từ ngày thi hành án, gia đình hoặc người đại
diện của người đã bị thi hành án được làm đơn đề nghị cơ quan thi hành án hình
sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi đã thi hành
án cho nhận hài cốt.
Đơn phải ghi rõ họ tên, địa chỉ người nhận hài cốt; quan
hệ với người đã bị thi hành án; cam kết bảo đảm yêu cầu về an ninh, trật tự, vệ
sinh môi trường và tự chịu chi phí. Đơn phải có xác nhận của Công an cấp xã nơi
người nhận cư trú, trường hợp người bị thi hành án là người nước ngoài, người
không xác định được quốc tịch thì đơn đề nghị phải có xác nhận của cơ quan có
thẩm quyền hoặc cơ quan đại diện của nước mà người đó có quốc tịch và phải được
dịch ra tiếng Việt.
Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được đơn, cơ quan
thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu
có trách nhiệm xem xét giải quyết.
Chương IV
THI HÀNH ÁN TREO, ÁN PHẠT CẢNH CÁO,
CẢI TẠO KHÔNG GIAM GIỮ
Mục 1
THI HÀNH ÁN TREO
Điều 79. Quyết
định thi hành án treo
1. Quyết định thi hành án treo phải ghi rõ họ tên, chức vụ
người ra quyết định; bản án, quyết định được thi hành; tên cơ quan có nhiệm vụ
thi hành; họ tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi cư trú của người được hưởng án
treo; mức hình phạt tù và thời gian thử thách của người được hưởng án treo;
hình phạt bổ sung, trừ hình phạt bổ sung là hình phạt tiền; hậu quả của việc vi
phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định tại khoản 5 Điều 65 của Bộ
luật Hình sự; Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao
quản lý, giám sát, giáo dục người được hưởng án treo.
2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định
thi hành án treo, Tòa án phải gửi quyết định đó cho cá nhân, cơ quan sau đây:
a) Người được hưởng án treo và người đại diện trong trường
hợp người được hưởng án treo là người dưới 18 tuổi;
b) Viện kiểm sát cùng cấp;
c) Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh nơi Ủy
ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã được giao quản lý, giám sát, giáo dục người
được hưởng án treo, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi người được hưởng
án treo làm việc;
d) Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã, đơn vị quân đội
được giao quản lý, giám sát, giáo dục người được hưởng án treo.
Điều 80. Thi
hành quyết định thi hành án treo
1. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được
quyết định thi hành án treo, Công an cấp xã, cơ quan thi hành án hình sự cấp
quân khu phải triệu tập người được hưởng án treo, người đại diện trong trường hợp
người được hưởng án treo là người dưới 18 tuổi đến trụ sở Công an cấp xã nơi
người đó cư trú, đơn vị quân đội nơi người đó làm việc để cam kết việc chấp
hành án. Người được hưởng án treo, người đại diện của người được hưởng án treo
phải có mặt theo giấy triệu tập, trừ trường hợp do tình trạng khẩn cấp, lý do bất
khả kháng hoặc trở ngại khách quan.
Trường hợp người được hưởng án treo không có mặt theo giấy
triệu tập hoặc không cam kết thì Công an cấp xã, cơ quan thi hành án hình sự cấp
quân khu lập biên bản vi phạm nghĩa vụ.
Trường hợp có căn cứ xác định người được hưởng án treo đã
thay đổi nơi cư trú, không còn cư trú tại nơi chấp hành án thì Công an cấp xã
báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh để thông báo cho Tòa án đã
ra quyết định thi hành án để ủy thác thi hành án, trả lại ủy thác hoặc thông
báo cho cơ quan thi hành án hình sự tổ chức thi hành án.
2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được
quyết định thi hành án treo, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ
quan thi hành án hình sự cấp quân khu lập hồ sơ thi hành án và bàn giao cho
Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục người được
hưởng án treo.
3. Hồ sơ thi hành án bao gồm:
a) Bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật;
b) Quyết định thi hành án treo;
c) Cam kết của người được hưởng án treo. Đối với người được
hưởng án treo là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thì bản cam kết của người
đó phải có xác nhận của người đại diện;
d) Bản nhận xét của Công an cấp xã, đơn vị quân đội được
giao quản lý, giám sát, giáo dục về việc chấp hành nghĩa vụ của người được hưởng
án treo;
đ) Bản tự nhận xét của người được hưởng án treo về việc
thực hiện nghĩa vụ chấp hành pháp luật; trường hợp người được hưởng án treo bị
kiểm điểm theo quy định tại Điều 86 của Luật này thì phải có bản kiểm điểm và
biên bản cuộc họp kiểm điểm;
e) Trường hợp người được hưởng án treo được rút ngắn thời
gian thử thách thì phải có quyết định của Tòa án;
g) Tài liệu khác có liên quan.
4. Trong thời gian thử thách, Công an cấp xã, đơn vị quân
đội thực hiện các biện pháp quản lý, giám sát, giáo dục người chấp hành án,
phòng ngừa người chấp hành án vi phạm nghĩa vụ, vi phạm pháp luật; hằng tháng,
đánh giá, nhận xét và báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ
quan thi hành án hình sự cấp quân khu kết quả quản lý, giám sát, giáo dục người
chấp hành án.
5. 03 ngày trước khi hết thời gian thử thách hoặc kể từ
ngày nhận được quyết định về rút ngắn hết thời gian thử thách còn lại, Công an
cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục bàn giao hồ sơ
thi hành án cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành
án hình sự cấp quân khu.
Vào ngày cuối cùng của thời gian thử thách hoặc ngày quyết
định rút ngắn hết thời gian thử thách của Tòa án có hiệu lực pháp luật, cơ quan
thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu
phải cấp chứng nhận chấp hành xong thời gian thử thách. Chứng nhận phải gửi cho
người được hưởng án treo. Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã, đơn vị quân đội
được giao quản lý, giám sát, giáo dục, Tòa án đã ra quyết định thi hành án, Viện
kiểm sát có thẩm quyền.
Trường hợp người chấp hành án treo bị khởi tố bị can hoặc
đang bị đề nghị buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo thì
chưa cấp chứng nhận chấp hành xong thời gian thử thách. Ngay sau khi nhận được
quyết định của cơ quan có thẩm quyền xác định người chấp hành án treo không vi
phạm pháp luật hình sự hoặc không chấp nhận đề nghị buộc chấp hành hình phạt tù
của bản án đã cho hưởng án treo thì thực hiện cấp chứng nhận chấp hành xong thời
gian thử thách.
6. Trường hợp người được hưởng án treo chết, Công an cấp
xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục thông báo cho cơ quan
thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu
để thông báo cho Tòa án đã ra quyết định thi hành án.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được
thông báo, Tòa án đã ra quyết định thi hành án phải ra quyết định đình chỉ thi
hành án và gửi cho cơ quan quy định tại các điểm b, c và d khoản 2 Điều 79 của
Luật này.
Điều 81. Nhiệm
vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã, đơn vị quân đội được
giao quản lý, giám sát, giáo dục người được hưởng án treo
1. Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý, giám sát, giáo dục người
được hưởng án treo.
2. Công an cấp xã có nhiệm vụ trực tiếp giúp Ủy ban nhân
dân cấp xã quản lý, giám sát, giáo dục người được hưởng án treo và có nhiệm vụ,
quyền hạn sau đây:
a) Tiếp nhận hồ sơ, tổ chức quản lý, giám sát, giáo dục
người được hưởng án treo; bàn giao hồ sơ cho cơ quan thi hành án hình sự có thẩm
quyền theo quy định của Luật này;
b) Yêu cầu người được hưởng án treo thực hiện đầy đủ
nghĩa vụ của mình; có biện pháp giáo dục, phòng ngừa khi người đó có dấu hiệu
vi phạm pháp luật;
c) Biểu dương người được hưởng án treo có nhiều tiến bộ
hoặc lập công;
d) Giải quyết cho người được hưởng án treo được vắng mặt
hoặc thay đổi nơi cư trú theo quy định của Luật này và pháp luật về cư trú, được
ra khỏi nơi cư trú để làm việc, học tập;
đ) Phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức
thành viên, gia đình và cơ quan, tổ chức nơi người được hưởng án treo làm việc,
học tập trong việc quản lý, giám sát, giáo dục người đó;
e) Báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh để
đề nghị Tòa án có thẩm quyền xem xét, quyết định việc rút ngắn thời gian thử
thách;
g) Báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh
tiến hành trình tự, thủ tục đề nghị Tòa án có thẩm quyền quyết định buộc người
được hưởng án treo vi phạm nghĩa vụ phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã
cho hưởng án treo theo quy định của Luật này;
h) Báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh
khi người được hưởng án treo bỏ trốn;
i) Hằng tháng, nhận xét bằng văn bản về quá trình chấp
hành án của người được hưởng án treo và lưu hồ sơ;
k) Báo cáo cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền về kết
quả thi hành án.
3. Trưởng Công an cấp xã có trách nhiệm báo cáo định kỳ
hoặc theo yêu cầu của Ủy ban nhân dân cấp xã về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền
hạn theo quy định tại khoản 2 Điều này.
4. Đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục
người được hưởng án treo có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại các điểm a, b, c, i
và k khoản 2 Điều này;
b) Phối hợp với Công an cấp xã giải quyết cho người được
hưởng án treo được vắng mặt hoặc thay đổi nơi cư trú theo quy định của Luật này
và pháp luật về cư trú;
c) Phối hợp với gia đình và Ủy ban nhân dân cấp xã, Công
an cấp xã nơi người được hưởng án treo cư trú trong việc quản lý, giám sát,
giáo dục người đó;
d) Báo cáo cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu đề
nghị Tòa án quân sự khu vực xem xét, quyết định việc rút ngắn thời gian thử
thách;
đ) Báo cáo cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu tiến
hành trình tự, thủ tục đề nghị Tòa án có thẩm quyền quyết định buộc người được
hưởng án treo vi phạm nghĩa vụ phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng
án treo theo quy định của Luật này;
e) Báo cáo cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu khi
người được hưởng án treo bỏ trốn.
Điều 82.
Nghĩa vụ của người được hưởng án treo
1. Có mặt theo giấy triệu tập và cam kết việc chấp hành
án theo quy định tại khoản 1 Điều 80 của Luật này.
2. Thực hiện nghiêm chỉnh cam kết trong việc tuân thủ
pháp luật, nghĩa vụ công dân, nội quy, quy chế của nơi cư trú, nơi làm việc, học
tập; chấp hành đầy đủ hình phạt bổ sung, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại, trừ trường
hợp vì lý do khách quan được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận.
3. Chấp hành sự quản lý, giám sát, giáo dục của Ủy ban
nhân dân cấp xã, Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát,
giáo dục, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi cư trú, nơi làm việc; chỉ
được cư trú trên địa giới hành chính cấp xã theo quyết định thi hành án của Tòa
án có thẩm quyền, trừ trường hợp quy định tại Điều 87 và Điều 88 của Luật này.
4. Chấp hành quy định tại Điều 87 của Luật này.
5. Phải có mặt theo yêu cầu của Ủy ban nhân dân cấp xã,
Công an cấp xã hoặc đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục, cơ
quan thi hành án hình sự cấp quân khu.
6. Hằng tháng, phải báo cáo bằng văn bản với Công an cấp
xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục về tình hình chấp
hành nghĩa vụ của mình. Trường hợp vắng mặt theo quy định tại khoản 1 Điều 87 của
Luật này thì khi hết thời hạn vắng mặt, người được hưởng án treo phải báo cáo về
tình hình chấp hành nghĩa vụ của mình.
Điều 83. Việc
lao động, học tập của người được hưởng án treo
1. Người được hưởng án treo là cán bộ, công chức, viên chức,
sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, chiến sĩ, công nhân quốc phòng,
công nhân công an, người lao động nếu được tiếp tục làm việc tại cơ quan, tổ chức
thì được bố trí công việc bảo đảm yêu cầu quản lý, giám sát, giáo dục, được hưởng
tiền lương và chế độ khác phù hợp với công việc mà họ đảm nhiệm, được tính vào
thời gian công tác, thời gian tại ngũ theo quy định của pháp luật.
2. Người được hưởng án treo được cơ sở giáo dục phổ
thông, giáo dục nghề nghiệp tiếp nhận học tập thì được hưởng quyền lợi theo quy
chế của cơ sở đó.
3. Người được hưởng án treo không thuộc trường hợp quy định
tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư
trú tạo điều kiện tìm việc làm.
4. Người được hưởng án treo thuộc đối tượng được hưởng chế
độ ưu đãi người có công với cách mạng, người đang hưởng chế độ bảo hiểm xã hội
thì thực hiện theo quy định của pháp luật.
Điều 84. Rút
ngắn thời gian thử thách đối với người được hưởng án treo
1. Người được hưởng án treo được đề nghị rút ngắn thời
gian thử thách khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Đã chấp hành được một phần hai thời gian thử thách;
b) Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo đã
chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 của Luật
này; tích cực học tập, lao động, sửa chữa lỗi lầm hoặc lập thành tích trong lao
động, bảo vệ an ninh, trật tự được cơ quan nhà nước có thẩm quyền khen thưởng;
c) Có đơn đề nghị rút ngắn thời gian thử thách án treo.
2. Người được hưởng án treo chỉ được xét rút ngắn thời
gian thử thách mỗi năm 01 lần, thời gian rút ngắn mỗi lần từ 01 tháng đến 01
năm. Trường hợp thời gian thử thách còn lại không quá 01 tháng thì có thể lượt
rút ngắn hết thời gian thử thách còn lại. Người được hưởng án treo có thể được
rút ngắn thời gian thử thách nhiều lần, nhưng phải bảo đảm thực tế đã chấp hành
ba phần tư thời gian thử thách.
3. Trường hợp người được hưởng án treo lập công hoặc bị bệnh
hiểm nghèo và có đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này thì Tòa án có
thể rút ngắn hết thời gian thử thách còn lại.
4. Trường hợp người được hưởng án treo đã được rút ngắn
thời gian thử thách nhưng sau đó vi phạm nghĩa vụ quy định tại Điều 82 của Luật
này và bị Tòa án quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản
án đã cho hưởng án treo thì thời gian thử thách đã được rút ngắn không được
tính để trừ vào thời gian chấp hành án phạt tù.
Điều 85. Thủ
tục rút ngắn thời gian thử thách đối với người được hưởng án treo
1. Việc rút ngắn thời gian thử thách đối với người được
hưởng án treo được thực hiện mỗi năm 03 đợt, vào dịp tết Dương lịch, ngày Chiến
thắng và Quốc khánh.
2. Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý,
giám sát, giáo dục người được hưởng án treo có trách nhiệm rà soát, lập danh
sách những người đủ điều kiện rút ngắn thời gian thử thách, báo cáo cơ quan thi
hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu kèm
theo tài liệu có liên quan để đề nghị xét rút ngắn thời gian thử thách.
3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được
báo cáo, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình
sự cấp quân khu lập hồ sơ và có văn bản đề nghị rút ngắn thời gian thử thách đối
với người có đủ điều kiện gửi đến Tòa án và Viện kiểm sát có thẩm quyền. Trường
hợp xét thấy không đủ điều kiện lập hồ sơ rút ngắn thời gian thử thách, cơ quan
thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu
có văn bản thông báo cho Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý,
giám sát, giáo dục người được hưởng án treo.
4. Hồ sơ đề nghị rút ngắn thời gian thử thách bao gồm:
a) Văn bản đề nghị rút ngắn thời gian thử thách của cơ
quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân
khu;
b) Đơn đề nghị rút ngắn thời gian thử thách của người được
hưởng án treo;
c) Bản sao bản án. Đối với trường hợp xét rút ngắn thời
gian thử thách từ lần thứ hai thì bản sao bản án được thay bằng bản sao quyết định
thi hành án treo;
d) Báo cáo đề nghị rút ngắn thời gian thử thách của Công
an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục người được hưởng
án treo;
đ) Trường hợp người được hưởng án treo được khen thưởng
hoặc lập công thì hồ sơ phải có quyết định khen thưởng hoặc giấy xác nhận của
cơ quan có thẩm quyền; trường hợp người được hưởng án treo bị bệnh hiểm nghèo
thì phải có kết luận hoặc xác nhận về tình trạng bệnh của cơ sở khám bệnh, chữa
bệnh đang điều trị hoặc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cấp cơ bản trở lên;
e) Trường hợp người được hưởng án treo đã được rút ngắn
thời gian thử thách thì phải có bản sao quyết định rút ngắn thời gian thử
thách.
5. Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ
sơ đề nghị rút ngắn thời gian thử thách, Chánh án Tòa án nhân dân khu vực,
Chánh án Tòa án quân sự khu vực nơi người được hưởng án treo cư trú, làm việc
phân công 01 Thẩm phán chủ trì phiên họp để xét rút ngắn thời gian thử thách.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải mở
phiên họp và ra quyết định về việc rút ngắn thời gian thử thách; quyết định phải
nêu rõ việc chấp nhận hoặc không chấp nhận rút ngắn thời gian thử thách đối với
người được hưởng án treo.
Phiên họp phải có sự tham gia của Kiểm sát viên Viện kiểm
sát cùng cấp. Trường hợp hồ sơ phải bổ sung theo yêu cầu của Tòa án thì thời hạn
mở phiên họp được tính từ ngày nhận được hồ sơ bổ sung.
6. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định,
Tòa án phải gửi quyết định đó cho người chấp hành án, Viện kiểm sát cùng cấp,
Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp, cơ quan đề nghị rút ngắn thời gian thử thách,
Tòa án đã ra quyết định cho hưởng án treo.
Điều 86. Việc
kiểm điểm người được hưởng án treo
1. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo
thuộc một trong các trường hợp sau đây thì Công an cấp xã, đơn vị quân đội được
giao giám sát tổ chức kiểm điểm:
a) Vi phạm nghĩa vụ quy định tại các khoản 2, 3, 4, 5 và
6 Điều 82 của Luật này và đã bị nhắc nhở bằng văn bản về việc vi phạm mà tiếp tục
vi phạm;
b) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính;
c) Thực hiện một trong các hành vi thuộc trường hợp bị áp
dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, đặc khu theo quy định của pháp luật về
xử lý vi phạm hành chính.
2. Việc kiểm điểm phải được lập thành biên bản, lưu hồ sơ
và báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án
hình sự cấp quân khu.
Điều 87. Giải
quyết việc vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc của
người được hưởng án treo
1. Người được hưởng án treo có thể vắng mặt tại nơi cư
trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2 Điều
này, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời
gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 30 ngày và tổng số thời gian vắng
mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian thử thách, trừ trường
hợp quy định tại Điều 88 của Luật này hoặc trường hợp người được hưởng án treo
bị bệnh phải điều trị tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo chỉ định của bác sĩ
và có xác nhận điều trị của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đó.
2. Người được hưởng án treo khi vắng mặt tại nơi cư trú
phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của Công an cấp xã, đơn vị quân đội được
giao quản lý, giám sát, giáo dục; trường hợp không đồng ý thì Công an cấp xã,
đơn vị quân đội phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.
Trường hợp do tình trạng khẩn cấp, lý do bất khả kháng hoặc
trở ngại khách quan tại nơi cư trú, người được hưởng án treo phải có đơn xin
phép ngay sau khi không còn lý do vắng mặt.
Người được hưởng án treo khi đến nơi cư trú mới phải
trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm
trú, lưu trú phải có xác nhận của Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú.
Trường hợp người được hưởng án treo vi phạm pháp luật,
Công an cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho Công an cấp
xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có
liên quan.
3. Việc giải quyết trường hợp người được hưởng án treo
thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thực hiện theo quy định tại Điều 66 của
Luật này.
4. Người được hưởng án treo bị tạm hoãn xuất cảnh trong
thời gian thử thách.
Điều 88. Giải
quyết trường hợp người được hưởng án treo có nguyện vọng làm việc, học tập
ngoài nơi cư trú
1. Trường hợp người được hưởng án treo có nguyện vọng lựa
chọn làm việc, học tập ngoài nơi cư trú thì phải xin phép và được sự đồng ý bằng
văn bản của Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục;
trường hợp không đồng ý thì Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý,
giám sát, giáo dục phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.
2. Người được hưởng án treo có trách nhiệm báo cáo Công
an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục về kế hoạch
lao động, hợp đồng lao động, chương trình học tập có xác nhận của cơ quan, tổ
chức, cá nhân nơi người đó làm việc, học tập.
3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc sau khi được Công an cấp
xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục đồng ý về việc cho
người được hưởng án treo làm việc, học tập ngoài nơi cư trú thì người được hưởng
án treo phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến làm việc, học tập; khi kết
thúc hợp đồng lao động, kết thúc học tập phải có xác nhận của Công an cấp xã tại
nơi họ làm việc, học tập.
4. Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý,
giám sát, giáo dục người được hưởng án treo phải thông báo cho cơ quan thi hành
án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu về việc
giải quyết cho người được hưởng án treo ra khỏi nơi cư trú để làm việc, học tập.
5. Người được hưởng án treo trong thời gian làm việc, học
tập ngoài nơi cư trú phải chấp hành nghiêm chỉnh nghĩa vụ của mình.
Trường hợp người được hưởng án treo vi phạm pháp luật tại
nơi làm việc, học tập, Công an cấp xã nơi người đó đến làm việc, học tập phải
thông báo cho Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo
dục để phối hợp giải quyết.
Điều 89. Xử
lý vi phạm đối với người được hưởng án treo
1. Trường hợp người được hưởng án treo vi phạm nghĩa vụ
quy định tại khoản 1 Điều 82 của Luật này thì Công an cấp xã, đơn vị quân đội lập
biên bản vi phạm, đồng thời yêu cầu người được hưởng án treo phải có mặt trong
thời hạn 05 ngày kể từ ngày lập biên bản vi phạm. Hếu thời hạn này mà người được
hưởng án treo vẫn không có mặt thì Công an cấp xã, đơn vị quân đội lập biên bản
vi phạm và báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi
hành án hình sự cấp quân khu đề nghị Tòa án nhân dân khu vực nơi người được hưởng
án treo cư trú. Tòa án quân sự khu vực nơi người được hưởng án treo làm việc
quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án
treo.
2. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án
treo đã bị kiểm điểm theo quy định tại Điều 86 của Luật này nhưng sau khi kiểm
điểm vẫn tiếp tục vi phạm và đã được nhắc nhở bằng văn bản mà vẫn cố ý vi phạm
thì Công an cấp xã, đơn vị quân đội báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an
cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu tiến hành trình tự, thủ tục
đề nghị Tòa án có thẩm quyền quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt
tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp người được hưởng án treo bỏ đi khỏi nơi cư
trú, nơi làm việc không xin phép, Công an cấp xã, đơn vị quân đội lập biên bản
vi phạm nghĩa vụ, nhắc nhở bằng văn bản và triệu tập người được hưởng án treo đến
làm việc nhưng họ vẫn không có mặt thì thực hiện kiểm điểm vắng mặt và lập biên
bản kiểm điểm vắng mặt. Sau khi kiểm điểm, Công an cấp xã, đơn vị quân đội tiếp
tục triệu tập người được hưởng án treo đến làm việc mà họ vẫn không có mặt thì
lập biên bản và nhắc nhở bằng văn bản, tiếp tục triệu tập nhưng họ vẫn không có
mặt thì Công an cấp xã, đơn vị quân đội lập biên bản xác nhận sự vắng mặt và
báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình
sự cấp quân khu tiến hành trình tự, thủ tục đề nghị Tòa án có thẩm quyền quyết
định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được
báo cáo, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình
sự cấp quân khu lập hồ sơ đề nghị buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho
hưởng án treo gửi Tòa án có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều này để xem
xét, quyết định, đồng thời gửi Viện kiểm sát cùng cấp với Tòa án. Hồ sơ bao gồm:
a) Văn bản đề nghị của cơ quan thi hành án hình sự Công
an cấp tỉnh hoặc cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu;
b) Báo cáo của Công an cấp xã hoặc của đơn vị quân đội được
giao quản lý, giám sát, giáo dục người được hưởng án treo về việc người được hưởng
án treo vi phạm nghĩa vụ từ 02 lần trở lên;
c) Biên bản người được hưởng án treo vi phạm nghĩa vụ;
d) Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với người được
hưởng án treo trong trường hợp người đó bị xử phạt vi phạm hành chính;
đ) Biên bản kiểm điểm người được hưởng án treo vi phạm
nghĩa vụ;
e) Tài liệu khác có liên quan.
4. Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ
sơ đề nghị, Chánh án Tòa án nhân dân khu vực, Chánh án Tòa án quân sự khu vực
nơi người được hưởng án treo cư trú hoặc làm việc phân công 01 Thẩm phán chủ
trì phiên họp để xét buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án
treo. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải mở phiên
họp xét buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo và ra quyết
định về việc buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo; quyết
định phải nêu rõ việc chấp nhận hoặc không chấp nhận đề nghị buộc chấp hành
hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Phiên họp có sự tham gia của Kiểm sát viên Viện kiểm sát
cùng cấp. Trường hợp hồ sơ phải bổ sung theo yêu cầu của Tòa án thì thời hạn mở
phiên họp được tính từ ngày nhận được hồ sơ bổ sung.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định
về việc buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo, Tòa án phải
gửi quyết định cho cá nhân, cơ quan quy định tại khoản 2 Điều 79 của Luật này.
5. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày quyết định
của Tòa án có hiệu lực pháp luật, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh,
cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu phải làm thủ tục đưa người bị buộc chấp
hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo đi chấp hành án phạt tù. Trường
hợp người bị Tòa án quyết định chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng
án treo bỏ trốn thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi
hành án hình sự cấp quân khu ra quyết định truy nã và tổ chức truy bắt.
Trường hợp Tòa án không chấp nhận đề nghị buộc chấp hành
hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo thì cơ quan thi hành án hình sự
Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu lưu quyết định và
các tài liệu có liên quan vào hồ sơ thi hành án treo và thông báo quyết định
cho Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục người
được hưởng án treo để tiếp tục quản lý, giám sát, giáo dục.
6. Trường hợp người được hưởng án treo bị áp dụng các biện
pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng, cơ sở
cai nghiện bắt buộc thì Công an cấp xã phối hợp cơ quan đó để quản lý, giám
sát, giáo dục họ.
7. Trường hợp người được hưởng án treo bị khởi tố bị can
nhưng chưa bị tạm giam thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ
quan thi hành án hình sự cấp quân khu, Công an cấp xã, đơn vị quân đội phối hợp
với cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng đang thụ lý vụ án để phục vụ việc
quản lý, giám sát, giáo dục họ.
Điều 90.
Trách nhiệm quản lý, giám sát, giáo dục của cơ quan, tổ chức và gia đình đối với
người được hưởng án treo
1. Cơ quan, tổ chức có liên quan có trách nhiệm phối hợp
với Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã, đơn vị quân đội trong việc quản lý,
giám sát, giáo dục người được hưởng án treo.
2. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, lực
lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở phân công người tham gia quản
lý, giám sát, giáo dục người chấp hành án treo theo quyết định của Chủ tịch Ủy
ban nhân dân cấp xã.
3. Gia đình người được hưởng án treo có trách nhiệm phối
hợp trong việc quản lý, giám sát, giáo dục và thông báo kết quả chấp hành án của
người được hưởng án treo cho Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã, đơn vị
quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục khi có yêu cầu; phải có mặt tại
cuộc họp kiểm điểm người được hưởng án treo theo yêu cầu của Ủy ban nhân dân cấp
xã, Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục.
Mục 2
THI HÀNH ÁN PHẠT CẢNH CÁO
Điều 91. Thi
hành án phạt cảnh cáo
1. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày bản án có
hiệu lực pháp luật, Tòa án đã xét xử sơ thẩm phải gửi bản án cho người bị phạt
cảnh cáo, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án
hình sự cấp quân khu, Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã, đơn vị quân đội
nơi người bị phạt cảnh cáo cư trú hoặc làm việc.
2. Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan
thi hành án hình sự cấp quân khu có trách nhiệm theo dõi, thống kê, báo cáo
theo quy định của Luật này.
Mục 3
THI HÀNH ÁN PHẠT CẢI TẠO KHÔNG GIAM GIỮ
Điều 92. Quyết
định thi hành án phạt cải tạo không giam giữ
1. Quyết định thi hành án phạt cải tạo không giam giữ phải
ghi rõ họ tên, chức vụ người ra quyết định; bản án, quyết định được thi hành; họ
tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi cư trú của người chấp hành án; thời hạn chấp
hành án phạt cải tạo không giam giữ; hình phạt bổ sung, trừ hình phạt bổ sung
là hình phạt tiền; nơi chấp hành án, tên cơ quan có nhiệm vụ thi hành; Ủy ban
nhân dân cấp xã, Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát,
giáo dục người chấp hành án.
2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định
thi hành án phạt cải tạo không giam giữ, Tòa án phải gửi quyết định đó cho cá
nhân, cơ quan sau đây:
a) Người chấp hành án, người đại diện trong trường hợp
người chấp hành án là người dưới 18 tuổi;
b) Viện kiểm sát cùng cấp;
c) Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh nơi Ủy
ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã được giao quản lý, giám sát, giáo dục người
chấp hành án, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi người chấp hành án
làm việc;
d) Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã, đơn vị quân đội
được giao quản lý, giám sát, giáo dục người chấp hành án.
Điều 93. Thi
hành quyết định thi hành án phạt cải tạo không giam giữ
1. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được
quyết định thi hành án phạt cải tạo không giam giữ, Công an cấp xã, cơ quan thi
hành án hình sự cấp quân khu phải triệu tập người chấp hành án, người đại diện
trong trường hợp người chấp hành án là người dưới 18 tuổi đến trụ sở Công an cấp
xã nơi người đó cư trú, đơn vị quân đội nơi người đó làm việc để cam kết việc
chấp hành án. Người chấp hành án, người đại diện của người chấp hành án phải có
mặt theo giấy triệu tập, trừ trường hợp do tình trạng khẩn cấp, lý do bất khả
kháng hoặc trở ngại khách quan.
Trường hợp người chấp hành án không có mặt theo giấy triệu
tập hoặc không cam kết thì Công an cấp xã, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân
khu lập biên bản vi phạm nghĩa vụ.
2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được
quyết định thi hành án, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan
thi hành án hình sự cấp quân khu lập hồ sơ thi hành án và bàn giao cho Công an
cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục người chấp hành
án. Hồ sơ bao gồm:
a) Bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật;
b) Quyết định thi hành án;
c) Cam kết của người chấp hành án. Đối với người chấp
hành án là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thì bản cam kết của người đó phải
có xác nhận của người đại diện;
d) Bản nhận xét của Công an cấp xã, đơn vị quân đội được
giao quản lý, giám sát, giáo dục về việc chấp hành nghĩa vụ của người chấp hành
án;
d) Bản tự nhận xét việc thực hiện nghĩa vụ của người chấp
hành án;
e) Trường hợp được giảm thời hạn chấp hành án, miễn chấp
hành án phạt cải tạo không giam giữ thì phải có quyết định của Tòa án;
g) Tài liệu khác có liên quan.
3. Trong thời gian chấp hành án, Công an cấp xã, đơn vị
quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục thực hiện các biện pháp quản lý,
giám sát, giáo dục người chấp hành án, phòng ngừa người chấp hành án vi phạm
nghĩa vụ, vi phạm pháp luật; hằng tháng, đánh giá, nhận xét và báo cáo cơ quan
thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu
kết quả quản lý, giám sát, giáo dục người chấp hành án.
4. 03 ngày trước khi hết thời hạn chấp hành án hoặc kể từ
ngày nhận được quyết định miễn, giảm hết thời hạn chấp hành án, Công an cấp xã,
đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục bàn giao hồ sơ thi hành
án cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự
cấp quân khu.
Vào ngày cuối cùng của thời hạn chấp hành án phạt cải tạo
không giam giữ hoặc ngày quyết định miễn, giảm hết thời hạn chấp hành án có hiệu
lực, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự
cấp quân khu phải cấp chứng nhận chấp hành xong án phạt cải tạo không giam giữ.
Chứng nhận phải gửi cho người chấp hành án, Ủy ban nhân
dân cấp xã, Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục,
Tòa án đã ra quyết định thi hành án, Viện kiểm sát có thẩm quyền.
Trường hợp người chấp hành án bỏ đi khỏi địa phương chưa
xác định nơi cư trú cụ thể hoặc đang bị cơ quan, người có thẩm quyền xử lý vì
hành vi vi phạm pháp luật hình sự thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh,
cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu chưa cấp chứng nhận chấp hành xong án
phạt cải tạo không giam giữ.
5. Trường hợp người chấp hành án chết, Công an cấp xã,
đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục thông báo và bàn giao hồ
sơ thi hành án cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi
hành án hình sự cấp quân khu để thông báo cho Tòa án đã ra quyết định thi hành
án.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được
thông báo, Tòa án đã ra quyết định thi hành án phải ra quyết định đình chỉ thi
hành án và gửi cho cơ quan quy định tại các điểm b, c và d khoản 2 Điều 92 của
Luật này.
Điều 94. Nhiệm
vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã, đơn vị quân đội được
giao quản lý, giám sát, giáo dục người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ
1. Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý, giám sát, giáo dục người
chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ.
2. Công an cấp xã có nhiệm vụ trực tiếp giúp Ủy ban nhân
dân cấp xã quản lý, giám sát, giáo dục người chấp hành án phạt cải tạo không
giam giữ và có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Tiếp nhận hồ sơ, tổ chức quản lý, giám sát, giáo dục
người chấp hành án; bàn giao hồ sơ cho cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền
theo quy định của Luật này;
b) Yêu cầu người chấp hành án thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của
mình; có biện pháp giáo dục, phòng ngừa khi người đó có dấu hiệu vi phạm pháp
luật;
c) Biểu dương người chấp hành án có nhiều tiến bộ hoặc lập
công;
d) Giải quyết cho người chấp hành án được vắng mặt hoặc
thay đổi nơi cư trú theo quy định của Luật này và pháp luật về cư trú; giải quyết
trường hợp người chấp hành án ra khỏi nơi cư trú để làm việc, học tập;
đ) Phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức
thành viên, gia đình và cơ quan, tổ chức nơi người chấp hành án làm việc, học tập
trong việc quản lý, giám sát, giáo dục người đó;
e) Báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh để
đề nghị Tòa án có thẩm quyền xem xét, quyết định giảm thời hạn chấp hành án, miễn
chấp hành án;
g) Phối hợp với cơ quan thi hành án dân sự thực hiện khấu
trừ một phần thu nhập của người chấp hành án theo quyết định của Tòa án để sung
quỹ nhà nước;
h) Tổ chức giám sát người chấp hành án thực hiện một số
công việc lao động phục vụ cộng đồng;
i) Đề nghị cơ quan, người có thẩm quyền xử phạt vi phạm
hành chính hoặc xem xét, truy cứu trách nhiệm hình sự người chấp hành án trong
trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 102 của Luật này;
k)Hằng tháng, nhận xét bằng văn bản về quá trình chấp
hành án của người chấp hành án và lưu hồ sơ;
l) Báo cáo cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền về kết
quả thi hành án.
3. Trưởng Công an cấp xã có trách nhiệm báo cáo định kỳ
hoặc theo yêu cầu của Ủy ban nhân dân cấp xã về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền
hạn theo quy định tại khoản 2 Điều này.
4. Đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục
người chấp hành án có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại các điểm a, b, c, g,
i, k và l khoản 2 Điều này;
b) Phối hợp với Công an cấp xã giải quyết cho người chấp
hành án được vắng mặt hoặc thay đổi nơi cư trú theo quy định của Luật này và
pháp luật về cư trú;
c) Phối hợp với gia đình và Ủy ban nhân dân cấp xã, Công
an cấp xã nơi người chấp hành án cư trú trong việc quản lý, giám sát, giáo dục
người đó;
d) Báo cáo cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu để đề
nghị Tòa án có thẩm quyền xem xét, quyết định giảm thời hạn chấp hành án, miễn
chấp hành án.
Điều 95.
Nghĩa vụ của người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ
1. Có mặt theo giấy triệu tập và cam kết việc chấp hành
án theo quy định tại khoản 1 Điều 93 của Luật này.
2. Chấp hành nghiêm chỉnh cam kết tuân thủ pháp luật, thực
hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân, nội quy, quy chế của nơi cư trú, nơi làm việc;
tích cực tham gia lao động, học tập; chấp hành đầy đủ nghĩa vụ bồi thường thiệt
hại, các hình phạt bổ sung theo bản án của Tòa án.
3. Thực hiện nghĩa vụ nộp phần thu nhập bị khấu trừ; thực
hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng theo quy định của pháp luật.
4. Chấp hành sự quản lý, giám sát, giáo dục của Ủy ban
nhân dân cấp xã, Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát,
giáo dục, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi cư trú, nơi làm việc; chỉ
được cư trú trên địa giới hành chính cấp xã theo quyết định thi hành án của Tòa
án có thẩm quyền, trừ trường hợp quy định tại Điều 96 và Điều 97 của Luật này.
5. Chấp hành quy định tại Điều 96 của Luật này.
6. Có mặt theo yêu cầu của Ủy ban nhân dân cấp xã, Công
an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục, cơ quan thi
hành án hình sự cấp quân khu.
7. Hằng tháng, phải báo cáo bằng văn bản với Ủy ban nhân
dân cấp xã, Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục
về tình hình chấp hành nghĩa vụ của mình. Trường hợp vắng mặt theo quy định tại
khoản 1 Điều 96 của Luật này thì khi hết thời hạn vắng mặt, người chấp hành án
phải báo cáo về tình hình chấp hành nghĩa vụ của mình.
Điều 96. Giải
quyết việc vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc của
người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ
1. Người chấp hành án có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu
có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2 Điều này, phải
thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú.
Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 30
ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần
ba thời gian chấp hành án, trừ trường hợp quy định tại Điều 97 của Luật này hoặc
trường hợp người chấp hành án bị bệnh phải điều trị tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
theo chỉ định của bác sĩ và có xác nhận điều trị của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
đó.
2. Người chấp hành án khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có
đơn xin phép và được sự đồng ý của Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản
lý, giám sát, giáo dục; trường hợp không đồng ý thì Công an cấp xã, đơn vị quân
đội phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.
Trường hợp do tình trạng khẩn cấp, lý do bất khả kháng hoặc
trở ngại khách quan mà vắng mặt tại nơi cư trú, người chấp hành án phạt cải tạo
không giam giữ phải có đơn xin phép ngay sau khi không còn lý do vắng mặt.
Người chấp hành án khi đến nơi cư trú mới phải trình báo
với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú
phải có xác nhận của Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú.
Trường hợp người chấp hành án vi phạm pháp luật, Công an
cấp xã nơi người đó đến lưu trú phải thông báo cho Công an cấp xã, đơn vị quân
đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có liên quan.
3. Việc giải quyết trường hợp người chấp hành án thay đổi
nơi cư trú hoặc nơi làm việc trong quân đội thực hiện theo quy định tại Điều 66
của Luật này.
4. Người chấp hành án bị tạm hoãn xuất cảnh trong thời
gian chấp hành án.
Điều 97. Giải
quyết trường hợp người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ có nguyện vọng
làm việc, học tập ngoài nơi cư trú
1. Trường hợp người chấp hành án phạt cải tạo không giam
giữ có nguyện vọng lựa chọn việc làm, học tập ngoài nơi cư trú thì phải xin
phép và được sự đồng ý bằng văn bản của Công an cấp xã, đơn vị quân đội được
giao quản lý, giám sát, giáo dục; trường hợp không đồng ý thì Công an cấp xã,
đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục phải trả lời bằng văn bản
và nêu rõ lý do.
2. Người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ có
trách nhiệm báo cáo Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám
sát, giáo dục về kế hoạch lao động, hợp đồng lao động, chương trình học tập có
xác nhận của cơ quan, tổ chức, cá nhân nơi người đó làm việc, học tập.
3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc sau khi được Công an cấp
xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục đồng ý về việc cho
người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ làm việc ngoài nơi cư trú thì
người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ phải trình báo với Công an cấp
xã nơi mình đến làm việc, học tập; khi kết thúc hợp đồng lao động, chương trình
học tập phải có xác nhận của Công an cấp xã tại nơi mình làm việc, học tập.
4. Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý,
giám sát, giáo dục người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ phải thông
báo cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình
sự cấp quân khu về việc giải quyết cho người chấp hành án phạt cải tạo không
giam giữ đi khỏi nơi cư trú để làm việc, học tập.
5. Người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ trong
thời gian làm việc, học tập ngoài nơi cư trú phải chấp hành nghiêm chỉnh nghĩa
vụ của mình. Trường hợp người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ vi phạm
pháp luật tại nơi làm việc, học tập, Công an cấp xã nơi người đó đến làm việc,
học tập phải thông báo cho Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý,
giám sát, giáo dục người này để phối hợp giải quyết.
Điều 98. Việc
lao động, học tập của người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ
1. Người chấp hành án là cán bộ, công chức, viên chức, sĩ
quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, chiến sĩ, công nhân và viên chức quốc
phòng, công nhân công an, người lao động nếu được tiếp tục làm việc tại cơ
quan, tổ chức thì được bố trí công việc bảo đảm yêu cầu quản lý, giám sát, giáo
dục, được hưởng tiền lương và chế độ khác phù hợp với công việc mà họ đảm nhiệm,
được tính vào thời gian công tác, thời gian lại ngũ theo quy định của pháp luật.
2. Người chấp hành án được cơ sở giáo dục phổ thông, giáo
dục nghề nghiệp tiếp nhận học tập thì được hưởng quyền lợi theo quy chế của cơ
sở đó.
3. Người chấp hành án không thuộc trường hợp quy định tại
khoản 1 và khoản 2 Điều này được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó chấp hành
án tạo điều kiện tìm việc làm.
4. Người chấp hành án thuộc đối tượng được hưởng chế độ
ưu đãi người có công với cách mạng, người đang hưởng chế độ bảo hiểm xã hội thì
thực hiện theo quy định của pháp luật.
5. Người chấp hành án không có việc làm hoặc bị mất việc
làm trong thời gian chấp hành án thì phải thực hiện một số công việc lao động
phục vụ cộng đồng.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày người chấp
hành án được xác định là không có việc làm hoặc bị mất việc làm, Công an cấp xã
có trách nhiệm báo cáo Ủy ban nhân dân cấp xã. Trong thời hạn 03 ngày làm việc
kể từ ngày nhận được báo cáo, Ủy ban nhân dân cấp xã phải xem xét, quyết định
buộc người chấp hành án thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng.
Quyết định của Ủy ban nhân dân cấp xã phải nêu rõ loại công việc, thời gian lao
động phục vụ cộng đồng dự kiến buộc người chấp hành án phải thực hiện. Công an
cấp xã có trách nhiệm giám sát người chấp hành án thực hiện một số công việc
lao động phục vụ cộng đồng.
Ngay sau khi người chấp hành án có việc làm, Công an cấp
xã báo cáo Ủy ban nhân dân cấp xã để ra quyết định chấm dứt việc lao động phục
vụ cộng đồng.
Điều 99. Giảm
thời hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ
1. Người chấp hành án có thể được giảm thời hạn chấp hành
án khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Đã chấp hành được một phần ba thời hạn án phạt; đối với
người dưới 18 tuổi thì phải chấp hành được một phần tư thời hạn án phạt;
b) Trong thời gian chấp hành án phạt cải tạo không giam
giữ người chấp hành án đã chấp hành nghiêm chỉnh các nghĩa vụ theo quy định tại
Điều 95 của Luật này; tích cực học tập, lao động, sửa chữa lỗi lầm hoặc lập
thành tích trong lao động, bảo đảm an ninh, trật tự được cơ quan nhà nước có thẩm
quyền khen thưởng;
c) Bồi thường được một phần nghĩa vụ dân sự trong trường
hợp có nghĩa vụ dân sự;
d) Có đơn đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt cải tạo
không giam giữ.
2. Người chấp hành án mỗi năm có thể được xét giảm thời hạn
chấp hành án 01 lần, mỗi lần có thể được giảm từ 03 tháng đến 09 tháng.
3. Người chấp hành án có thể được giảm thời hạn chấp hành
án nhiều lần nhưng phải bảo đảm thời gian thực tế chấp hành án là một phần hai
mức án, đối với người chấp hành án là người dưới 18 tuổi thì phải bảo đảm thời
gian thực tế chấp hành án là hai phần năm mức án.
4. Người chấp hành án đã lập công, người đã quá già yếu
hoặc người bị bệnh hiểm nghèo đã chấp hành được một phần tư thời hạn án phạt
thì có thể được xét giảm thời hạn chấp hành án, mức giảm mỗi lần cao nhất là 01
năm nhưng phải bảo đảm thời gian thực tế chấp hành án là hai phần năm mức án.
5. Người chấp hành án là người dưới 18 tuổi nếu lập công
hoặc bị bệnh hiểm nghèo thì được xét giảm ngay. Trường hợp đã chấp hành được
hai phần năm mức án thì có thể được giảm hết thời hạn còn lại.
Điều 100. Thủ
tục giảm thời hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ
1. Việc giảm thời hạn chấp hành án phạt cải tạo không
giam giữ được thực hiện mỗi năm 03 đợt, vào dịp tết Dương lịch, ngày Chiến thắng
và Quốc khánh.
2. Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý,
giám sát, giáo dục người chấp hành án có trách nhiệm rà soát người đủ điều kiện
giảm thời hạn chấp hành án, báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh,
cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu kèm theo tài liệu có liên quan để đề
nghị giảm thời hạn chấp hành án.
3. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được báo cáo,
cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp
quân khu lập hồ sơ và có văn bản đề nghị giảm thời hạn chấp hành án đối với người
có đủ điều kiện gửi đến Tòa án và Viện kiểm sát có thẩm quyền. Trường hợp xét
thấy không đủ điều kiện lập hồ sơ giảm thời hạn chấp hành án, cơ quan thi hành
án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu có văn bản
thông báo cho Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo
dục người chấp hành án.
4. Hồ sơ đề nghị giảm thời hạn chấp hành án bao gồm:
a) Văn bản của cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh,
cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt
cải tạo không giam giữ:
b) Đơn đề nghị giảm thời hạn chấp hành án của người chấp
hành án;
c) Bản sao bản án. Đối với trường hợp xét giảm thời hạn
chấp hành án từ lần thứ hai thì bản sao bản án được thay bằng bản sao quyết định
thi hành án;
d) Báo cáo đề nghị giảm thời hạn chấp hành án của Công an
cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục người chấp hành
án;
d) Trường hợp người chấp hành án được khen thưởng hoặc lập
công thì hồ sơ phải có quyết định khen thưởng hoặc giấy xác nhận của cơ quan có
thẩm quyền về việc người chấp hành án lập công; trường hợp bị bệnh hiểm nghèo
thì phải có kết luận về tình trạng bệnh của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đang điều
trị cho người chấp hành án, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cấp cơ bản trở lên; tài
liệu thể hiện đã thực hiện được một phần nghĩa vụ dân sự;
e) Trường hợp người chấp hành án đã được giảm thời hạn chấp
hành án thì phải có bản sao quyết định giảm thời hạn chấp hành án;
g) Tài liệu khác có liên quan.
5. Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ
sơ đề nghị giảm thời hạn chấp hành án, Chánh án Tòa án nhân dân khu vực, Chánh
án Tòa án quân sự khu vực nơi người chấp hành án cư trú, làm việc phân công 01
Thẩm phán chủ trì phiên họp để xét giảm thời hạn chấp hành án phạt cải tạo
không giam giữ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày được phân công, Thẩm
phán phải mở phiên họp xét giảm thời hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam
giữ và ra quyết định về việc giảm thời hạn chấp hành án; quyết định phải nêu rõ
việc chấp nhận hoặc không chấp nhận giảm thời hạn chấp hành án phạt cải tạo
không giam giữ.
Phiên họp phải có sự tham gia của Kiểm sát viên Viện kiểm
sát cùng cấp. Trường hợp hồ sơ phải bổ sung theo yêu cầu của Tòa án thì thời hạn
mở phiên họp được tính từ ngày nhận được hồ sơ bổ sung.
6. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định,
Tòa án phải gửi quyết định đó cho người chấp hành án, Viện kiểm sát cùng cấp,
Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp, cơ quan đề nghị giảm thời hạn chấp hành án,
Tòa án đã ra quyết định thi hành án.
Điều 101. Thủ
tục miễn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ
1. Viện kiểm sát nhân dân khu vực, Viện kiểm sát quân sự
khu vực nơi người chấp hành án đang cư trú, làm việc, tự mình hoặc theo đề nghị
của cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp
quân khu xem xét, lập hồ sơ đề nghị Tòa án cùng cấp xét miễn chấp hành án. Hồ
sơ bao gồm:
a) Bản sao bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp
luật;
b) Văn bản đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát;
c) Văn bản đề nghị của cơ quan thi hành án hình sự trong
trường hợp cơ quan này đề nghị;
d) Đơn xin miễn chấp hành án của người bị kết án hoặc người
đại diện theo quy định của pháp luật;
đ) Xác nhận của cơ quan có thẩm quyền về việc người bị kết
án đã lập công; kết luận về tình trạng bệnh của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đang
điều trị cho người chấp hành án hoặc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cấp cơ bản trở
lên; xác nhận của cơ quan có thẩm quyền về việc người bị kết án chấp hành tốt
pháp luật, có hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn.
2. Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ
sơ quy định tại khoản 1 Điều này, Chánh án Tòa án có thẩm quyền phân công 01 Thẩm
phán chủ trì phiên họp để xét miễn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ.
Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải mở phiên họp
xét miễn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ và ra quyết định về việc miễn
chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ; quyết định phải nêu rõ việc chấp nhận
hoặc không chấp nhận miễn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ.
Phiên họp phải có sự tham gia của Kiểm sát viên Viện kiểm
sát cùng cấp. Trường hợp hồ sơ phải bổ sung theo yêu cầu của Tòa án thì thời hạn
mở phiên họp được tính từ ngày nhận được hồ sơ bổ sung.
3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định
về việc miễn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ, Tòa án phải gửi quyết định
đó cho người bị kết án, Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp,
Tòa án đã ra quyết định thi hành án, Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao
quản lý, giám sát, giáo dục người chấp hành án.
Điều 102. Xử
lý vi phạm đối với người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ
1. Trường hợp người chấp hành án cố ý vi phạm nghĩa vụ
quy định tại Điều 95 của Luật này thì Công an cấp xã, đơn vị quân đội lập biên
bản về việc vi phạm.
2. Trường hợp đã lập biên bản về việc vi phạm nghĩa vụ 02
lần nhưng người chấp hành án vẫn tiếp tục vi phạm hoặc đã bị xử phạt vi phạm
hành chính hoặc thực hiện một trong các hành vi thuộc trường hợp bị áp dụng biện
pháp giáo dục tại xã, phường, đặc khu theo quy định của pháp luật về xử lý vi
phạm hành chính thì Công an cấp xã tổ chức kiểm điểm người đó; trường hợp người
chấp hành án do đơn vị quân đội quản lý, giám sát, giáo dục thì đơn vị quân đội
tổ chức kiểm điểm người đó. Việc kiểm điểm phải được lập thành biên bản, lưu hồ
sơ và báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án
hình sự cấp quân khu.
3. Người chấp hành án đã bị kiểm điểm nhưng tiếp tục cố ý
không chấp hành nghĩa vụ hoặc tiếp tục bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc tiếp
tục thực hiện một trong các hành vi thuộc trường hợp bị áp dụng biện pháp giáo
dục tại xã, phường, đặc khu theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành
chính thì không được xem xét giảm thời hạn chấp hành án và Công an cấp xã, đơn
vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục báo cáo cơ quan thi hành án
hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu đề nghị Tòa
án có thẩm quyền xử lý. Tùy theo tính chất, mức độ của hành vi vi phạm, Công an
cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục đề nghị cơ quan,
người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính hoặc xem xét truy cứu trách nhiệm
hình sự.
4. Trường hợp người chấp hành án phạt cải tạo không giam
giữ bị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc,
trường giáo dưỡng, cơ sở cai nghiện bắt buộc thì Công an cấp xã phối hợp cơ
quan đó để quản lý, giám sát, giáo dục họ.
5. Trường hợp người chấp hành án phạt cải tạo không giam
giữ bị khởi tố bị can nhưng chưa bị tạm giam thì cơ quan thi hành án hình sự
Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu, Công an cấp xã, đơn
vị quân đội phối hợp với cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng đang thụ lý vụ
án để phục vụ việc quản lý, giám sát, giáo dục họ.
Điều 103.
Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức và gia đình đối với người chấp hành án phạt cải
tạo không giam giữ
1. Cơ quan, tổ chức có liên quan có trách nhiệm phối hợp
với Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã, đơn vị quân đội trong việc quản lý,
giám sát, giáo dục người chấp hành án.
2. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, lực
lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở phân công người tham gia quản
lý, giám sát, giáo dục người chấp hành án theo quyết định của Chủ tịch Ủy ban
nhân dân cấp xã.
3. Gia đình người chấp hành án có trách nhiệm phối hợp
trong việc quản lý, giám sát, giáo dục và thông báo kết quả chấp hành án của
người chấp hành án cho Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã được giao quản
lý, giám sát, giáo dục khi có yêu cầu; phải có mặt tại cuộc họp kiểm điểm người
chấp hành án theo yêu cầu của Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã, đơn vị
quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục.
Chương V
THI HÀNH ÁN PHẠT CẤM CƯ TRÚ, QUẢN CHẾ
Mục 1
THI HÀNH ÁN PHẠT CẤM CƯ TRÚ
Điều 104. Thủ
tục thi hành án phạt cấm cư trú
1. 02 tháng trước khi hết thời hạn chấp hành án phạt tù đối
với phạm nhân có hình phạt bổ sung là cấm cư trú, Giám thị trại giam, Giám thị
trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan
thi hành án hình sự cấp quân khu có trách nhiệm thông báo bằng văn bản về nội
dung quy định tại khoản 1 Điều 44 của Luật này cho Công an cấp xã nơi người đó
về cư trú và nơi người đó bị cấm cư trú.
2. Ngay sau khi phạm nhân có hình phạt bổ sung là cấm cư
trú chấp hành xong án phạt tù, trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án
hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi người đó
chấp hành án phải gửi chứng nhận chấp hành xong án phạt tù, bản sao bản án, bản
sao quyết định thi hành án cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh nơi
người chấp hành án về cư trú.
3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được
các văn bản quy định tại khoản 2 Điều này, cơ quan thi hành án hình sự Công an
cấp tỉnh nơi người chấp hành án về cư trú có trách nhiệm lập hồ sơ thi hành án
phạt cấm cư trú và bàn giao cho Công an cấp xã nơi người chấp hành án về cư
trú, thông báo Công an cấp xã nơi người chấp hành án bị cấm cư trú.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ
sơ thi hành án, Công an cấp xã nơi người chấp hành án về cư trú triệu tập người
chấp hành án đến trụ sở, yêu cầu cam kết việc chấp hành án và sao gửi các tài
liệu cho Công an cấp xã nơi người chấp hành án bị cấm cư trú.
Trường hợp người chấp hành án thay đổi nơi cư trú, Công
an cấp xã báo cáo và bàn giao hồ sơ thi hành án cho cơ quan thi hành án hình sự
Công an cấp tỉnh để bàn giao cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh,
Công an cấp xã nơi người chấp hành án đến cư trú.
4. Hồ sơ thi hành án phạt cấm cư trú bao gồm:
a) Bản sao bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp
luật;
b) Bản sao quyết định thi hành án phạt tù;
c) Chứng nhận chấp hành xong án phạt tù;
d) Cam kết của người chấp hành án; nhận xét về quá trình
chấp hành án phạt cấm cư trú:
đ) Biên bản vi phạm nghĩa vụ của người chấp hành án (nếu
có);
e) Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với người chấp
hành án (nếu có);
g) Quyết định của Tòa án về miễn chấp hành thời hạn cấm
cư trú còn lại (nếu có);
h) Tài liệu khác có liên quan.
5. 03 ngày trước khi hết thời hạn cấm cư trú hoặc trong
thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được quyết định miễn chấp hành thời hạn cấm cư
trú còn lại, Công an cấp xã nơi người chấp hành án cư trú bàn giao hồ sơ thi
hành án cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh để cấp chứng nhận chấp
hành xong án phạt cấm cư trú. Chứng nhận phải gửi cho người chấp hành án, Công
an cấp xã nơi người chấp hành án bị cấm cư trú, Tòa án đã ra quyết định thi
hành án.
6. Trường hợp người chấp hành án chết, Công an cấp xã
thông báo cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh để thông báo cho Tòa
án đã ra quyết định thi hành án.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được
thông báo, Tòa án đã ra quyết định thi hành án phải ra quyết định đình chỉ thi
hành án và gửi cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, Viện kiểm sát
cùng cấp, Công an cấp xã nơi người chấp hành án cư trú, Công an cấp xã nơi người
chấp hành án bị cấm cư trú.
Điều 105.
Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã nơi người chấp
hành án về cư trú
1. Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý, giám sát, giáo dục người
chấp hành án phạt cấm cư trú về cư trú.
2. Công an cấp xã có nhiệm vụ trực tiếp giúp Ủy ban nhân
dân cấp xã quản lý, giám sát, giáo dục người chấp hành án phạt cấm cư trú về cư
trú và có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Tiếp nhận hồ sơ, tổ chức quản lý, giám sát, giáo dục
người chấp hành án; tạo điều kiện để họ lao động, học tập bình thường;
b) Triệu tập người chấp hành án để thông báo thi hành bản
án; phổ biến quyền và nghĩa vụ và những quy định có liên quan đến việc chấp
hành án;
c) Nhận xét bằng văn bản và lưu hồ sơ theo dõi về quá
trình chấp hành án phạt cấm cư trú khi người đó chuyển nơi cư trú;
d) Yêu cầu người chấp hành án cam kết và thực hiện đầy đủ
nghĩa vụ của mình; có biện pháp giáo dục, phòng ngừa khi người đó có dấu hiệu
vi phạm pháp luật;
đ) Báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh để
đề nghị Tòa án có thẩm quyền xem xét việc miễn chấp hành thời hạn cấm cư trú
còn lại cho người chấp hành án;
e) Báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh về
kết quả thi hành án.
3. Trưởng Công an cấp xã có trách nhiệm báo cáo định kỳ
hoặc theo yêu cầu của Ủy ban nhân dân cấp xã về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền
hạn theo quy định tại khoản 2 Điều này.
Điều 106.
Quyền và nghĩa vụ của người chấp hành án phạt cấm cư trú
1. Người chấp hành án phạt cấm cư trú có các quyền sau
đây:
a) Khi có lý do chính đáng và được sự đồng ý của Công an
cấp xã nơi bị cấm cư trú thì người chấp hành án phạt cấm cư trú được đến địa
phương đó; thời gian lưu trú do Công an cấp xã nơi đến quyết định nhưng mỗi lần
không quá 05 ngày;
b) Khi có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật thì được
Công an cấp xã nơi cư trú đề nghị miễn chấp hành thời hạn cấm cư trú theo quy định
của Luật này.
2. Người chấp hành án phạt cấm cư trú có các nghĩa vụ sau
đây:
a) Cam kết việc chấp hành án;
b) Không được cư trú ở những nơi đã bị cấm cư trú, trừ
trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều này;
c) Chấp hành nghiêm chỉnh cam kết của mình trong việc
tuân thủ pháp luật;
d) Có mặt theo yêu cầu của Ủy ban nhân dân cấp xã, Công
an cấp xã nơi người chấp hành án cư trú.
Điều 107. Thủ
tục miễn chấp hành thời hạn cấm cư trú còn lại
1. Khi người chấp hành án phạt cấm cư trú có đủ điều kiện
quy định tại khoản 6 Điều 62 của Bộ luật Hình sự, Công an cấp xã nơi người chấp
hành án cư trú báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh lập hồ sơ đề
nghị Tòa án nhân dân khu vực nơi người chấp hành án cư trú xét miễn chấp hành
thời hạn cấm cư trú còn lại, đồng thời sao gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp. Hồ
sơ bao gồm:
a) Bản sao bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp
luật; bản sao quyết định thi hành án;
b) Văn bản đề nghị của cơ quan thi hành án hình sự Công
an cấp tỉnh;
c) Báo cáo đề nghị của Công an cấp xã;
d) Đơn xin miễn chấp hành án của người bị cấm cư trú;
đ) Tài liệu khác có liên quan.
2. Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ
sơ quy định tại khoản 1 Điều này, Chánh án Tòa án có thẩm quyền phân công 01 Thẩm
phán chủ trì phiên họp để xét miễn chấp hành thời hạn cấm cư trú còn lại. Trong
thời hạn 07 ngày kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải mở phiên họp xét miễn
chấp hành thời hạn cấm cư trú còn lại và ra quyết định về việc miễn chấp hành
thời hạn cấm cư trú còn lại; quyết định phải nêu rõ việc chấp nhận hoặc không
chấp nhận miễn chấp hành thời hạn cấm cư trú còn lại.
Phiên họp phải có sự tham gia của Kiểm sát viên Viện kiểm
sát cùng cấp. Trường hợp hồ sơ phải bổ sung theo yêu cầu của Tòa án thì thời hạn
mở phiên họp được tính từ ngày nhận được hồ sơ bổ sung.
3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định
về việc miễn chấp hành thời hạn cấm cư trú còn lại, Tòa án phải gửi quyết định
đó cho người chấp hành án, Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực
tiếp, Tòa án đã ra quyết định thi hành án, cơ quan thi hành án hình sự Công an
cấp tỉnh, Công an cấp xã nơi người đó cư trú và nơi người đó bị cấm cư trú.
Điều 108. Xử
lý người chấp hành án phạt cấm cư trú vi phạm nghĩa vụ
1. Trường hợp người chấp hành án đến lưu trú mà chưa được
phép hoặc lưu trú quá thời hạn cho phép thì Trưởng Công an cấp xã, Chủ tịch Ủy
ban nhân dân cấp xã xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền, buộc họ rời khỏi
địa phương và thông báo cho Công an cấp xã nơi người chấp hành án cư trú.
2. Trường hợp người chấp hành án phạt cấm cư trú không chấp
hành nghĩa vụ quy định tại điểm b và điểm c khoản 2 Điều 106 của Luật này thì
không được xem xét miễn chấp hành thời hạn cấm cư trú còn lại.
Mục 2
THI HÀNH ÁN PHẠT QUẢN CHẾ
Điều 109. Thủ
tục thi hành án phạt quản chế
1. 02 tháng trước khi hết thời hạn chấp hành án phạt tù đối
với phạm nhân có hình phạt bổ sung là quản chế, Giám thị trại giam có trách nhiệm
thông báo bằng văn bản về nội dung quy định tại khoản 1 Điều 44 của Luật này
cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, Công an cấp xã nơi người đó về
cư trú để chấp hành án phạt quản chế.
Trường hợp phạm nhân không còn nơi cư trú tại địa chỉ quản
chế theo bản án đã tuyên thì trại giam xác minh nơi phạm nhân sẽ về cư trú và
thông báo cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, Công an cấp xã nơi người đó về cư trú để tiếp nhận và thực
hiện quản chế người chấp hành án.
2. Ngay sau khi phạm nhân có hình phạt bổ sung là quản chế
chấp hành xong án phạt tù, trại giam phải giao người bị quản chế kèm theo bản
sao bản án, bản sao quyết định thi hành án, chứng nhận chấp hành xong án phạt
tù, nhận xét kết quả chấp hành án phạt tù và tài liệu có liên quan cho cơ quan
thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh tại trụ sở Công an cấp xã nơi người đó về
cư trú.
Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh phải yêu cầu
người chấp hành án phạt quản chế cam kết việc chấp hành án và giao ngay người
đó cho Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã để quản lý, kiểm soát, giáo dục.
3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận người
chấp hành án, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh phải lập hồ sơ thi
hành án phạt quản chế và bàn giao cho Công an cấp xã nơi người chấp hành án về
cư trú. Hồ sơ bao gồm:
a) Bản sao bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp
luật;
b) Bản sao quyết định thi hành án phạt tù;
c) Chứng nhận chấp hành xong án phạt tù;
d) Biên bản giao người bị quản chế;
đ) Tài liệu về quá trình chấp hành án phạt tù và tài liệu
khác có liên quan;
e) Cam kết của người chấp hành án phạt quản chế;
g) Nhận xét về quá trình chấp hành án phạt quản chế;
h) Biên bản vi phạm nghĩa vụ của người chấp hành án (nếu
có);
i) Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với người chấp
hành án (nếu có);
k) Quyết định của Tòa án về miễn chấp hành thời hạn quản
chế còn lại (nếu có).
4. 03 ngày trước khi hết thời hạn quản chế hoặc trong thời
hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án về miễn chấp hành thời hạn
quản chế còn lại, Công an cấp xã bàn giao hồ sơ thi hành án phạt quản chế cho
cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh để cấp chứng nhận chấp hành xong
án phạt quản chế. Chứng nhận phải gửi cho người chấp hành án, Công an cấp xã
nơi người đó cư trú, Tòa án đã ra quyết định thi hành án.
5. Trường hợp người chấp hành án chết, Công an cấp xã nơi
người chấp hành án cư trú báo cáo và bàn giao hồ sơ thi hành án phạt quản chế
cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh để thông báo cho Tòa án đã ra
quyết định thi hành án. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được
thông báo, Tòa án đã ra quyết định thi hành án phải ra quyết định đình chỉ thi
hành án và gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp, Công an cấp xã nơi người chấp hành
án cư trú.
Điều 110.
Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã nơi người chấp
hành án phạt quản chế về cư trú
1. Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý, kiểm soát, giáo dục
người chấp hành án phạt quản chế về cư trú.
2. Công an cấp xã có nhiệm vụ trực tiếp giúp Ủy ban nhân
dân cấp xã quản lý, kiểm soát, giáo dục người chấp hành án phạt quản chế về cư
trú và có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Tiếp nhận người chấp hành án và hồ sơ thi hành án phạt
quản chế; tổ chức quản lý, kiểm soát, giáo dục người chấp hành án; tạo điều kiện
để họ lao động, học tập bình thường tại nơi bị quản chế; nhận xét bằng văn bản
và lưu hồ sơ theo dõi về quá trình chấp hành án;
b) Triệu tập người chấp hành án để thông báo thi hành bản
án, phổ biến quyền và nghĩa vụ và những quy định có liên quan đến việc chấp
hành án;
c) Yêu cầu người chấp hành án thực hiện cam kết và nghĩa
vụ của mình; có biện pháp giáo dục, phòng ngừa khi người đó có dấu hiệu vi phạm
pháp luật; triệu tập người bị quản chế trong trường hợp cần thiết; cấp giấy
phép cho người chấp hành án đi khỏi nơi quản chế theo quy định tại Điều 112 của
Luật này; giải quyết trường hợp người chấp hành án phạt quản chế ra khỏi nơi cư
trú để làm việc, học tập;
d) Định kỳ 01 tháng 01 lần nhận xét quá trình chấp hành
án gửi cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh;
d) Báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh để
đề nghị Tòa án có thẩm quyền xem xét việc miễn chấp hành thời hạn quản chế còn
lại cho người chấp hành án;
e) Báo cáo cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền về kết
quả thi hành án.
3. Trưởng Công an cấp xã có trách nhiệm báo cáo định kỳ
hoặc theo yêu cầu của Ủy ban nhân dân cấp xã về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền
hạn theo quy định tại khoản 2 Điều này.
Điều 111.
Quyền và nghĩa vụ của người chấp hành án phạt quản chế
1. Người chấp hành án có các quyền sau đây:
a) Sinh sống tại nơi quản chế;
b) Lựa chọn việc làm thích hợp, trừ những ngành, nghề hoặc
công việc mà người chấp hành án không được làm theo quy định của pháp luật; được
hưởng thành quả lao động do mình làm ra;
c) Tự do đi lại trong phạm vi xã, phường, đặc khu nơi quản
chế;
d) Được xét miễn chấp hành thời hạn quản chế còn lại theo
quy định tại Điều 115 của Luật này.
2. Người chấp hành án có các nghĩa vụ sau đây:
a) Chịu sự quản lý, kiểm soát, giáo dục của Ủy ban nhân
dân cấp xã, Công an cấp xã và Nhân dân địa phương; không được tự ý rời khỏi nơi
quản chế;
b) Mỗi tháng một lần vào tuần đầu của tháng, trình diện
và báo cáo với Công an cấp xã nơi quản chế việc chấp hành quy định về quản chế;
c) Có mặt lại địa điểm quy định khi Ủy ban nhân dân cấp
xã, Công an cấp xã triệu tập, nếu vắng mặt phải có lý do chính đáng;
d) Chấp hành nghiêm chỉnh chính sách, pháp luật và quy định
của chính quyền địa phương; tích cực lao động, học tập, cải tạo để trở thành
người có ích cho xã hội;
đ) Trường hợp được phép đi khỏi nơi quản chế, người chấp
hành án phải khai báo tạm vắng; trình diện, xuất trình giấy phép, làm thủ tục
đăng ký tạm trú, lưu trú với Công an cấp xã nơi đến theo quy định; trở về nơi
quản chế đúng thời hạn và trình diện với Công an cấp xã.
Điều 112. Giải
quyết trường hợp người chấp hành án phạt quản chế đi khỏi nơi quản chế
1. Trường hợp có lý do chính đáng, người chấp hành án có
thể được cấp giấy phép đi khỏi nơi quản chế. Thẩm quyền cấp giấy phép như sau:
a) Trưởng Công an cấp xã nơi quản chế cấp giấy phép đi lại
trong phạm vi cấp tỉnh nơi quản chế;
b) Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh
cấp giấy phép đi ra ngoài phạm vi cấp tỉnh nơi quản chế.
2. Thời hạn người chấp hành án được phép đi khỏi nơi quản
chế do người có thẩm quyền cấp giấy phép quyết định, nhưng mỗi lần không quá 10
ngày.
Trường hợp người chấp hành án phải đi chữa bệnh thì thời
gian đi khỏi nơi quản chế theo thời gian đi chữa bệnh tại cơ sở khám bệnh, chữa
bệnh.
Điều 113. Giải
quyết trường hợp người chấp hành án phạt quản chế có nguyện vọng làm việc, học
tập ngoài nơi quản chế
1. Trường hợp người chấp hành án phạt quản chế có nguyện
vọng lựa chọn việc làm, học tập ngoài nơi quản chế thì phải xin phép và được sự
đồng ý bằng văn bản của Công an cấp xã được giao quản lý, kiểm soát, giáo dục;
trường hợp không đồng ý thì Công an cấp xã phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ
lý do.
2. Người chấp hành án phạt quản chế có trách nhiệm báo
cáo Công an cấp xã được giao quản lý, kiểm soát, giáo dục về kế hoạch lao động,
hợp đồng lao động, chương trình học tập có xác nhận của cơ quan, tổ chức, cá
nhân nơi người đó làm việc, học tập.
3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày được Công
an cấp xã đồng ý về việc cho người chấp hành án phạt quản chế làm việc, học tập
ngoài nơi quản chế thì người chấp hành án phạt quản chế phải trình báo với Công
an cấp xã nơi đến làm việc, học tập; khi kết thúc hợp đồng lao động, học tập phải
có xác nhận của Công an cấp xã tại nơi làm việc, học tập.
4. Công an cấp xã được giao quản lý, kiểm soát, giáo dục
người chấp hành án phạt quản chế phải thông báo cho cơ quan thi hành án hình sự
Công an cấp tỉnh về việc giải quyết cho người chấp hành án phạt quản chế ra khỏi
nơi quản chế để làm việc, học tập.
5. Người chấp hành án phạt quản chế trong thời gian làm
việc, học tập ngoài nơi quản chế phải chấp hành nghiêm chỉnh nghĩa vụ của mình.
Trường hợp người chấp hành án phạt quản chế vi phạm pháp luật tại nơi làm việc,
học tập, Công an cấp xã nơi người đó đến làm việc, học tập phải thông báo cho
Công an cấp xã được giao quản lý, kiểm soát, giáo dục để phối hợp giải quyết.
Điều 114. Xử
lý người chấp hành án phạt quản chế vi phạm nghĩa vụ
1. Trường hợp người chấp hành án vi phạm nghĩa vụ quy định
tại khoản 2 Điều 111 của Luật này thì Công an cấp xã lập biên bản vi phạm nghĩa
vụ, báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh.
Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, người chấp hành án có
thể bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.
Điều 115. Thủ
tục miễn chấp hành thời hạn quản chế còn lại
1. Khi người chấp hành án phạt quản chế có đủ điều kiện
quy định tại khoản 6 Điều 62 của Bộ luật Hình sự, Công an cấp xã nơi quản chế
báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh lập hồ sơ đề nghị Tòa án
nhân dân khu vực nơi quản chế xét miễn chấp hành thời hạn quản chế còn lại, đồng
thời gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp với Tòa án. Hồ sơ bao gồm:
a) Bản sao bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp
luật; bản sao quyết định thi hành án phạt tù;
b) Văn bản đề nghị của cơ quan thi hành án hình sự Công
an cấp tỉnh;
c) Báo cáo đề nghị của Công an cấp xã nơi quản chế;
d) Đơn xin miễn chấp hành án của người chấp hành án phạt
quản chế;
đ) Tài liệu khác có liên quan.
2. Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ
sơ quy định tại khoản 1 Điều này, Chánh án Tòa án có thẩm quyền phân công 01 Thẩm
phán chủ trì phiên họp để xét miễn chấp hành thời hạn quản chế còn lại. Trong
thời hạn 07 ngày kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải mở phiên họp xét miễn
chấp hành thời hạn quản chế còn lại và ra quyết định về việc miễn chấp hành thời
hạn quản chế còn lại; quyết định phải nêu rõ việc chấp nhận hoặc không chấp nhận
miễn chấp hành thời hạn quản chế còn lại.
Phiên họp phải có sự tham gia của Kiểm sát viên Viện kiểm
sát cùng cấp. Trường hợp hồ sơ phải bổ sung theo yêu cầu của Tòa án thì thời hạn
mở phiên họp được lùi từ ngày nhận được hồ sơ bổ sung.
3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định
về việc miễn chấp hành thời hạn quản chế còn lại, Tòa án phải gửi quyết định đó
cho người chấp hành án, Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp,
Tòa án đã ra quyết định thi hành án, Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã.
Chương VI
THI HÀNH ÁN PHẠT TRỤC XUẤT
Điều 116.
Quyết định thi hành án phạt trục xuất
1. Trường hợp trục xuất là hình phạt chính hoặc là hình
phạt bổ sung trong trường hợp hình phạt chính là phạt tiền thì Tòa án đã xét xử
sơ thẩm phải ra quyết định thi hành án. Quyết định phải ghi rõ họ tên, chức vụ
người ra quyết định; bản án được thi hành; họ tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi
cư trú của người chấp hành án; hình phạt bổ sung; đơn vị cơ quan có nhiệm vụ
thi hành.
2. Trường hợp trục xuất là hình phạt bổ sung thì quyết định
thi hành án phải ghi đầy đủ hình phạt chính và hình phạt bổ sung, trừ trường hợp
quy định tại khoản 1 Điều này.
Điều 117.
Thông báo thi hành án phạt trục xuất
1. Trường hợp ra quyết định thi hành án phạt trục xuất
theo quy định tại khoản 1 Điều 116 của Luật này, Tòa án phải gửi ngay quyết định
cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh và Viện kiểm sát cùng cấp. Cơ
quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh phải tống đạt quyết định thi hành án
cho người chấp hành án và thông báo ngay cho Bộ Ngoại giao, cơ quan đại diện
ngoại giao hoặc lãnh sự của nước mà người đó có quốc tịch hoặc cơ quan đại diện
của tổ chức quốc tế mà người đó làm việc, cơ quan, tổ chức đã bảo lãnh người đó
vào Việt Nam. Trường hợp người chấp hành án đang bị tạm giam thì phải gửi quyết
định này cho trại tạm giam nơi đang tạm giam người đó để tống đạt cho người chấp
hành án.
2. Trường hợp phạm nhân có hình phạt bổ sung là trục xuất
theo quy định tại khoản 2 Điều 116 của Luật này thì 02 tháng trước khi hết thời
hạn chấp hành án phạt tù, Giám thị trại giam phải thông báo bằng văn bản cho phạm
nhân đó và cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh nơi trại giam đóng. Cơ
quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh phải thông báo cho Bộ Ngoại giao, cơ
quan đại diện ngoại giao hoặc lãnh sự của nước mà người đó có quốc tịch hoặc cơ
quan đại diện của tổ chức quốc tế mà người đó làm việc, cơ quan, tổ chức đã bảo
lãnh người đó vào Việt Nam.
Điều 118. Hồ
sơ thi hành án phạt trục xuất
1. Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh lập hồ sơ
thi hành án phạt trục xuất.
2. Hồ sơ thi hành án phạt trục xuất bao gồm:
a) Bản sao bản án có hiệu lực pháp luật; quyết định thi
hành án phạt trục xuất hoặc bản sao quyết định thi hành án phạt tù trong trường
hợp trục xuất là hình phạt bổ sung;
b) Bản sao hộ chiếu hoặc bản sao giấy tờ có giá trị thay
hộ chiếu của người chấp hành án;
c) Giấy tờ chứng nhận đã chấp hành xong hình phạt, nghĩa
vụ khác;
d) Tài liệu khác có liên quan.
Điều 119.
Lưu trú trong thời gian chờ xuất cảnh
1. Trong thời gian chờ xuất cảnh, người chấp hành án phải
lưu trú tại nơi lưu trú hoặc cơ sở lưu trú do cơ quan thi hành án hình sự Công
an cấp tỉnh chỉ định.
2. Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh đưa người
chấp hành án phạt trục xuất vào cơ sở lưu trú thuộc Công an cấp tỉnh hoặc cơ sở
lưu trú thuộc Bộ Công an nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Không có nơi thường trú, tạm trú;
b) Nhập cảnh trái phép hoặc phạm tội nghiêm trọng, rất
nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng;
c) Tự ý rời khỏi nơi lưu trú được chỉ định hoặc không chấp
hành các biện pháp quản lý, giám sát, giáo dục của cơ quan có thẩm quyền;
d) Có hành vi vi phạm pháp luật hoặc có căn cứ cho rằng
người đó có thể thực hiện hành vi vi phạm pháp luật trong thời gian chờ xuất cảnh;
đ) Có hành vi bỏ trốn, chuẩn bị bỏ trốn hoặc hành vi khác
gây khó khăn cho việc thi hành án phạt trục xuất;
e) Mắc bệnh truyền nhiễm nhóm A;
g) Tự nguyện xin vào cơ sở lưu trú.
3. Thủ tục đưa người chấp hành án phạt trục xuất vào cơ sở
lưu trú được thực hiện như sau:
a) Trường hợp người chấp hành án đang tại ngoại thì cơ
quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh phải áp giải người chấp hành án đến
cơ sở lưu trú;
b) Trường hợp người chấp hành án đang bị tạm giam thì sau
khi nhận được quyết định thi hành án, trại tạm giam nơi tạm giam phải giao người
chấp hành án cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh để áp giải vào cơ
sở lưu trú;
c) Khi phạm nhân có hình phạt bổ sung là trục xuất chấp
hành xong án phạt tù thì trại giam phải giao người chấp hành án cho cơ quan thi
hành án hình sự Công an cấp tỉnh để áp giải vào cơ sở lưu trú.
4. Trường hợp người chấp hành án chết trong thời gian chờ
xuất cảnh thì cơ sở lưu trú hoặc nơi lưu trú được chỉ định phải báo ngay cho cơ
quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có
thẩm quyền để xác định nguyên nhân chết. Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp
tỉnh phải thông báo bằng văn bản cho Tòa án đã ra quyết định thi hành án phạt
trục xuất, Bộ Ngoại giao, cơ quan đại diện ngoại giao hoặc lãnh sự của nước mà
người đó có quốc tịch hoặc cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế mà người đó làm
việc, cơ quan, tổ chức đã bảo lãnh người đó vào Việt Nam. Sau khi được cơ quan
có thẩm quyền cho phép, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh có trách
nhiệm tổ chức mai táng. Trường hợp gia đình hoặc đại diện hợp pháp của người chấp
hành án đề nghị được nhận tử thi, tro cốt về mai táng và tự chịu chi phí thì cơ
quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh xem xét, giải quyết.
5. Chính phủ quy định chi tiết chế độ ăn, ở, sinh hoạt,
thăm gặp, khám bệnh, chữa bệnh đối với người chấp hành án phạt trục xuất trong
thời gian lưu trú tại cơ sở lưu trú, chi phí mai táng đối với người chấp hành
án phạt trục xuất chết tại cơ sở lưu trú.
Điều 120. Giải
quyết trường hợp người chấp hành án phạt trục xuất bỏ trốn
1. Trường hợp người chấp hành án bỏ trốn thì cơ quan, đơn
vị đang quản lý phải lập biên bản và thông báo ngay cho cơ quan thi hành án
hình sự Công an cấp tỉnh để tổ chức truy bắt. Trường hợp truy bắt không có kết
quả thì trong thời hạn 24 giờ kể từ khi người chấp hành án bỏ trốn, cơ quan thi
hành án hình sự Công an cấp tỉnh phải ra quyết định truy nã.
2. Người chấp hành án bỏ trốn ra đầu thú thì cơ quan tiếp
nhận lập biên bản và thông báo cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh
đến nhận và đưa người đó vào cơ sở lưu trú.
Điều 121. Thực
hiện buộc rời khỏi lãnh thổ Việt Nam
1. Đến thời hạn người chấp hành án phải rời khỏi lãnh thổ
Việt Nam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh phối hợp với cơ quan quản
lý xuất nhập cảnh có thẩm quyền tiến hành kiểm tra căn cước của người chấp hành
án phạt trục xuất và áp giải người đó đến địa điểm xuất cảnh và buộc rời khỏi
lãnh thổ Việt Nam. Người chấp hành án phạt trục xuất được mang theo tài sản hợp
pháp của mình khi rời khỏi lãnh thổ Việt Nam. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể
từ ngày thi hành xong án phạt trục xuất, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp
tỉnh phải thông báo việc thi hành án phạt trục xuất cho Tòa án đã ra quyết định
thi hành án. Viện kiểm sát có thẩm quyền.
2. Tòa án đã ra quyết định thi hành án có thẩm quyền quyết
định kéo dài thời hạn buộc phải rời khỏi lãnh thổ Việt Nam đối với người chấp
hành án thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Đang ốm nặng, đang phải cấp cứu không thể đi lại được
và được cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cấp cơ bản trở lên xác nhận;
b) Phải chấp hành bản án khác hoặc thực hiện nghĩa vụ
khác theo quy định của pháp luật Việt Nam;
c) Có lý do chính đáng khác chưa thể rời khỏi lãnh thổ Việt
Nam được Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh xác nhận.
3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định
kéo dài thời hạn buộc phải rời khỏi lãnh thổ Việt Nam đối với người chấp hành
án, Tòa án phải gửi quyết định đó cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh
đang thi hành án phạt trục xuất, Viện kiểm sát cùng cấp.
Điều 122.
Chi phí trục xuất
Người chấp hành án phạt trục xuất phải chịu chi phí vé
máy bay, ô tô, tàu hỏa, tàu biển để rời khỏi lãnh thổ Việt Nam. Trường hợp người
chấp hành án phạt trục xuất không có khả năng tự chịu chi phí thì cơ quan thi
hành án hình sự Công an cấp tỉnh phối hợp với cơ quan chức năng của Bộ Ngoại
giao, cơ quan quản lý xuất nhập cảnh yêu cầu cơ quan đại diện ngoại giao hoặc
lãnh sự của nước mà người đó có quốc tịch hoặc cơ quan đại diện của tổ chức quốc
tế mà người đó làm việc, cơ quan, tổ chức đã bảo lãnh người đó vào Việt Nam giải
quyết kinh phí đưa người chấp hành án phạt trục xuất về nước. Trường hợp đã yêu
cầu mà cơ quan, tổ chức đó vẫn chưa giải quyết được kinh phí nhưng vì lý do an
ninh quốc gia, yêu cầu đối ngoại cần phải trục xuất ngay thì Thủ trưởng cơ quan
thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh báo cáo Cơ quan quản lý thi hành án hình sự
Bộ Công an quyết định việc sử dụng ngân sách nhà nước chi trả vé máy bay, ô tô,
tàu hỏa, tàu biển cho người chấp hành án phạt trục xuất.
Chương VII
THI HÀNH ÁN PHẠT TƯỚC MỘT SỐ QUYỀN CÔNG
DÂN
Điều 123. Thủ
tục thi hành án phạt tước một số quyền công dân
1. 02 tháng trước khi hết thời hạn chấp hành án phạt tù đối
với phạm nhân có hình phạt bổ sung là tước một số quyền công dân. Giám thị trại
giam, Giám thị trại tạm giam có trách nhiệm thông báo bằng văn bản về nội dung
quy định tại khoản 1 Điều 44 của Luật này cho Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp
xã, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, Viện kiểm sát nhân dân khu vực
nơi người đó về cư trú.
2. Ngay sau khi phạm nhân có hình phạt bổ sung là tước một
số quyền công dân chấp hành xong án phạt tù, trại giam, trại tạm giam nơi người
đó chấp hành án phải gửi chứng nhận chấp hành xong án phạt tù, bản sao bản án,
bản sao quyết định thi hành án cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh
nơi người chấp hành án về cư trú.
3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được
các văn bản quy định tại khoản 2 Điều này, cơ quan thi hành án hình sự Công an
cấp tỉnh nơi người chấp hành án về cư trú có trách nhiệm lập hồ sơ thi hành án
và bàn giao cho Công an cấp xã nơi người đó về cư trú.
4. Hồ sơ thi hành án phạt tước một số quyền công dân bao
gồm:
a) Bản sao bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật; bản
sao quyết định thi hành án phạt tù;
b) Chứng nhận chấp hành xong án phạt tù;
c) Tài liệu khác có liên quan.
5. Trường hợp người chấp hành án là người được hưởng án
treo thì sau khi nhận được bản án, quyết định thi hành án do Tòa án ra quyết định
thi hành án gửi, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh lập hồ sơ thi
hành án và bàn giao cho Công an cấp xã nơi người đó về cư trú.
6. Công an cấp xã nơi người chấp hành án về cư trú có nhiệm
vụ quản lý, theo dõi, giám sát việc thực hiện thi hành án phạt tước một số quyền
công dân theo bản án của Tòa án; cung cấp danh sách người chấp hành án khi có đề
nghị của cơ quan, đơn vị có thẩm quyền.
Trường hợp người chấp hành án thay đổi nơi cư trú, Công
an cấp xã bàn giao hồ sơ thi hành án cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp
tỉnh để bàn giao cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, Công an cấp
xã nơi người chấp hành án đến cư trú tiếp tục thi hành án.
7. 03 ngày trước khi hết thời hạn chấp hành án, Công an cấp
xã bàn giao hồ sơ thi hành án cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh
để cấp chứng nhận đã chấp hành xong án phạt tước một số quyền công dân. Chứng
nhận phải gửi cho người chấp hành án, Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã
nơi người đó cư trú, Tòa án đã ra quyết định thi hành án.
8. Trường hợp người chấp hành án chết, Công an cấp xã nơi
người chấp hành án cư trú thông báo cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp
tỉnh để thông báo cho Tòa án đã ra quyết định thi hành án.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được
thông báo, Tòa án đã ra quyết định thi hành án phải ra quyết định đình chỉ thi
hành án và gửi cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, Viện kiểm sát
cùng cấp, Công an cấp xã nơi người chấp hành án cư trú.
Điều 124. Tước
quyền ứng cử đại biểu cơ quan quyền lực nhà nước
Trong thời gian bị tước quyền ứng cử đại biểu cơ quan quyền
lực nhà nước, người chấp hành án không được tham gia ứng cử đại biểu cơ quan
quyền lực nhà nước.
Điều 125. Tước
quyền làm việc trong cơ quan nhà nước
1. Trong thời gian bị tước quyền làm việc trong cơ quan
nhà nước, người chấp hành án không được dự tuyển hoặc tiếp tục làm việc trong
cơ quan nhà nước.
2. Trường hợp người chấp hành án đang là cán bộ, công chức,
viên chức trong cơ quan nhà nước mà bị tước quyền làm việc trong cơ quan nhà nước
thì cơ quan nơi người đó làm việc phải ra quyết định hoặc đề nghị cơ quan có thẩm
quyền ra quyết định buộc thôi việc hoặc đình chỉ công tác trong thời hạn bị tước
quyền làm việc trong cơ quan nhà nước đối với người đó.
Điều 126. Tước
quyền phục vụ trong lực lượng vũ trang nhân dân
1. Người bị tước quyền phục vụ trong lực lượng vũ trang
nhân dân, người chấp hành án không được đăng ký, dự tuyển tham gia lực lượng vũ
trang nhân dân.
2. Trường hợp người chấp hành án đang phục vụ trong lực
lượng vũ trang nhân dân mà bị tước quyền này thì cơ quan, đơn vị có thẩm quyền
phải ra quyết định buộc người đó ra khỏi lực lượng vũ trang nhân dân.
Chương VIII
THI HÀNH ÁN PHẠT CẤM ĐẢM NHIỆM CHỨC VỤ,
CẤM HÀNH NGHỀ HOẶC LÀM CÔNG VIỆC NHẤT ĐỊNH
Điều 127. Thủ
tục thi hành án phạt cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất
định
1. 02 tháng trước khi hết thời hạn chấp hành án phạt tù đối
với phạm nhân có hình phạt bổ sung là cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc
làm công việc nhất định, Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam nơi người
đó đang chấp hành án phạt tù phải thông báo bằng văn bản về việc thi hành án phạt
cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định cho Ủy ban
nhân dân cấp xã, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, Viện kiểm sát
nhân dân khu vực nơi người đó về cư trú, cơ quan thi hành án hình sự và Viện kiểm
sát quân sự cấp quân khu nơi có đơn vị quân đội người đó làm việc.
2. Ngay sau khi phạm nhân có hình phạt bổ sung cấm đảm
nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định chấp hành xong án phạt
tù, trại giam, trại tạm giam phải gửi chứng nhận chấp hành xong án phạt tù, bản
sao bản án, bản sao quyết định thi hành án cho cơ quan thi hành án hình sự Công
an cấp tỉnh, Viện kiểm sát nhân dân khu vực nơi người chấp hành án về cư trú,
cơ quan thi hành án hình sự và Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu nơi có đơn vị
quân đội người đó làm việc.
Trường hợp người có hình phạt bổ sung là cấm đảm nhiệm chức
vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định phải chấp hành hình phạt chính
là cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù cho hưởng án treo
thì thời hạn bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định
kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Tòa án ra quyết định thi hành án phải
gửi bản án, quyết định thi hành án cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp
tỉnh, Viện kiểm sát nhân dân khu vực nơi người đó cư trú, cơ quan thi hành án
hình sự và Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu nơi có đơn vị người đó làm việc.
3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được
các văn bản quy định tại khoản 2 Điều này, cơ quan thi hành án hình sự Công an
cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu lập hồ sơ thi hành án phạt cấm
đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định và bàn giao cho
Công an cấp xã nơi người chấp hành án cư trú, đơn vị quân đội nơi người đó làm
việc. Hồ sơ bao gồm:
a) Bản sao bản án có hiệu lực pháp luật; bản sao quyết định
thi hành án phạt tù;
b) Chứng nhận chấp hành xong án phạt tù;
c) Tài liệu khác có liên quan.
4. Công an cấp xã, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân
khu có nhiệm vụ quản lý, theo dõi, giám sát việc thi hành án phạt cấm đảm nhiệm
chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định theo bản án của Tòa án.
Trong thời gian chấp hành án, nếu phát hiện người chấp hành án đảm nhiệm chức vụ,
hành nghề hoặc làm công việc bị cấm thì Công an cấp xã, cơ quan thi hành án
hình sự cấp quân khu thông báo cho cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc để buộc
người đó nghiêm chỉnh chấp hành bản án.
5. Trường hợp người chấp hành án thay đổi nơi cư trú,
Công an cấp xã bàn giao hồ sơ thi hành án cho cơ quan thi hành án hình sự Công
an cấp tỉnh để thông báo và bàn giao cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp
tỉnh, Công an cấp xã nơi người chấp hành án đến cư trú tiếp tục thi hành án phạt
cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định.
6. 03 ngày trước khi hết thời hạn chấp hành án, Công an cấp
xã, đơn vị quân đội bàn giao hồ sơ thi hành án cho cơ quan thi hành án hình sự
Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu để cấp chứng nhận đã
chấp hành xong án phạt cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc
nhất định. Chứng nhận phải gửi cho người chấp hành án, Ủy ban nhân dân cấp xã,
Công an cấp xã nơi người đó cư trú, cơ quan, tổ chức, đơn vị quân đội nơi người
đó làm việc, Tòa án đã ra quyết định thi hành án.
7. Trường hợp người chấp hành án chết, Công an cấp xã nơi
người đó cư trú, đơn vị quân đội nơi người đó làm việc thông báo cho cơ quan
thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu
để thông báo cho Tòa án đã ra quyết định thi hành án.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được
thông báo, Tòa án đã ra quyết định thi hành án phải ra quyết định đình chỉ thi
hành án và gửi cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi
hành án hình sự cấp quân khu, Viện kiểm sát cùng cấp, Công an cấp xã, đơn vị
quân đội nơi người chấp hành án làm việc.
Điều 128.
Nghĩa vụ của người chấp hành án phạt cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc
làm công việc nhất định
1. Báo cáo về chức vụ, nghề hoặc công việc bị cấm đảm nhiệm
cho cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, Công an cấp xã nơi người đó cư trú.
2. Không được tiếp tục hoặc phải từ chối đảm nhiệm chức vụ,
hành nghề hoặc làm công việc nhất định đã bị cấm.
3. Không được ứng cử vào chức vụ đã bị cấm.
4. Trường hợp không còn làm việc trong cơ quan, tổ chức
hoặc thay đổi nơi làm việc phải báo cáo Công an cấp xã nơi cư trú.
5. Có mặt khi cơ quan có thẩm quyền triệu tập liên quan đến
việc chấp hành án của mình.
Điều 129.
Trách nhiệm thi hành án phạt cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công
việc nhất định
1. Cơ quan, tổ chức nơi người chấp hành án làm việc có
trách nhiệm sau đây:
a) Ra quyết định cách chức hoặc đề nghị cấp có thẩm quyền
ra quyết định cách chức người chấp hành án khỏi chức vụ bị cấm đảm nhiệm và
thông báo công khai trong cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc;
b) Không được đề cử, đề bạt, bổ nhiệm, bố trí người chấp
hành án vào chức vụ, công việc, nghề bị cấm;
c) Báo cáo kết quả thi hành án cho Công an cấp xã, cơ
quan thi hành án hình sự cấp quân khu;
d) Thông báo cho cơ quan, tổ chức nơi người chấp hành án
được chuyển đến làm việc về việc người đó đang chấp hành án; cơ quan, tổ chức
nơi người chấp hành án chuyển đến có trách nhiệm thực hiện các quy định tại các
điểm a, b và c khoản này.
2. Công an cấp xã nơi người chấp hành án cư trú có trách
nhiệm sau đây:
a) Thông báo công khai bản án tại nơi người chấp hành án
về cư trú;
b) Báo cáo kết quả thi hành án cho cơ quan thi hành án
hình sự Công an cấp tỉnh;
c) Trường hợp người chấp hành án chuyển đến nơi cư trú mới
phải thông báo cho Công an cấp xã nơi chuyển đến về việc người đó đang chấp
hành án. Công an cấp xã nơi người đó chuyển đến có trách nhiệm thực hiện quy định
tại điểm a khoản này.
Chương IX
THI HÀNH BIỆN PHÁP TƯ PHÁP BẮT BUỘC CHỮA
BỆNH
Điều 130.
Quyết định áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh
1. Quyết định áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh
bao gồm: quyết định của Tòa án, quyết định của Viện kiểm sát về áp dụng biện
pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh.
2. Quyết định áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh
phải ghi rõ tên cơ quan, họ tên, chức vụ người ra quyết định; họ tên, ngày,
tháng, năm sinh, nơi cư trú của người chấp hành biện pháp tư pháp bắt buộc chữa
bệnh; tên cơ quan có nhiệm vụ thi hành.
3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định,
cơ quan ra quyết định phải gửi quyết định đó cho cá nhân, cơ quan sau đây:
a) Người chấp hành biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh,
người đại diện của người đó;
b) Viện kiểm sát cùng cấp trong trường hợp Tòa án ra quyết
định;
c) Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh nơi người
chấp hành biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh cư trú;
d) Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được chỉ định bắt buộc chữa
bệnh;
đ) Cơ quan đề nghị Tòa án, Viện kiểm sát áp dụng biện
pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh.
Điều 131. Cơ
quan, tổ chức được giao nhiệm vụ thi hành biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh
Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được chỉ định bắt buộc chữa bệnh
có nhiệm vụ thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh cho người bị áp dụng biện pháp
tư pháp bắt buộc chữa bệnh.
Điều 132.
Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong thi hành biện pháp tư pháp bắt buộc
chữa bệnh
1. Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong việc áp dụng
và thi hành biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh được thực hiện theo quy định tại
Chương này.
2. Viện kiểm sát thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân
theo pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc thi hành biện pháp tư
pháp bắt buộc chữa bệnh theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật
có liên quan.
Điều 133. Bảo
đảm điều kiện thi hành biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh
Nhà nước bảo đảm các điều kiện về cơ sở vật chất, kinh
phí để thi hành biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh.
Điều 134. Thẩm
quyền đề nghị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh, hồ sơ đưa người vào
cơ sở khám bệnh, chữa bệnh để bắt buộc chữa bệnh
1. Thẩm quyền đề nghị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc
chữa bệnh được quy định như sau:
a) Cơ quan đang thụ lý giải quyết vụ án trong giai đoạn
điều tra có quyền đề nghị Viện kiểm sát có thẩm quyền;
b) Trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Công an, trại tạm
giam thuộc Bộ Quốc phòng, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan
thi hành án hình sự cấp quân khu trong giai đoạn thi hành án có quyền đề nghị
Tòa án nhân dân khu vực, Tòa án quân sự cấp quân khu nơi phạm nhân chấp hành
án.
2. Cơ quan đề nghị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa
bệnh có trách nhiệm lập hồ sơ đưa người vào cơ sở khám bệnh, chữa bệnh để bắt
buộc chữa bệnh, hồ sơ bao gồm:
a) Quyết định của Viện kiểm sát hoặc Tòa án về áp dụng biện
pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh;
b) Kết luận giám định pháp y; kết luận giám định pháp y
lâm sàng;
c) Lý lịch cá nhân, lý lịch bị can hoặc lý lịch phạm nhân
của người chấp hành biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh;
d) Tài liệu khác có liên quan.
3. Trường hợp Viện kiểm sát, Tòa án tự mình quyết định áp
dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh thì Viện kiểm sát, Tòa án đã ra quyết
định có trách nhiệm lập hồ sơ và đề nghị cơ quan đang thụ lý giải quyết vụ án
trong giai đoạn điều tra hoặc trại giam, trại tạm giam trong giai đoạn thi hành
án đưa người vào cơ sở bắt buộc chữa bệnh.
Điều 135.
Đưa người vào cơ sở khám bệnh, chữa bệnh để bắt buộc chữa bệnh
1. Ngay sau khi nhận được quyết định áp dụng biện pháp tư
pháp bắt buộc chữa bệnh, cơ quan đang giải quyết vụ án trong giai đoạn điều tra
hoặc trại giam, trại tạm giam trong giai đoạn thi hành án, cơ quan thi hành án
hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu trong trường
hợp hoàn, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù có nhiệm vụ giao người bị áp dụng
biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh và hồ sơ kèm theo cho cơ sở khám bệnh, chữa
bệnh được chỉ định theo quyết định của Viện kiểm sát hoặc quyết định của Tòa
án; trường hợp người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh là phạm
nhân thì sao gửi quyết định áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh cho cơ
quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an, Bộ Quốc phòng.
2. Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được Viện kiểm sát hoặc Tòa
án chỉ định có trách nhiệm tiếp nhận người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc
chữa bệnh và hồ sơ kèm theo, lập biên bản giao nhận. Cơ quan có trách nhiệm đưa
người vào cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phải thông báo cho gia đình của người bị
áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh về nơi người đó đang chữa bệnh.
Khi tiếp nhận người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc
chữa bệnh, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được chỉ định có trách nhiệm sau đây:
a) Kiểm tra thông tin để xác định đúng người bị áp dụng
biện pháp tư pháp bắt buộc theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền;
b) Lập biên bản giao nhận người bị áp dụng biện pháp tư
pháp bắt buộc chữa bệnh; biên bản bàn giao hồ sơ, tài liệu;
c) Tổ chức khám sức khỏe cho người bị áp dụng biện pháp
tư pháp bắt buộc chữa bệnh. Trường hợp chưa đủ hồ sơ quy định tại khoản 2 Điều
134 của Luật này thì cơ sở khám bệnh, chữa bệnh yêu cầu cơ quan đề nghị áp dụng
biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh cung cấp đầy đủ.
3. Thời gian bắt buộc chữa bệnh thực tế của phạm nhân tại
cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được trừ vào thời gian chấp hành án phạt tù.
Đối với người đang chấp hành án phạt tù, nếu thời gian chấp
hành biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bằng
hoặc dài hơn thời gian phải chấp hành án phạt tù thì trại giam, trại tạm giam,
cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp
quân khu nơi đề nghị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh cấp chứng nhận
chấp hành xong án phạt tù cho họ.
Điều 136. Tổ
chức quản lý, điều trị cho người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh
1. Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có trách nhiệm quản lý, tổ
chức điều trị bệnh cho người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh;
việc điều trị bệnh không được phân biệt đối xử.
2. Trong thời gian bắt buộc chữa bệnh, gia đình của người
bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh được gặp và phối hợp chăm sóc
người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh và phải chấp hành đúng nội
quy của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và quy định về thăm gặp, chăm sóc.
Trường hợp cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có căn cứ cho rằng
người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh không mắc bệnh như kết luận
giám định pháp y, pháp y tâm thần thì đề nghị cơ quan đã ban hành quyết định áp
dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh trưng cầu giám định lại.
3. Trường hợp người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc
chữa bệnh bỏ trốn, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phải lập biên bản và thông báo
ngay cho cơ quan đề nghị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh, Công an
cấp xã nơi cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đóng trụ sở, Công an cấp xã nơi người bị
áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh cư trú và gia đình của người đó biết
để phối hợp truy tìm, áp giải người đó trở lại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
Hết thời hạn 03 ngày kể từ ngày phát hiện người bị áp dụng
biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh bỏ trốn mà việc truy tìm không có kết quả
thì Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đề nghị cơ quan đã đề nghị áp dụng biện pháp tư
pháp bắt buộc chữa bệnh để tổ chức truy nã, áp giải người đó trở lại cơ sở khám
bệnh, chữa bệnh.
4. Chính phủ quy định về biện pháp tổ chức quản lý người
bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh trong thời gian điều trị tại cơ
sở khám bệnh, chữa bệnh.
Điều 137. Chấm
dứt thi hành biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh
1. Khi người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh
đã khỏi bệnh hoặc đủ khả năng nhận thức, đủ khả năng điều khiển hành vi, thủ
trưởng cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thông báo cho cơ quan đề nghị áp dụng biện
pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh để tiến hành trưng cầu giám định pháp y, pháp y
tâm thần về tình trạng bệnh của người đó.
Căn cứ vào kết luận giám định pháp y, pháp y tâm thần về
việc người đó đã khỏi bệnh hoặc đủ khả năng nhận thức, đủ khả năng điều khiển
hành vi, cơ quan đề nghị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh đề nghị
Tòa án hoặc Viện kiểm sát đã ra quyết định áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc
chữa bệnh quyết định đình chỉ việc thi hành biện pháp này.
2. Tòa án hoặc Viện kiểm sát đã ra quyết định đình chỉ
thi hành biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh có trách nhiệm gửi quyết định cho
cơ quan đề nghị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh để thông báo cho
cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và gia đình của người đó.
3. Sau khi nhận được quyết định đình chỉ, cơ quan đề nghị
áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh phải đến nhận người bị áp dụng biện
pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh. Việc giao nhận phải lập biên bản, trong đó ghi
rõ thời gian chữa bệnh tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
4. Trường hợp quyết định áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc
chữa bệnh bị hủy thì cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bàn giao người bị áp dụng biện
pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh cho cơ quan đề nghị áp dụng biện pháp tư pháp bắt
buộc chữa bệnh.
Điều 138. Giải
quyết trường hợp người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh chết
1. Trường hợp người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc
chữa bệnh chết, thủ trưởng cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phải báo ngay cho cơ quan
điều tra, Viện kiểm sát có thẩm quyền để xác định nguyên nhân chết, thông báo
cho gia đình của người chết, cơ quan quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 134 của
Luật này.
2. Sau khi được cơ quan điều tra và Viện kiểm sát có thẩm
quyền cho phép, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có trách nhiệm mai táng. Kinh phí
cho việc mai táng do ngân sách nhà nước cấp. Trường hợp gia đình của người chết
đề nghị nhận tử thi để mai táng và tự chịu chi phí thì cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
giao cho họ thực hiện. Việc tổ chức mai táng phải bảo đảm an ninh, trật tự, vệ
sinh môi trường.
Chương X
THI HÀNH ÁN ĐỐI VỚI PHÁP NHÂN THƯƠNG MẠI
Điều 139. Cơ
quan được giao nhiệm vụ thi hành án
1. Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan
thi hành án hình sự cấp quân khu thi hành hình phạt, biện pháp tư pháp quy định
tại các điều 78, 79, 80, 81 và điểm b, điểm c khoản 1 Điều 82 của Bộ luật Hình
sự theo quy định của Luật này.
2. Cơ quan thi hành án dân sự thi hành hình phạt tiền quy
định tại Điều 77 của Bộ luật Hình sự, biện pháp tư pháp quy định tại điểm a khoản
1 Điều 82 của Bộ luật Hình sự theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.
Điều 140.
Quyết định thi hành án
1. Quyết định thi hành án phải ghi rõ họ tên, chức vụ người
ra quyết định; bản án, quyết định được thi hành: cơ quan thi hành án hình sự;
tên, địa chỉ, mã số doanh nghiệp, mã số thuế; hình phạt chính, hình phạt bổ
sung, biện pháp tư pháp; thời hạn chấp hành án.
2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định
thi hành án, toà án dân sự ra quyết định phải gửi quyết định thi hành án cho
các cơ quan, tổ chức sau đây:
a) Pháp nhân thương mại chấp hành án;
b) Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh hoặc cơ
quan thi hành án hình sự cấp quân khu:
c) Viện kiểm sát cùng cấp;
d) Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.
Điều 141. Thủ
tục thi hành án
1. Pháp nhân thương mại chấp hành án thực hiện các thủ tục
sau đây:
a) Khi được cơ quan thi hành án hình sự triệu tập để
thông báo, yêu cầu thi hành hình phạt, biện pháp tư pháp, người đại diện theo
pháp luật của pháp nhân thương mại phải có mặt, trừ trường hợp do tình trạng khẩn
cấp, lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan;
b) Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được
quyết định thi hành án, pháp nhân thương mại phải công bố quyết định đó trên
trang thông tin điện tử, ấn phẩm của pháp nhân thương mại và niêm yết công khai
tại trụ sở chính và địa điểm kinh doanh của pháp nhân thương mại trong thời
gian chấp hành án; thông báo việc chấp hành hình phạt, biện pháp tư pháp cho cơ
quan, tổ chức, cá nhân có liên quan;
c) Pháp nhân thương mại bị đình chỉ hoạt động có thời hạn
phải tạm dừng hoạt động đối với ngành, nghề trong một hoặc một số lĩnh vực bị
đình chỉ hoạt động có thời hạn theo bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực
pháp luật;
d) Pháp nhân thương mại bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn
phải chấm dứt ngay hoạt động đối với ngành, nghề trong một hoặc một số lĩnh vực
bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn hoặc toàn bộ hoạt động bị đình chỉ vĩnh viễn
theo bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật;
đ) Pháp nhân thương mại bị cấm kinh doanh, cấm hoạt động
trong một số lĩnh vực nhất định thì không được tiếp tục kinh doanh, hoạt động đối
với ngành, nghề trong lĩnh vực bị cấm trong thời hạn theo bản án, quyết định của
Tòa án. Pháp nhân thương mại không được tiếp tục kinh doanh, hoạt động kể từ
ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật:
e) Pháp nhân thương mại bị cấm huy động vốn thì không được
thực hiện một hoặc một số hình thức huy động vốn trong thời hạn bị cấm theo bản
án, quyết định của Tòa án. Pháp nhân thương mại không được thực hiện việc huy động
vốn kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật;
g) Pháp nhân thương mại bị áp dụng biện pháp tư pháp buộc
khôi phục lại tình trạng ban đầu, buộc thực hiện một số biện pháp nhằm khắc phục,
ngăn chặn hậu quả tiếp tục xảy ra thì phải thi hành theo bản án, quyết định của
Tòa án có hiệu lực pháp luật;
h) Pháp nhân thương mại chấp hành án phải báo cáo bằng
văn bản cho cơ quan thi hành án hình sự và cơ quan quản lý nhà nước đối với
pháp nhân thương mại về việc chấp hành hình phạt, biện pháp tư pháp theo bản
án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật:
i) Thực hiện thủ tục khác theo quy định của pháp luật có
liên quan.
2. Cơ quan thi hành án hình sự thực hiện các thủ tục sau
đây:
a) Ngay sau khi nhận được quyết định thi hành án, cơ quan
thi hành án hình sự phải công bố ngay quyết định đó trên trang thông tin điện tử
của cơ quan mình và triệu tập người đại diện theo pháp luật của pháp nhân
thương mại để thông báo, yêu cầu thi hành án. Người đại diện theo pháp luật của
pháp nhân thương mại được triệu tập hợp lệ mà không có mặt thì cơ quan thi hành
án hình sự phải lập biên bản vắng mặt và tiếp tục tổ chức thi hành án;
b) Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được
quyết định thi hành án, cơ quan thi hành án hình sự phải gửi văn bản yêu cầu cơ
quan quản lý nhà nước đối với pháp nhân thương mại thực hiện một hoặc một số biện
pháp quy định tại Điều 145 của Luật này;
c) Chủ trì, phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước đối với
pháp nhân thương mại và cơ quan khác có liên quan kiểm tra, giám sát trong quá
trình pháp nhân thương mại chấp hành án:
d) Ra quyết định cưỡng chế thi hành án theo quy định của
Luật này; chủ trì, phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước đối với pháp nhân
thương mại và cơ quan, tổ chức khác có liên quan cưỡng chế thi hành án đối với
pháp nhân thương mại theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật
có liên quan;
đ) Cấp chứng nhận chấp hành xong hình phạt, chứng nhận chấp
hành xong biện pháp tư pháp, công bố và gửi các văn bản này theo quy định tại
Điều 140 của Luật này. Trường hợp pháp nhân thương mại bị đình chỉ hoạt động
vĩnh viễn, sau khi cơ quan quản lý nhà nước đối với pháp nhân thương mại thực
hiện các biện pháp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 145 của Luật này, cơ quan
thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu
ra thông báo kết thúc việc thi hành án;
e) Thực hiện thủ tục khác theo quy định của pháp luật.
3. Cơ quan quản lý nhà nước đối với pháp nhân thương mại
chấp hành án thực hiện các thủ tục sau đây:
a) Thực hiện biện pháp quy định tại Điều 145 của Luật này
ngay sau khi nhận được văn bản yêu cầu của cơ quan thi hành án hình sự kèm theo
bản sao quyết định thi hành án và thông báo cho cơ quan thi hành án hình sự kết
quả thực hiện;
b) Công bố ngay trên cổng thông tin, trang thông tin điện
tử của cơ quan mình, Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp quyết định
thi hành án, các biện pháp đã được áp dụng đối với pháp nhân thương mại quy định
tại Điều 138 của Luật này, chứng nhận chấp hành xong hình phạt, chứng nhận chấp
hành xong biện pháp tư pháp;
c) Phối hợp với cơ quan thi hành án hình sự và cơ quan
khác có liên quan kiểm tra, giám sát pháp nhân thương mại trong quá trình chấp
hành án;
d) Phối hợp với cơ quan thi hành án hình sự và cơ quan, tổ
chức khác có liên quan cưỡng chế thi hành án đối với pháp nhân thương mại theo
quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan;
đ) Thực hiện thủ tục khác theo quy định của pháp luật.
4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 142. Hồ
sơ thi hành án
Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi
hành án hình sự cấp quân khu có trách nhiệm lập hồ sơ thi hành án đối với pháp
nhân thương mại. Hồ sơ bao gồm:
1. Bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật;
2. Quyết định thi hành án;
3. Giấy triệu tập người đại diện theo pháp luật của pháp
nhân thương mại;
4. Văn bản của cơ quan thi hành án hình sự yêu cầu cơ
quan quản lý nhà nước đối với pháp nhân thương mại thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn
trong thi hành án;
5. Thông báo của cơ quan quản lý nhà nước đối với pháp
nhân thương mại cho cơ quan thi hành án hình sự về thực hiện yêu cầu trong thi
hành án và việc chấp hành án của pháp nhân thương mại;
6. Báo cáo của pháp nhân thương mại về việc chấp hành án;
7. Tài liệu thể hiện việc công bố thông tin về thi hành
án theo quy định của Luật này;
8. Biên bản về thi hành án;
9. Tài liệu về việc cưỡng chế thi hành án (nếu có);
10. Tài liệu về việc chấp hành xong hình phạt, chấp hành
xong biện pháp tư pháp theo quy định của Luật này;
11. Tài liệu khác có liên quan.
Điều 143.
Quyền, nghĩa vụ của pháp nhân thương mại chấp hành án
1. Pháp nhân thương mại chấp hành án có các quyền sau
đây:
a) Được thông báo về việc thi hành án;
b) Được nhận các quyết định liên quan trong quá trình chấp
hành án;
c) Được khiếu nại về thi hành án;
d) Được cấp chứng nhận chấp hành xong hình phạt, chứng nhận
chấp hành xong biện pháp tư pháp theo quy định của Luật này;
đ) Được bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật
về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
2. Pháp nhân thương mại chấp hành án có các nghĩa vụ sau
đây:
a) Chấp hành nghiêm chỉnh bản án, quyết định của Tòa án
có hiệu lực pháp luật; quyết định, yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền trong thi
hành án;
b) Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại
phải có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan thi hành án hình sự;
c) Công bố và niêm yết công khai quyết định thi hành án;
thông báo việc chấp hành hình phạt và biện pháp tư pháp cho cơ quan, tổ chức,
cá nhân có liên quan theo quy định của Luật này;
d) Báo cáo cơ quan thi hành án hình sự về việc chấp hành
án.
3. Pháp nhân thương mại chấp hành án có các quyền và
nghĩa vụ khác theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên
quan.
Điều 144. Cưỡng
chế thi hành án
1. Pháp nhân thương mại chấp hành án không chấp hành hoặc
chấp hành không đầy đủ bản án, quyết định của Tòa án thì bị áp dụng biện pháp
cưỡng chế thi hành án. Pháp nhân thương mại phải chịu chi phí cưỡng chế thi
hành án.
2. Cơ quan thi hành án hình sự ra quyết định áp dụng biện
pháp cưỡng chế thi hành án.
3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 145.
Trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước đối với pháp nhân thương mại
1. Căn cứ vào bản án, quyết định thi hành án và văn bản
yêu cầu của cơ quan thi hành án hình sự, cơ quan quản lý nhà nước đối với pháp
nhân thương mại, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có trách nhiệm thực
hiện một hoặc một số biện pháp sau đây:
a) Sửa đổi hoặc đình chỉ hiệu lực giấy phép thành lập và
hoạt động hoặc văn bản khác có giá trị tương đương đối với pháp nhân thương mại
trong thời gian bị đình chỉ hoạt động có thời hạn; áp dụng biện pháp khác theo
quy định của pháp luật để bảo đảm thi hành hình phạt đình chỉ hoạt động có thời
hạn theo bản án, quyết định của Tòa án;
b) Thu hồi hoặc xóa bỏ nội dung đăng ký của pháp nhân
thương mại hoặc văn bản khác có giá trị tương đương; thu hồi giấy chứng nhận
đăng ký doanh nghiệp của pháp nhân thương mại, không cấp lại giấy phép thành lập,
hoạt động đối với pháp nhân thương mại đã bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn; áp dụng
biện pháp khác theo quy định của pháp luật để bảo đảm thi hành hình phạt đình
chỉ hoạt động vĩnh viễn theo bản án, quyết định của Tòa án;
c) Xóa bỏ nội dung đăng ký; sửa đổi, tạm dừng hiệu lực,
thu hồi, từ chối hoặc không cấp lại một phần hoặc toàn bộ giấy phép hoặc văn bản
khác có giá trị tương đương; đình chỉ một phần hoặc toàn bộ ngành, nghề, hoạt động
của pháp nhân thương mại trong thời hạn bị cấm hoạt động, cấm kinh doanh đối với
ngành, nghề trong lĩnh vực bị cấm; áp dụng biện pháp khác theo quy định của
pháp luật để bảo đảm thi hành hình phạt cấm kinh doanh, cấm hoạt động theo bản
án, quyết định của Tòa án;
d) Tự mình hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức thuộc lĩnh vực
quản lý sửa đổi, đình chỉ, hủy bỏ, thu hồi giấy phép; từ chối cấp phép, chấp
thuận, tiến hành thủ tục để huy động vốn trong thời hạn bị cấm đối với pháp
nhân thương mại; áp dụng biện pháp khác theo quy định của pháp luật để bảo đảm
thi hành hình phạt cấm huy động vốn theo bản án, quyết định của Tòa án;
đ) Áp dụng các biện pháp theo quy định của pháp luật để bảo
đảm thi hành biện pháp tư pháp buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu, buộc thực
hiện một số biện pháp nhằm khắc phục, ngăn chặn hậu quả tiếp tục xảy ra theo bản
án, quyết định của Tòa án.
2. Phối hợp với cơ quan thi hành án hình sự và cơ quan
khác có liên quan kiểm tra, giám sát pháp nhân thương mại trong quá trình chấp
hành hình phạt, biện pháp tư pháp.
3. Thông báo bằng văn bản cho cơ quan thi hành án hình sự
về việc thực hiện yêu cầu trong thi hành án và việc chấp hành án của pháp nhân
thương mại.
4. Phối hợp với cơ quan thi hành án hình sự và cơ quan, tổ
chức khác có liên quan thi hành biện pháp cưỡng chế thi hành án đối với pháp
nhân thương mại theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có
liên quan.
5. Công bố quyết định, văn bản của cơ quan thi hành án
hình sự và biện pháp được áp dụng đối với pháp nhân thương mại theo quy định của
Luật này.
6. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 146.
Chuyển giao nghĩa vụ thi hành án trong trường hợp pháp nhân thương mại tổ chức
lại
1. Trường hợp pháp nhân thương mại chấp hành án được
chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp theo quy định
của pháp luật thì pháp nhân thương mại kế thừa các quyền và nghĩa vụ của pháp
nhân thương mại chấp hành án có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ thi hành án theo
quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan. Pháp nhân
thương mại không được lợi dụng việc chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi
loại hình doanh nghiệp hoặc giải thể, phá sản để trốn tránh nghĩa vụ thi hành
án.
2. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 147. Cấp
chứng nhận chấp hành xong hình phạt, chứng nhận chấp hành xong biện pháp tư
pháp
1. Pháp nhân thương mại chấp hành xong hình phạt, chấp
hành xong biện pháp tư pháp thì được cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền
cấp chứng nhận chấp hành xong hình phạt, chứng nhận chấp hành xong biện pháp tư
pháp, trừ trường hợp pháp nhân thương mại bị kết án đình chỉ hoạt động vĩnh viễn
theo quy định của Bộ luật Hình sự.
2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày cấp chứng
nhận chấp hành xong hình phạt, chứng nhận chấp hành xong biện pháp tư pháp cho
pháp nhân thương mại, cơ quan thi hành án hình sự phải công bố trên trang thông
tin điện tử của cơ quan mình và gửi cho cơ quan quản lý nhà nước đối với pháp
nhân thương mại, Tòa án đã ra quyết định thi hành án, cơ quan quy định tại điểm
d và điểm đ khoản 2 Điều 140 của Luật này.
Chương XI
KIỂM SÁT THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ
Điều 148.
Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong kiểm sát thi hành án hình sự, thi
hành biện pháp tư pháp
1. Yêu cầu Tòa án có thẩm quyền ra quyết định thi hành án
hình sự, yêu cầu cơ quan có thẩm quyền áp giải theo quy định của pháp luật; yêu
cầu Tòa án, cơ quan thi hành án hình sự, cơ quan được giao một số nhiệm vụ thi
hành án hình sự, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tự kiểm tra việc thi hành án hình sự,
thi hành biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh và thông báo kết quả cho Viện kiểm
sát; cung cấp hồ sơ, tài liệu có liên quan đến thi hành án hình sự, thi hành biện
pháp tư pháp.
2. Trực tiếp kiểm sát việc thi hành án hình sự của cơ
quan thi hành án hình sự, cơ quan được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự,
cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; kiểm sát hồ sơ thi hành án hình sự, hồ sơ thi hành
biện pháp tư pháp của cơ quan thi hành án hình sự, cơ quan được giao một số nhiệm
vụ thi hành án hình sự, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh. Viện kiểm sát nhân dân cấp
tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu trực tiếp kiểm sát việc thi hành án phạt
tù của trại giam đóng tại địa phương, địa bàn; kiểm sát việc thi hành án đối với
pháp nhân thương mại.
3. Quyết định trả tự do ngay cho người đang chấp hành án
phạt tù không có căn cứ và trái pháp luật.
4. Đề nghị miễn, hoãn, tạm đình chỉ, đình chỉ chấp hành
án; tham gia phiên họp xét giảm thời hạn chấp hành án, miễn chấp hành án, tha
tù trước thời hạn có điều kiện, hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện,
buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo, rút ngắn thời gian
thử thách.
5. Kháng nghị, kiến nghị, yêu cầu Tòa án, cơ quan thi
hành án hình sự, cơ quan được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự, người
có thẩm quyền, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong thi hành án hình sự
và trong thi hành biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh; yêu cầu đình chỉ việc
thi hành, sửa đổi hoặc bãi bỏ quyết định có vi phạm pháp luật trong thi hành án
hình sự; chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật.
6. Tiếp nhận và giải quyết khiếu nại, tố cáo trong quản
lý, giáo dục cải tạo người chấp hành án phạt tù theo thẩm quyền; kiểm sát việc
tuân theo pháp luật trong giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với việc thi hành án
hình sự.
7. Khởi tố hoặc yêu cầu cơ quan điều tra khởi tố vụ án
hình sự khi phát hiện vụ việc có dấu hiệu tội phạm trong thi hành án hình sự
theo quy định của pháp luật.
8. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong kiểm sát thi
hành án hình sự.
Điều 149. Kiểm
sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong thi hành án hình sự
1. Viện kiểm sát trực tiếp kiểm sát việc giải quyết khiếu
nại, tố cáo của Tòa án, cơ quan quản lý thi hành án hình sự, cơ quan thi hành
án hình sự, cơ quan được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự.
2. Khi kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong
thi hành án hình sự, Viện kiểm sát có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan quản lý thi
hành án hình sự, cơ quan thi hành án hình sự, cơ quan được giao một số nhiệm vụ
thi hành án hình sự thực hiện nhiệm vụ sau đây:
a) Ra văn bản giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định
tại Chương XIII của Luật này;
b) Kiểm tra việc giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm
quyền và của cấp dưới; thông báo kết quả giải quyết cho Viện kiểm sát;
c) Cung cấp hồ sơ, tài liệu liên quan đến việc giải quyết
khiếu nại, tố cáo cho Viện kiểm sát.
Điều 150.
Trách nhiệm thực hiện yêu cầu, quyết định, kháng nghị, kiến nghị của Viện kiểm
sát về thi hành án hình sự
1. Đối với yêu cầu Tòa án ra quyết định thi hành án hình
sự và cung cấp hồ sơ, tài liệu có liên quan đến thi hành án hình sự phải thực
hiện ngay; đối với yêu cầu Tòa án, cơ quan thi hành án hình sự, cơ quan được
giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự tự kiểm tra việc thi hành án hình sự
và thông báo kết quả cho Viện kiểm sát phải thực hiện trong thời hạn 30 ngày kể
từ ngày nhận được yêu cầu.
2. Đối với quyết định quy định tại khoản 3 Điều 148 của
Luật này, cơ quan thi hành án hình sự phải thi hành ngay; nếu không nhất trí với
quyết định đó thì vẫn phải thi hành, nhưng có quyền kiến nghị lên Viện kiểm sát
cấp trên trực tiếp. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được kiến nghị, Viện
trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp phải giải quyết.
3. Đối với kháng nghị về quyết định giảm thời hạn chấp
hành án, miễn chấp hành án, tha tù trước thời hạn có điều kiện, hủy quyết định
tha tù trước thời hạn có điều kiện, buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã
cho hưởng án treo, rút ngắn thời gian thử thách quy định tại khoản 4 Điều 148 của
Luật này thì việc giải quyết kháng nghị được thực hiện theo quy định của pháp
luật về tố tụng hình sự.
4. Đối với kháng nghị quyết định về việc hoãn, tạm đình
chỉ, đình chỉ chấp hành án của Tòa án quy định tại khoản 4 Điều 148 của Luật
này và kháng nghị quy định tại khoản 5 Điều 148 của Luật này, Tòa án, cơ quan
thi hành án hình sự, cơ quan được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự có
trách nhiệm trả lời bằng văn bản trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được
kháng nghị; nếu không nhất trí với kháng nghị đó thì các cơ quan này có quyền
khiếu nại lên Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp; Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp
phải giải quyết trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại. Quyết định
của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp phải được thi hành.
5. Đối với kiến nghị quy định tại khoản 5 Điều 148 của Luật
này phải được xem xét, giải quyết, trả lời bằng văn bản trong thời hạn 30 ngày
kể từ ngày nhận được kiến nghị.
Chương XII
BẢO ĐẢM ĐIỀU KIỆN CHO HOẠT ĐỘNG THI
HÀNH ÁN HÌNH SỰ
Điều 151. Bảo
đảm biên chế, nhân lực, đào tạo, huấn luyện, bồi dưỡng cán bộ thi hành án hình
sự
1. Nhà nước bảo đảm biên chế, nhân lực cho các cơ quan quản
lý thi hành án hình sự, cơ quan thi hành án hình sự.
2. Người làm công tác thi hành án hình sự phải được đào tạo,
huấn luyện, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, pháp luật và kiến thức khác phù hợp
với nhiệm vụ, quyền hạn được giao.
Điều 152. Bảo
đảm cơ sở vật chất phục vụ hoạt động thi hành án hình sự
1. Căn cứ yêu cầu công tác thi hành án hình sự, địa bàn
hoạt động và điều kiện kinh tế - xã hội, Nhà nước bảo đảm cơ sở vật chất của cơ
quan quản lý thi hành án hình sự, cơ quan thi hành án hình sự, bao gồm đất đai,
trụ sở, công trình; trang thiết bị, vũ khí, công cụ hỗ trợ, phương tiện giao
thông, thông tin liên lạc, kỹ thuật nghiệp vụ và các điều kiện vật chất, kỹ thuật
khác; ưu tiên bảo đảm cơ sở vật chất cho cơ quan đóng ở miền núi, biên giới, hải
đảo, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế -
xã hội đặc biệt khó khăn, địa bàn trọng yếu về an ninh quốc gia, trật tự, an
toàn xã hội.
2. Căn cứ vào điều kiện kinh tế - xã hội, nhu cầu và khả
năng cung cấp dịch vụ ứng dụng công nghệ số trong từng thời kỳ, Chính phủ quy định
việc sử dụng, ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong hoạt động thi
hành án hình sự.
Điều 153.
Trang bị và sử dụng vũ khí, phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ, công cụ hỗ trợ
trong thi hành án hình sự
Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, chiến sĩ
Công an nhân dân, Quân đội nhân dân khi thực hiện nhiệm vụ thi hành án hình sự
được trang bị và sử dụng vũ khí, phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ, công cụ hỗ trợ
theo quy định của pháp luật.
Điều 154. Cơ
sở dữ liệu về thi hành án hình sự
1. Cơ sở dữ liệu về thi hành án hình sự do Bộ Công an quản
lý là một bộ phận của hệ cơ sở dữ liệu quốc gia về thông tin phòng, chống tội
phạm nhằm phục vụ công tác quản lý nhà nước về thi hành án hình sự, đấu tranh
phòng, chống tội phạm.
2. Việc xây dựng, thu thập, lưu trữ, xử lý, bảo vệ, khai
thác, sử dụng cơ sở dữ liệu về thi hành án hình sự do Chính phủ quy định.
Điều 155. Bảo
đảm kinh phí cho hoạt động thi hành án hình sự
Nhà nước bảo đảm kinh phí cho hoạt động thi hành án hình
sự. Việc lập dự toán, sử dụng và quyết toán kinh phí bảo đảm cho hoạt động thi
hành án hình sự được thực hiện theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước.
Chương XIII
GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO TRONG THI
HÀNH ÁN HÌNH SỰ
Mục 1
KHIẾU NẠI VÀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI
TRONG THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ
Điều 156.
Quyền khiếu nại trong thi hành án hình sự
1. Người, pháp nhân thương mại chấp hành án hình sự và cơ
quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan (sau đây gọi là người khiếu nại) có
quyền khiếu nại đối với quyết định, hành vi của cơ quan, người có thẩm quyền
thi hành án hình sự nếu có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp
luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Việc khiếu nại của pháp nhân
thương mại chấp hành án được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật
của pháp nhân thương mại.
2. Thời hiệu khiếu nại lần đầu là 30 ngày kể từ ngày nhận
hoặc biết được quyết định, hành vi thi hành án hình sự mà người khiếu nại cho rằng
có vi phạm pháp luật. Thời hiệu khiếu nại lần hai là 15 ngày kể từ ngày nhận được
quyết định giải quyết khiếu nại của người có thẩm quyền.
Trường hợp do tình trạng khẩn cấp, lý do bất khả kháng hoặc
trở ngại khách quan mà người khiếu nại không thực hiện được quyền khiếu nại
theo đúng thời hiệu thì thời gian có lý do tình trạng khẩn cấp, bất khả kháng
hoặc trở ngại khách quan đó không tính vào thời hiệu khiếu nại.
Điều 157.
Các trường hợp khiếu nại về thi hành án hình sự không được thụ lý giải quyết
1. Quyết định, hành vi bị khiếu nại không liên quan trực
tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khiếu nại.
2. Người khiếu nại là cá nhân không có năng lực hành vi
dân sự đầy đủ mà không có người đại diện, trừ trường hợp pháp luật có quy định
khác.
3. Người đại diện không có giấy tờ chứng minh về việc đại
diện hợp pháp của mình.
4. Thời hiệu khiếu nại đã hết.
5. Việc khiếu nại đã có quyết định giải quyết khiếu nại
có hiệu lực thi hành.
Điều 158. Thẩm
quyền giải quyết khiếu nại trong thi hành án hình sự
1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, Trưởng Công an cấp xã
giải quyết khiếu nại đối với quyết định, hành vi trái pháp luật của cơ quan, tổ
chức, người có liên quan trong quản lý, giám sát, kiểm soát, giáo dục người chấp
hành án hình sự ở xã, phường, đặc khu.
2. Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh
giải quyết khiếu nại đối với quyết định, hành vi sau đây:
a) Quyết định, hành vi trái pháp luật của Phó thủ trưởng,
sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ thuộc quyền quản lý của cơ quan thi hành án hình
sự Công an cấp tỉnh, trừ trường hợp quy định tại khoản 6 Điều này;
b) Quyết định, hành vi trái pháp luật của Chủ tịch Ủy ban
nhân dân cấp xã, Trưởng Công an cấp xã, Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã
được Tòa án giao quản lý, giám sát, kiểm soát, giáo dục đối với người chấp hành
án;
c) Quyết định giải quyết khiếu nại của Chủ tịch Ủy ban
nhân dân cấp xã, Trưởng Công an cấp xã được Tòa án giao quản lý, giám sát, kiểm
soát, giáo dục đối với người chấp hành án;
d) Quyết định, hành vi trái pháp luật của cơ quan, cá
nhân có thẩm quyền trong thi hành án hình sự đối với pháp nhân thương mại.
3. Giám đốc Công an cấp tỉnh giải quyết khiếu nại đối với
quyết định, hành vi sau đây:
a) Quyết định, hành vi trái pháp luật của Thủ trưởng cơ
quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh;
b) Quyết định giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng cơ quan
thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh.
4. Thủ trưởng Cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ
Công an giải quyết khiếu nại đối với quyết định, hành vi trái pháp luật của sĩ
quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ thuộc quyền quản lý của Cơ quan quản lý thi hành án
hình sự thuộc Bộ Công an, trừ trường hợp quy định tại khoản 6 Điều này.
5. Bộ trưởng Bộ Công an giải quyết khiếu nại đối với quyết
định, hành vi sau đây, trừ trường hợp quy định tại khoản 6 Điều này:
a) Quyết định, hành vi trái pháp luật của Thủ trưởng Cơ
quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an;
b) Quyết định giải quyết khiếu nại của Giám đốc Công an cấp
tỉnh, Thủ trưởng Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an.
6. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện trưởng
Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực
giải quyết khiếu nại đối với quyết định, hành vi trái pháp luật trong quản lý,
giáo dục cải tạo phạm nhân của người được giao quản lý, giáo dục cải tạo phạm
nhân.
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh giải quyết
khiếu nại đối với quyết định giải quyết khiếu nại của Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân khu vực. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện
kiểm sát quân sự trung ương giải quyết khiếu nại đối với quyết định giải quyết
khiếu nại của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện trưởng Viện kiểm
sát quân sự cấp quân khu. Quyết định giải quyết khiếu nại của Viện trưởng Viện
kiểm sát cấp trên có hiệu lực thi hành.
Điều 159. Thẩm
quyền giải quyết khiếu nại về thi hành án hình sự trong Quân đội nhân dân
1. Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu giải
quyết khiếu nại đối với quyết định, hành vi trái pháp luật trong thi hành án
hình sự của sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, chiến sĩ của đơn vị
quân đội, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu, trừ trường hợp quy định tại
khoản 6 Điều 158 của Luật này.
2. Tư lệnh quân khu và tương đương giải quyết khiếu nại đối
với quyết định, hành vi sau đây, trừ trường hợp quy định tại khoản 6 Điều 158 của
Luật này:
a) Quyết định, hành vi trái pháp luật của Thủ trưởng cơ
quan thi hành án hình sự cấp quân khu;
b) Quyết định giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng cơ quan
thi hành án hình sự cấp quân khu.
3. Thủ trưởng Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Quốc
phòng giải quyết khiếu nại đối với quyết định, hành vi trái pháp luật của sĩ
quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, chiến sĩ thuộc quyền quản lý của Cơ
quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Quốc phòng, trừ trường hợp quy định tại khoản
6 Điều 158 của Luật này.
4. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng giải quyết khiếu nại đối với
quyết định, hành vi sau đây, trừ trường hợp quy định tại khoản 6 Điều 158 của
Luật này:
a) Quyết định, hành vi trái pháp luật của Thủ trưởng Cơ
quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Quốc phòng;
b) Quyết định, hành vi trái pháp luật của Tư lệnh quân
khu và tương đương;
c) Quyết định giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng Cơ quan
quản lý thi hành án hình sự Bộ Quốc phòng, Tư lệnh quân khu và tương đương.
Điều 160.
Quyền và nghĩa vụ của người khiếu nại trong thi hành án hình sự
1. Người khiếu nại có các quyền sau đây:
a) Tự mình khiếu nại hoặc thông qua người đại diện để khiếu
nại trong bất kỳ thời gian nào của quá trình thi hành án hình sự;
b) Rút khiếu nại trong bất kỳ thời gian nào của quá trình
giải quyết khiếu nại;
c) Được nhận văn bản trả lời về việc thụ lý giải quyết
khiếu nại, nhận quyết định giải quyết khiếu nại;
d) Được khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp đã bị xâm phạm,
được bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.
2. Người khiếu nại có các nghĩa vụ sau đây:
a) Trình bày trung thực sự việc, cung cấp thông tin, tài
liệu liên quan đến việc khiếu nại cho người giải quyết khiếu nại; chịu trách
nhiệm trước pháp luật về nội dung trình bày và việc cung cấp các thông tin, tài
liệu đó;
b) Chấp hành quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực
thi hành.
Điều 161.
Quyền và nghĩa vụ của người bị khiếu nại trong thi hành án hình sự
1. Người bị khiếu nại có các quyền sau đây:
a) Được thông báo về nội dung khiếu nại;
b) Đưa ra bằng chứng về tính hợp pháp của quyết định,
hành vi thi hành án hình sự bị khiếu nại;
c) Được nhận quyết định giải quyết khiếu nại.
2. Người bị khiếu nại có các nghĩa vụ sau đây:
a) Giải trình về quyết định, hành vi thi hành án hình sự
bị khiếu nại, cung cấp thông tin, tài liệu liên quan khi cơ quan, tổ chức, cá
nhân có thẩm quyền yêu cầu;
b) Chấp hành quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực
thi hành;
c) Hoàn trả, khắc phục hậu quả do quyết định, hành vi
trái pháp luật của mình gây ra theo quy định của pháp luật.
Điều 162.
Nhiệm vụ và quyền hạn của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại trong thi
hành án hình sự
1. Tiếp nhận, giải quyết khiếu nại đối với quyết định,
hành vi bị khiếu nại.
2. Yêu cầu người khiếu nại, người bị khiếu nại giải
trình, cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến việc khiếu nại.
3. Thông báo bằng văn bản về việc thụ lý để giải quyết, gửi
quyết định giải quyết cho người khiếu nại.
4. Chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc giải quyết
khiếu nại của mình.
Điều 163. Thời
hạn giải quyết khiếu nại trong thi hành án hình sự
1. Thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu là 15 ngày kể từ
ngày thụ lý khiếu nại.
2. Thời hạn giải quyết khiếu nại lần hai là 30 ngày kể từ
ngày thụ lý khiếu nại.
3. Trường hợp cần thiết, đối với những vụ việc phức tạp
thì thời hạn giải quyết khiếu nại quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này có
thể kéo dài thêm nhưng không quá 30 ngày.
Điều 164. Tiếp
nhận, thụ lý khiếu nại trong thi hành án hình sự
1. Cơ quan, người có thẩm quyền phải tiếp nhận các khiếu
nại trong thi hành án hình sự. Đối với khiếu nại của phạm nhân quy định tại khoản
6 Điều 158 của Luật này thì trong thời hạn 24 giờ kể từ khi tiếp nhận, Giám thị
trại giam, Giám thị trại tạm giam phải chuyển ngay khiếu nại cho Viện kiểm sát
có thẩm quyền.
2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được
khiếu nại, cơ quan, người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều này, Điều 158
và Điều 159 của Luật này phải thụ lý để giải quyết và thông báo bằng văn bản
cho người khiếu nại biết. Trường hợp không thụ lý khiếu nại để giải quyết thì
phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do.
Điều 165. Hồ
sơ giải quyết khiếu nại trong thi hành án hình sự
1. Hồ sơ giải quyết khiếu nại bao gồm:
a) Đơn khiếu nại hoặc văn bản ghi nội dung khiếu nại;
b) Văn bản giải trình của người bị khiếu nại;
c) Biên bản thẩm tra, xác minh, kết luận;
d) Quyết định giải quyết khiếu nại;
đ) Tài liệu khác có liên quan.
2. Hồ sơ giải quyết khiếu nại phải được đánh số bút lục
và lưu giữ tại cơ quan giải quyết khiếu nại.
Điều 166.
Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại lần đầu trong thi hành án hình sự
1. Sau khi thụ lý khiếu nại, người có thẩm quyền giải quyết
khiếu nại quy định tại Điều 158 và Điều 159 của Luật này tiến hành xác minh,
yêu cầu người khiếu nại, người bị khiếu nại giải trình, cung cấp thông tin, tài
liệu liên quan đến việc khiếu nại; gặp cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để
làm rõ nội dung khiếu nại và ra quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu.
2. Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu có hiệu lực
thi hành nếu trong thời hiệu do Luật này quy định mà người khiếu nại không khiếu
nại tiếp.
Điều 167. Nội
dung quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu trong thi hành án hình sự
1. Ngày, tháng, năm ra quyết định.
2. Họ tên, địa chỉ của người khiếu nại, người bị khiếu nại.
3. Nội dung khiếu nại.
4. Kết quả xác minh nội dung khiếu nại.
5. Căn cứ pháp luật để giải quyết khiếu nại.
6. Kết luận về nội dung khiếu nại là đúng, đúng một phần
hoặc sai toàn bộ.
7. Giữ nguyên, sửa đổi, hủy bỏ hoặc yêu cầu sửa đổi, hủy
bỏ một phần quyết định bị khiếu nại hoặc buộc chấm dứt việc thực hiện quyết định,
hành vi bị khiếu nại.
8. Việc bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do quyết
định, hành vi trái pháp luật gây ra (nếu có).
9. Hướng dẫn quyền khiếu nại tiếp theo của đương sự.
Điều 168.
Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại lần hai trong thi hành án hình sự
1. Trường hợp tiếp tục khiếu nại thì người khiếu nại phải
gửi đơn kèm theo bản sao quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu và tài liệu
liên quan cho người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai.
2. Trong quá trình giải quyết khiếu nại lần hai, người có
thẩm quyền giải quyết khiếu nại quy định tại Điều 158 và Điều 159 của Luật này
có quyền yêu cầu người giải quyết khiếu nại lần đầu, cơ quan, tổ chức, cá nhân
có liên quan cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung khiếu nại; triệu
tập người bị khiếu nại, người khiếu nại khi cần thiết; xác minh, tiến hành các
biện pháp khác theo quy định của pháp luật để giải quyết khiếu nại. Cơ quan, tổ
chức, cá nhân khi nhận được yêu cầu phải thực hiện đúng các yêu cầu đó.
3. Quyết định giải quyết khiếu nại lần hai có hiệu lực
thi hành.
Điều 169. Nội
dung quyết định giải quyết khiếu nại lần hai trong thi hành án hình sự
1. Ngày, tháng, năm ra quyết định.
2. Họ tên, địa chỉ của người khiếu nại, người bị khiếu nại.
3. Nội dung khiếu nại.
4. Kết quả xác minh nội dung khiếu nại.
5. Căn cứ pháp luật để giải quyết khiếu nại.
6. Kết luận về nội dung khiếu nại và việc giải quyết của
người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu.
7. Giữ nguyên, sửa đổi, hủy bỏ hoặc yêu cầu sửa đổi, hủy
bỏ một phần quyết định bị khiếu nại hoặc buộc chấm dứt thực hiện quyết định,
hành vi bị khiếu nại; việc bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do quyết định,
hành vi trái pháp luật gây ra.
Mục 2
TỐ CÁO VÀ GIẢI QUYẾT TỐ CÁO TRONG
THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ
Điều 170.
Người có quyền tố cáo trong thi hành án hình sự
Người chấp hành án và mọi công dân có quyền tố cáo với cơ
quan, người có thẩm quyền về hành vi vi phạm pháp luật của bất kỳ người có thẩm
quyền nào trong thi hành án hình sự mà gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại
lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Điều 171.
Quyền và nghĩa vụ của người tố cáo, người bị tố cáo trong thi hành án hình sự
Quyền và nghĩa vụ của người tố cáo, người bị tố cáo trong
thi hành án hình sự được thực hiện theo quy định của Luật Tố cáo.
Điều 172. Thẩm
quyền và thời hạn giải quyết tố cáo
1. Thẩm quyền giải quyết tố cáo như sau:
a) Người đứng đầu cơ quan, tổ chức giải quyết tố cáo đối
với hành vi vi phạm pháp luật của người thuộc thẩm quyền quản lý của cơ quan, tổ
chức đó;
b) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết tố cáo đối
với hành vi vi phạm pháp luật của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã;
c) Giám đốc Công an cấp tỉnh giải quyết tố cáo đối với
hành vi vi phạm pháp luật của Thủ trưởng Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp
tỉnh, Trưởng Công an cấp xã;
d) Tư lệnh Quân khu và tương đương giải quyết tố cáo đối
với hành vi vi phạm pháp luật của Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự cấp
quân khu;
đ) Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng giải quyết
tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật của Thủ trưởng cơ quan quản lý thi
hành án hình sự thuộc phạm vi quản lý;
e) Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền giải quyết tố
cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật trong quản lý, giáo dục cải tạo phạm nhân
của người được giao quản lý, giáo dục cải tạo phạm nhân.
2. Thời hạn giải quyết tố cáo là không quá 30 ngày kể từ
ngày thụ lý giải quyết tố cáo; đối với vụ việc phức tạp thì có thể gia hạn giải
quyết tố cáo một lần nhưng không quá 30 ngày; đối với vụ việc đặc biệt phức tạp
thì có thể gia hạn giải quyết tố cáo 02 lần, mỗi lần không quá 30 ngày.
3. Tố cáo về hành vi vi phạm pháp luật có dấu hiệu tội phạm
được giải quyết theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Điều 173.
Trách nhiệm giải quyết tố cáo
1. Cơ quan, người có thẩm quyền, trong phạm vi nhiệm vụ,
quyền hạn của mình, có trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết tố cáo kịp thời,
đúng pháp luật; xử lý nghiêm minh người vi phạm; áp dụng biện pháp cần thiết nhằm
ngăn chặn thiệt hại có thể xảy ra; bảo đảm cho quyết định giải quyết được thi
hành nghiêm chỉnh và chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình.
2. Người có thẩm quyền giải quyết tố cáo mà không giải
quyết, thiếu trách nhiệm trong việc giải quyết, giải quyết trái pháp luật thì
tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm
hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
Chương XIV
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ
Điều 174. Nội
dung quản lý nhà nước về thi hành án hình sự
1. Ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cơ quan có thẩm
quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật về thi hành án hình sự; tổ chức thực
hiện pháp luật về thi hành án hình sự.
2. Chỉ đạo nghiệp vụ, hướng dẫn việc áp dụng thống nhất
các quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
3. Đình chỉ, bãi bỏ theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cấp có
thẩm quyền bãi bỏ những quy định về thi hành án hình sự trái với quy định của
Luật này.
4. Quyết định phân bổ kinh phí, bảo đảm điều kiện cho hoạt
động thi hành án hình sự.
5. Xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu về thi hành án hình sự.
6. Thực hiện công tác thống kê nhà nước về thi hành án
hình sự; báo cáo Quốc hội về công tác thi hành án hình sự.
7. Quản lý hệ thống tổ chức, biên chế, nhân lực; đào tạo,
huấn luyện, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, pháp luật và kiến thức khác về thi
hành án hình sự.
8. Tổ chức sơ kết, tổng kết, nghiên cứu khoa học về thi
hành án hình sự; nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ trong thi
hành án hình sự.
9. Kiểm tra, thanh tra, khen thưởng, giải quyết khiếu nại,
tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về thi hành án hình sự.
10. Hợp tác quốc tế về thi hành án hình sự.
Điều 175.
Trách nhiệm quản lý nhà nước về thi hành án hình sự
1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về thi hành án
hình sự trong phạm vi cả nước.
2. Bộ Công an là cơ quan đầu mối giúp Chính phủ thực hiện
quản lý nhà nước về thi hành án hình sự; phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao,
Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Bộ Quốc phòng hướng dẫn việc phối hợp trong thi
hành án hình sự; xây dựng mẫu thiết kế cơ sở giam giữ phạm nhân, ban hành tiêu
chuẩn, quy chuẩn xây dựng các hạng mục công trình trại giam và các hệ thống
khác phục vụ quản lý cơ sở giam giữ của trại giam thuộc Bộ Công an quản lý.
Bộ trưởng Bộ Công an căn cứ yêu cầu quản lý người bị tạm
giữ, tạm giam và yêu cầu quản lý giam giữ để quyết định đưa người chấp hành án
phạt tù có thời hạn từ 05 năm trở xuống không phải là người dưới 18 tuổi, người
nước ngoài, người mắc bệnh truyền nhiễm nguy hiểm hoặc nghiện ma túy chấp hành
án tại trại tạm giam, phân trại tạm giam thuộc trại tạm giam để phục vụ việc tạm
giữ, tạm giam và tổ chức lao động, học nghề, số lượng người chấp hành án phạt
tù phục vụ việc tạm giữ, tạm giam được tính theo tỷ lệ trên tổng số người bị tạm
giữ, tạm giam hoặc tổng số quy mô giam giữ nhưng không vượt quá 15%.
3. Bộ Quốc phòng phối hợp với Bộ Công an quản lý nhà nước
về thi hành án hình sự trong Quân đội nhân dân; xây dựng mẫu thiết kế cơ sở
giam giữ phạm nhân, ban hành tiêu chuẩn, quy chuẩn xây dựng các hạng mục công
trình trại giam và các hệ thống khác phục vụ quản lý cơ sở giam giữ của trại
giam thuộc Bộ Quốc phòng quản lý.
Bộ trưởng Bộ Quốc phòng căn cứ yêu cầu quản lý người bị tạm
giữ, tạm giam trong các cơ sở giam giữ phạm nhân của Bộ Quốc phòng để quyết định
đưa người chấp hành án phạt tù có thời hạn từ 05 năm trở xuống không phải là
người dưới 18 tuổi, người nước ngoài, người mắc bệnh truyền nhiễm nguy hiểm hoặc
nghiện ma túy chấp hành án tại trại tạm giam, phân trại tạm giam thuộc trại tạm
giam để phục vụ việc tạm giữ, tạm giam và tổ chức lao động, học nghề.
4. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành
phố, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, thực hiện và chịu trách nhiệm
về việc thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước liên quan đến thi hành án hình sự
theo quy định của Luật này và luật khác có liên quan.
Điều 176.
Nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án nhân dân tối cao trong thi hành án hình sự
1. Phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công
an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp, cơ quan khác có liên quan trong việc ban hành
thông tư liên tịch quy định về việc phối hợp giữa các cơ quan này trong việc thực
hiện trình tự, thủ tục thi hành án hình sự.
2. Hướng dẫn Tòa án các cấp trong việc ra quyết định thi
hành án hình sự, tổng hợp hình phạt, gửi bản án, quyết định của Tòa án; phối hợp
với cơ quan quy định tại Điều 8 của Luật này trong công tác thi hành án hình sự.
3. Phối hợp với Bộ Công an, Bộ Quốc phòng trong việc tổng
kết công tác thi hành án hình sự.
4. Phối hợp với Bộ Công an trong việc thực hiện chế độ thống
kê, báo cáo, số hóa về công tác thi hành án hình sự.
Điều 177.
Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong thi hành án hình sự
1. Phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ
Quốc phòng, Bộ Tư pháp, cơ quan khác có liên quan trong việc ban hành thông tư
liên tịch quy định về việc phối hợp giữa các cơ quan này trong việc thực hiện
trình tự, thủ tục thi hành án hình sự.
2. Kiểm sát và chỉ đạo Viện kiểm sát các cấp thực hiện việc
kiểm sát thi hành án hình sự theo quy định của Luật này và quy định khác của
pháp luật có liên quan.
3. Phối hợp với Bộ Công an, Bộ Quốc phòng trong việc tổng
kết công tác thi hành án hình sự.
4. Phối hợp với Bộ Công an trong việc thực hiện chế độ thống
kê, báo cáo, số hóa về công tác thi hành án hình sự.
Chương XV
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
Điều 178. Sửa
đổi, bổ sung khoản 6 Điều 4 của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp
Sửa đổi, bổ sung khoản 6 Điều 4 của Luật Thuế thu nhập
doanh nghiệp số 67/2025/QH15 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số
116/2025/QH15 như sau:
“6. Thu nhập từ hoạt động giáo dục nghề nghiệp, đào tạo
nghề nghiệp dành riêng cho người dân tộc thiểu số, người khuyết tật, trẻ em có
hoàn cảnh đặc biệt, đối tượng tệ nạn xã hội; hoạt động tổ chức lao động, hướng
nghiệp, dạy nghề cho phạm nhân.”.
Điều 179. Hiệu
lực thi hành
1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm
2026.
2. Luật Thi hành án hình sự số 41/2019/QH14 đã được sửa đổi,
bổ sung một số điều theo Luật số 59/2024/QH15 và Luật số 86/2025/QH15, Nghị quyết
số 54/2022/QH15 ngày 16 tháng 6 năm 2022 của Quốc hội thí điểm mô hình tổ chức
hoạt động lao động, hướng nghiệp, dạy nghề cho phạm nhân ngoài trại giam hết hiệu
lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành, trừ trường hợp quy định tại khoản
2 và khoản 3 Điều 180 của Luật này.
Điều 180. Điều
khoản chuyển tiếp
1. Đối với bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực
pháp luật mà đến ngày Luật này có hiệu lực thi hành chưa được thi hành hoặc
chưa thi hành xong thì áp dụng các quy định của Luật này để thi hành.
2. Đối với việc thi hành bản án, quyết định theo quy định
của Luật Thi hành án hình sự số 41/2019/QH14 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều
theo Luật số 59/2024/QH15 và Luật số 86/2025/QH15 mà đến ngày Luật này có hiệu
lực thi hành còn khiếu nại, tố cáo hoặc kháng nghị của Viện kiểm sát thì việc
giải quyết khiếu nại, tố cáo, kháng nghị được áp dụng theo quy định của Luật
Thi hành án hình sự số 41/2019/QH14 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo
Luật số 59/2024/QH15 và Luật số 86/2025/QH15.
3. Các khu lao động, hướng nghiệp, dạy nghề ngoài trại
giam đã được phê duyệt, thành lập theo quy định của Nghị quyết số 54/2022/QH15
được tiếp tục hoạt động đến hết thời hạn có hiệu lực của hợp đồng hợp tác đã được
ký kết giữa trại giam với tổ chức hợp tác. Kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi
hành, việc gia hạn hợp đồng hợp tác áp dụng theo quy định của Luật này.
_________________________________________________________________________________
Luật này được
Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, Kỳ họp thứ 10 thông
qua ngày 10 tháng 12 năm 2025.
|
|
CHỦ TỊCH QUỐC HỘI |
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét