|
QUỐC HỘI --------------------- Nghị quyết số:
81/2014/QH13 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do -
Hạnh phúc --------------------------------------- |
NGHỊ QUYẾT
VỀ VIỆC THI HÀNH LUẬT TỔ CHỨC TÒA ÁN NHÂN DÂN
----------------------
QUỐC HỘI
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam;
QUYẾT NGHỊ:
Điều 1
Kể từ ngày 01 tháng 02 năm 2015 đến ngày Luật
tổ chức Tòa án nhân dân có hiệu lực thi
hành:
1. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có trách
nhiệm rà soát, chuẩn bị về tổ chức bộ máy, nhân sự, cơ sở vật chất và các điều
kiện cần thiết khác để bảo đảm hoạt động của Tòa án nhân dân các cấp theo quy
định của Luật tổ chức Tòa án nhân dân;
2. Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hết nhiệm
kỳ kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2014 tiếp tục thực hiện nhiệm vụ cho đến ngày 01
tháng 6 năm 2015;
3. Thẩm phán trung cấp, Thẩm phán sơ cấp hết
nhiệm kỳ tiếp tục thực hiện nhiệm vụ cho đến khi được xem xét, bổ nhiệm theo
quy định của Luật tổ chức Tòa án nhân dân trước ngày 30 tháng 9 năm 2015;
4. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 4, Điều 24,
Điều 70, Điều 71, Điều 72, khoản 2
Điều 95 của Luật tổ chức Tòa án nhân dân, theo đề nghị của Chánh án Tòa án nhân
dân tối cao, Ủy ban thường vụ Quốc hội ra Nghị quyết:
a) Phê chuẩn tổ
chức bộ máy; nhiệm vụ, quyền hạn của các đơn vị trong bộ máy giúp việc của Tòa án nhân dân
tối cao;
b) Thành lập Tòa án nhân dân cấp cao, số
lượng Tòa án nhân dân cấp cao, quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của
mỗi Tòa án nhân dân cấp cao;
c) Quyết định biên chế, số lượng Thẩm
phán của Tòa án nhân dân cấp cao;
d)
Ban hành Quy chế hoạt động của Hội đồng tuyển chọn, giám sát Thẩm phán quốc gia;
đ)
Quyết định danh sách Ủy viên Hội đồng tuyển chọn, giám sát Thẩm phán quốc gia;
5.
Căn cứ quy
định tại Điều 34, điểm b khoản 1 Điều 38, Điều 41, khoản 1 Điều
45, Điều 46, khoản 4 Điều 51, khoản 3 Điều 55, khoản 3 Điều 58, Điều 73 của Luật tổ chức Tòa án
nhân dân, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao:
a) Ban hành Quy chế hoạt động của Hội đồng thi tuyển
chọn Thẩm
phán sơ cấp, Thẩm phán trung cấp, Thẩm phán cao cấp; Quy chế tổ chức thi tuyển
chọn Thẩm phán sơ cấp, Thẩm phán trung cấp, Thẩm phán cao cấp;
b) Quyết định thành lập các Tòa chuyên trách
trong Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Tòa án nhân dân
huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương;
c) Quyết định thành lập và quy định nhiệm vụ,
quyền hạn của bộ máy giúp việc trong các Tòa án nhân dân cấp cao, Tòa án nhân
dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã,
thành phố thuộc tỉnh và tương đương.
Quyết định thành lập và quy định nhiệm vụ,
quyền hạn của Bộ máy giúp việc trong các Tòa án quân sự sau khi thống nhất với
Bộ trưởng Bộ Quốc phòng;
6. Căn cứ quy
định tại Điều
67, khoản 4 Điều 68 (trừ điểm a và điểm c), khoản 1 Điều 69 (trừ điểm a) và các
quy định khác có liên quan của Luật tổ chức Tòa án nhân dân, Chánh án Tòa án
nhân dân tối cao có trách nhiệm:
a) Chuẩn bị nhân sự trình Quốc hội xem xét, phê chuẩn đề
nghị bổ nhiệm Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
b) Trình Chủ tịch nước xem xét, quyết định bổ nhiệm Thẩm
phán cao cấp đối với các Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã được bổ nhiệm trước
ngày 01 tháng 6 năm 2015 nhưng không được bổ nhiệm Thẩm phán Tòa án nhân dân tối
cao theo Luật tổ chức Tòa án nhân dân.
Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã được bổ nhiệm trước
ngày Luật tổ chức Tòa án nhân dân có hiệu lực đã có thời gian làm Thẩm phán Tòa
án nhân dân tối cao dưới 05 năm nay được bổ nhiệm Thẩm phán cao cấp thì được
coi là đã giữ ngạch Thẩm phán cao cấp đủ 05 năm.
Điều 2
Kể
từ ngày Luật tổ
chức Tòa án nhân dân có hiệu lực:
1. Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân
tối cao chuyển giao nhiệm vụ, quyền hạn cho Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân
tối cao được thành lập theo Luật tổ chức Tòa án nhân dân thực hiện.
Hội đồng Thẩm phán Tòa
án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm bằng Hội đồng toàn thể Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao; Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao, Ủy ban
thẩm phán Tòa án quân sự trung ương xét xử bằng Hội đồng toàn thể Ủy ban Thẩm
phán theo quy định của các luật tố tụng hiện hành.
Việc xét xử giám đốc
thẩm, tái thẩm của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao với Hội đồng xét
xử gồm 05 Thẩm phán, của Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao, Ủy ban Thẩm
phán Tòa án quân sự trung ương với Hội đồng xét xử gồm 03 Thẩm phán được thực
hiện khi có quy định của các luật tố tụng mới;
2. Các Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối
cao chuyển giao thẩm quyền xét xử phúc thẩm; các Tòa hình sự, dân sự, kinh tế,
lao động, hành chính Tòa án nhân dân tối cao, các Tòa án nhân dân tỉnh, thành
phố trực thuộc trung ương, Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố
trực thuộc trung ương chuyển giao thẩm quyền xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm cho
các Tòa án nhân dân cấp cao, Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao thực
hiện;
3. Các Tòa án quân sự
quân khu và tương đương, Ủy ban Thẩm phán Tòa án quân sự quân khu và tương
đương chuyển giao thẩm quyền xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm theo quy định của
Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành cho Tòa án quân sự trung ương, Ủy ban Thẩm phán
Tòa án quân sự trung ương.
Các Tòa án quân sự tiếp
tục thực hiện thẩm quyền xét xử các vụ án hình sự theo quy định của Bộ luật tố
tụng hình sự, quy định tại các điều 3, 4, 5, khoản 1 Điều 26 và khoản 2 Điều 29
của Pháp lệnh tổ chức Tòa án quân sự cho đến khi có quy định của Bộ luật tố
tụng hình sự mới thay thế các quy định hiện hành này phù hợp với quy định của
Luật tổ chức Tòa án nhân dân;
4. Chánh án Tòa án nhân
dân tối cao có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định
đã có hiệu lực pháp luật của các Tòa án gồm cả Tòa án nhân dân cấp cao.
Chánh án Tòa án nhân
dân cấp cao có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định
đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương, Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương
trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ.
Chánh án Tòa án quân sự
trung ương có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu
lực pháp luật của Tòa án quân sự khu vực;
5. Thẩm quyền xét xử
của Tòa gia đình và người chưa thành niên được thực hiện theo quy định của các
luật tố tụng mới;
6. Đối với những bản án, quyết định của
Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, Tòa án quân sự khu
vực đã bị kháng nghị thuộc thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm của Ủy ban Thẩm
phán Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Ủy ban Thẩm phán
Tòa án quân sự quân khu và tương đương nhưng trước ngày 01 tháng 6 năm 2015 mà
vụ án chưa được xét xử thì giao cho Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao có
thẩm quyền theo lãnh thổ, Ủy ban Thẩm phán Tòa án quân sự trung ương xét xử theo
thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm;
7. Đối với những bản án, quyết định của
Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đã bị kháng nghị thuộc
thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm của các Tòa hình sự, dân sự, hành chính,
kinh tế, lao động Tòa án nhân dân tối cao nhưng trước ngày 01 tháng 6 năm 2015
mà vụ án chưa được xét xử thì giao cho Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao
có thẩm quyền theo lãnh thổ xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm;
8. Đối với những bản án, quyết định của
Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao, những quyết định của các Tòa hình sự,
dân sự, hành chính, kinh tế, lao động Tòa án nhân dân tối cao, của Tòa án quân
sự trung ương đã bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm nhưng trước
ngày 01 tháng 6 năm 2015 mà vụ án chưa được xét xử thì Hội đồng Thẩm phán Tòa
án nhân dân tối cao tiếp tục xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm;
9. Đối với những bản án, quyết định sơ thẩm của
Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chưa có hiệu lực pháp
luật bị kháng cáo, kháng nghị trước ngày 01 tháng 6 năm 2015 mà Tòa án nhân dân
tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chưa chuyển hồ sơ hoặc đã chuyển hồ sơ
cho Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao nhưng chưa được giải quyết thì giao
cho Tòa án nhân dân cấp cao có thẩm quyền theo lãnh thổ giải quyết theo thủ tục
phúc thẩm;
10. Đối với các đơn khiếu nại, đề nghị xem xét
lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân huyện,
quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, Tòa án quân sự khu vực theo thủ tục giám
đốc thẩm hoặc tái thẩm thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương, Tòa án quân sự quân khu và tương đương nhưng
trước ngày 01 tháng 6 năm 2015 mà chưa được giải quyết thì giao cho Tòa án nhân
dân cấp cao có thẩm quyền theo lãnh thổ, Tòa án quân sự trung ương giải quyết;
11. Đối với các đơn khiếu nại, đề nghị xem xét
lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân tỉnh, thành
phố trực thuộc trung ương theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm thuộc thẩm
quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tối cao nhưng trước ngày 01 tháng 6 năm
2015 mà chưa được giải quyết thì giao cho Tòa án nhân dân cấp cao có thẩm quyền
theo lãnh thổ giải quyết;
12. Đối với các đơn khiếu nại, đề nghị xem xét
lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân
dân tối cao, các Tòa hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính Tòa án nhân
dân tối cao, Tòa án quân sự trung ương theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm
thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tối cao nhưng trước ngày 01
tháng 6 năm 2015 mà chưa được giải quyết thì Tòa án nhân dân tối cao tiếp tục
giải quyết;
13. Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao,
Thẩm phán cao cấp được hưởng chế độ lương và phụ cấp của Thẩm phán Tòa án nhân
dân tối cao theo quy định của pháp luật hiện hành cho đến khi có chế độ lương
và phụ cấp mới.
Điều 3
1. Tòa án nhân dân tối cao trong phạm vi chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, tự mình hoặc phối hợp với các cơ quan hữu
quan rà soát lại các văn bản pháp luật có liên quan đến Luật tổ chức Tòa án
nhân dân để hủy bỏ, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới theo thẩm quyền; đề nghị
Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ và các cơ quan hữu quan hủy bỏ,
sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới phù hợp với quy định của Luật tổ chức Tòa án
nhân dân.
2. Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước,
Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong phạm
vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm thi hành Nghị quyết
này.
-----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Nghị quyết này đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 24 tháng 11 năm 2014.
CHỦ
TỊCH QUỐC HỘI
Nguyễn Sinh Hùng
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét