|
QUỐC HỘI Nghị quyết số: 206/2025/QH15 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
NGHỊ QUYẾT
Về cơ chế đặc biệt xử lý khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật
QUỐC HỘI
Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xà hội chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15;
Căn cứ Luật Tổ chức Quốc hội số 57/2014/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 65/2020/QH14 và Luật số 62/2025/QH15;
Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật số
64/2025/QH15.
QUYẾT NGHỊ:
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
1. Nghị quyết này quy định về
tiêu chí xác định, nguyên tắc, phương án,
quy trình và trách nhiệm trong việc xử lý khó khăn, vướng mắc do quy định
của pháp luật.
2. Đối với những nội dung về quyền con người, quyền và
nghĩa vụ cơ bản của công dân mà theo Hiến pháp phải do luật định; việc hạn chế quyền con người, quyền công
dân; tội phạm và hình phạt; tố tụng tư pháp; nguyên tắc cơ bản về tổ chức bộ máy thì không áp dụng
phương án xử lý khó khăn, vướng mắc quy định tại
khoản 2 và khoản 3 Điều 4 của Nghị quyết này.
Điều 2. Tiêu chí xác định khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật
Khó khăn, vướng mắc do
quy định của pháp luật được xác
định theo một trong các tiêu chí sau đây
mà gây kìm hãm, ách tắc, cản trở phát triển kinh tế -
xã hội:
1. Quy định mâu thuẫn, chồng chéo trong cùng một văn bản quy phạm pháp luật hoặc giữa các văn bản
quy phạm pháp luật;
2. Quy định của văn bản
quy phạm pháp luật không rõ ràng, có nhiều cách hiểu khác nhau, không hợp lý,
không khả thi, gây khó khăn trong áp
dụng, thực hiện pháp luật;
3. Quy định của văn bản
quy phạm pháp luật tạo gánh nặng chi phí tuân thủ; chưa có quy định hoặc có quy định của văn bản quy phạm
pháp luật nhưng hạn chế việc đổi mới sáng tạo, phát triển động lực tăng trưởng mới, khơi thông nguồn
lực, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, hội nhập quốc tế.
Điều 3. Nguyên tắc xử lý khó
khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật
1. Thể chế hóa đầy đủ, đúng đắn, kịp thời chủ
trương, đường lối của Đảng; bảo đảm tính hợp hiến,
tính thống nhất của hệ thống pháp luật.
2. Bảo đảm công khai, minh bạch; kiểm soát quyền lực,
phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, lợi ích nhóm, cục bộ.
3. Xử lý nhanh chóng, kịp thời, có trọng tâm, trọng điểm các vấn đề
cấp bách của thực tiễn, đưa pháp luật trở thành lợi thế
cạnh tranh.
4. Không trái với các điều
ước quốc tế mà nước Cộng hòa xà hội chủ
nghĩa Việt Nam là thành viên.
5. Bảo đảm quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của
công dân, quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp, đặc biệt là các quyền tự do kinh doanh, quyền
sở hữu tài sản và quyền tự do hợp đồng; không tăng trách nhiệm bất hợp lý cho
người dân, doanh nghiệp.
Điều 4. Phương án xử lý khó khăn,
vướng mắc do quy định của pháp luật
1. Khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật được xử lý theo các phương án sau đây:
a) Giải thích luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội theo quy định
tại Điều 60 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật; hướng dẫn áp dụng văn bản quy phạm pháp luật theo quy định tại Điều
61 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật;
b) Ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo trình tự, thủ
tục rút gọn để quy định vấn đề
mới, sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế quy định hiện hành
theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật;
c) Ban hành nghị quyết của Chính phủ, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội theo quy định tại
khoản 2 và khoản 3 Điều này trong thời gian luật, nghị quyết của Quốc hội chưa được sửa đổi,
bổ sung, thay thế theo phương án quy định
tại điểm b khoản này.
2. Trong thời gian luật, nghị quyết của Quốc hội chưa được
sửa đổi, bổ sung, thay thế theo phương án quy định tại điểm b khoản 1 Điều này, Chính phủ được ban hành nghị quyết quy phạm pháp luật để điều
chỉnh một số quy định
của luật, nghị quyết do Chính phủ trình, báo cáo Ủy
ban Thường vụ Quốc hội, Quốc hội tại phiên họp, kỳ họp gần nhất và thực hiện
như sau:
a) Trường hợp ban hành nghị quyết của Chính phủ dẫn đến đồng
thời phải sửa đổi, bổ sung luật, nghị
quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị
quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
không do Chính phủ trình thì cơ quan chủ trì soạn thảo phải xin ý kiến của cơ
quan trình luật, pháp lệnh, nghị quyết đó
và Chính phủ báo cáo Ủy
ban Thường vụ Quốc hội trước khi ban hành;
b) Trường hợp ban hành nghị quyết của Chính phủ có nội dung điều
chỉnh vấn đề chưa được
luật, nghị quyết của Quốc hội quy định
hoặc tác động lớn đến kinh tế - xã
hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại thì phải xin ý kiến
cơ quan có thẩm quyền của Đảng
trước khi ban hành;
c) Trường hợp ban hành nghị quyết của Chính phủ dẫn đến đồng thời phải sửa đổi, bổ
sung nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ
tướng Chính phủ, thông tư của Bộ trưởng, Thủ
trưởng cơ quan ngang Bộ thì quy
định nội dung sửa đổi, bổ sung đó
ngay trong nghị quyết của Chính phủ;
d) Nghị quyết của
Chính phủ phải xác định rõ thời điểm hết hiệu
lực thi hành nhưng phải trước ngày 01 tháng 3 năm 2027; danh mục văn băn quy phạm pháp luật và điều, khoản, điểm được đề
xuất sửa đổi, bổ sung để
bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ.
Nghị quyết của Chính phủ
dược ban hành theo quy định tại khoản này được
đánh số, ký hiệu riêng để theo dõi, xử lý. Số, ký hiệu của nghị quyết bao gồm: số được ghi bằng chữ số
Ả Rập, thứ tự được đánh liên tiếp theo các năm, bắt đầu
từ 66.1; năm ban hành nghị quyết; ký
hiệu là NQ-CP. Sau từ “số” có dấu hai chấm (:), giữa số nghị quyết, năm ban
hành và ký hiệu có dấu gạch chéo (/). Ví
dụ: Nghị quyết số: 66.1/2025/NQ-CP.
3. Trong thời gian luật, nghị quyết của Quốc hội không do
Chính phủ trình chưa dđược sửa đổi,
bổ sung, thay thế theo phương án quy định tại điểm b khoản 1 Điều này và không thuộc trường hợp quy
định tại điểm a khoản 2 Điều này, Ủy ban Thường vụ Quốc hội được ban hành nghị
quyết quy phạm pháp luật để điều chỉnh
một số quy định của luật, nghị quyết và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.
Nghị quyết của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội phải xác định rõ thời điểm hết hiệu lực thi hành nhưng
phải trước ngày 01 tháng 3 năm 2027; danh mục luật, nghị
quyết của Quốc hội và điều, khoản, điểm được đề
xuất sửa đổi, bổ sung để bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ.
Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội được ban hành theo quy định tại khoản này được đánh số, ký hiệu riêng để theo dõi,
xử lý. Số, ký hiệu của nghị quyết
bao gồm: số được ghi bằng
chữ số Ả Rập, thứ tự được đánh liên tiếp theo các
năm, bắt đầu từ 66.1; năm ban hành nghị quyết; tên viết
tắt của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội và số khóa Quốc hội. Sau từ “số” có dấu hai chấm (:),
giữa số nghị quyết, năm ban hành
và ký hiệu có dấu gạch chéo (/). Ví dụ: Nghị quyết số: 66.1/2025/UBTVQH15.
Điều 5. Quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật để xử lý khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật
1. Cơ quan ban hành hoặc cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật có trách nhiệm
nghiên cứu chỉ đạo
của cơ quan có thẩm quyền, kiến nghị, phản ánh của cơ quan, tổ chức, cá nhân, rà soát,
xác định khó khăn, vướng mắc
do quy định của pháp luật và phương án xử
lý khó khăn, vướng mắc theo nguyên tắc quy định tại Nghị quyết này.
2. Trường hợp Chính phủ ban hành nghị quyết theo quy định
tại khoản 2 Điều 4 của Nghị quyết này
thì thực hiện theo quy định sau đây:
a) Cơ quan chủ
trì soạn thảo xây dựng hồ sơ dự thảo nghị quyết gửi Bộ Tư pháp để thành lập Hội đồng thẩm
định độc lập thẩm định trước khi trình Chính phủ, đồng thời đăng tải lên cổng thông tin điện tử của cơ quan chủ
trì soạn thảo và Cổng Pháp luật quốc
gia.
Hồ sơ gửi thẩm
định gồm: dự thảo tờ trình; dự thảo nghị quyết; bản
so sánh quy định của dự thảo nghị quyết với các quy định hiện hành và lý do đề xuất điều
chỉnh; báo cáo tiếp thu, giải
trình ý kiến của các Bộ, ngành có liên
quan và tài liệu khác (nếu có);
b) Hội đồng thẩm định
độc lập có trách nhiệm thẩm
định trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ dự thảo nghị quyết.
Nội dung thẩm định
bao gồm: tiêu chí, nguyên tắc, phương án,
quy trình xử lý khó khăn, vướng mắc theo quy định
tại Nghị quyết này và các nội dung thẩm định quy định tại các điểm
a, b, d, đ và e khoản 4 Điều 34 của Luật Ban hành văn bản
quy phạm pháp luật;
c) Báo cáo thẩm định
phải thể hiện rõ dự thảo nghị
quyết đủ hoặc chưa đủ điều kiện trình Chính phủ; ý kiến tham gia của
đại diện Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Tài
chính, Bộ Nội vụ, Bộ Ngoại giao, Bộ Khoa học và Công nghệ, Văn phòng Chính phủ, các cơ quan của Quốc hội có liên quan, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Trường hợp báo cáo thẩm định kết luận dự thảo nghị quyết chỉ đủ điều
kiện trình Chính phủ sau khi tiếp thu, hoàn thiện thì phải nêu rõ nội dung, yêu
cầu tiếp thu, hoàn thiện. Báo cáo thẩm định
được gửi đến cơ quan chủ trì soạn thảo.
Trường hợp dự thảo
nghị quyết chưa đủ điều kiện trình Chính phủ, cơ quan chủ
trì soạn thảo có trách nhiệm nghiên cứu, tiếp thu chỉnh lý dự thảo
nghị quyết và gửi hồ sơ đến Bộ Tư pháp để tổ chức thẩm định lại. Việc thẩm định lại được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều này;
d) Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được
báo cáo của Hội đồng thẩm định độc
lập, cơ quan chủ trì soạn thảo chỉnh lý, hoàn thiện hồ sơ dự thảo nghị quyết
trình Chính phủ xem xét, thông qua. Hồ sơ trình gồm: các tài liệu quy định tại điểm a khoản này, báo cáo thẩm định và báo cáo tiếp thu, giải trình ý kiến thẩm định;
d) Chính phủ xem xét, thông qua dự thảo nghị quyết trong
thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ quy định tại điểm d khoản
này.
3. Bộ trưởng Bộ Tư pháp thành lập Hội đồng thẩm định độc lập gồm: Chủ tịch Hội
đồng là Lãnh đạo Bộ Tư pháp, thành viên Hội đồng là đại diện Bộ Quốc phòng, Bộ Công
an, Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ, Bộ Ngoại giao, Bộ Khoa học và Công nghệ, Văn
phòng Chính phủ, các cơ quan có liên quan
của Quốc hội, Ủy ban Trung ương Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam. Căn cứ nội dung của dự thảo nghị quyết, Bộ trưởng Bộ Tư pháp quyết định mời đại
diện các Bộ, cơ quan ngang Bộ, chuyên gia, nhà khoa học và cơ quan, tổ chức
khác tham gia Hội đồng thẩm định
độc lập.
4. Thành viên
Hội đồng thẩm định độc lập có ý kiến về các nội dung thẩm định theo quy định
tại điểm b khoản 2 Điều này, trong đó phải có ý
kiến về các nội dung sau đây:
a) Thành viên Hội đồng
thẩm định độc lập là đại diện các Bộ, cơ quan ngang Bộ chịu trách nhiệm về ý
kiến thẩm định thuộc phạm vi quản lý nhà nước về ngành,
lĩnh vực của cơ quan mình. Đại diện Bộ Ngoại giao có ý kiến về tính tương thích
với điều ước quốc tế có liên
quan mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là
thành viên; đại diện Bộ Quốc phòng, Bộ Công an có ý kiến về bảo đảm
yêu cầu về quốc phòng, an ninh; đại diện Bộ Tài chính có ý kiến về nguồn tài
chính; đại diện Bộ Nội vụ có ý kiến về việc phân quyền, phân cấp và nguồn nhân
lực; đại diện Bộ Khoa học và Công nghệ có ý kiến về việc ứng dụng, thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đại diện Bộ Tư pháp có ý kiến về tính hợp hiến, tính hợp pháp và
tính thống nhất của hệ thống pháp luật;
b) Thành viên Hội đồng thẩm định độc lập là đại diện các
cơ quan của Quốc hội có ý kiến về nội dung dự thảo nghị quyết thuộc lĩnh vực
được giao phụ trách; đại diện Ủy ban Trung ương Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam có ý kiến về nội dung dự thảo nghị quyết liên quan đến nhiệm vụ giám sát, phản biện xã
hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
5. Bộ Tư pháp là cơ quan Thường trực của Hội đồng thẩm
định độc lập. Hội đồng thẩm định độc lập được sử dụng con dấu của Bộ Tư pháp.
6. Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế hoạt động của Hội
đồng thẩm định độc lập.
Điều 6. Tổ chức thực hiện
1. Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, chính quyền địa phương các cấp nâng cao hiệu quả công tác xây dựng và tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật; thường xuyên rà
soát các văn bản quy phạm pháp luật để xác
định, xử lý khó khăn, vướng mắc theo quy định
của Nghị quyết này theo đúng thẩm quyền, bảo đảm lộ
trình, thứ tự ưu tiên cụ thể để xử lý hiệu quả
các khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật.
2. Ủy ban Trung ương Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam, Tòa án nhân dân tối
cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm
toán nhà nước, các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên
quan, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có trách nhiệm nâng cao hiệu
quả công tác xây dựng và tổ
chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật; thường
xuyên rà soát các văn bản quy phạm pháp luật để xử
lý hoặc đề xuất xử lý khó khăn,
vướng mắc do quy định của pháp luật; phối hợp với Chính phủ trong việc tổ chức thực
hiện Nghị quyết này.
3. Các cơ quan ưu tiên nguồn lực thực hiện việc rà soát,
xác định khó khăn, vướng mắc, soạn thảo, thẩm định, thẩm
tra các dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật để xử lý khó khăn,
vướng mắc do quy định của pháp luật,
bảo đảm nhanh chóng, kịp thời, hiệu quả.
4. Cơ quan, người có thẩm quyền phải ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành văn bản
quy phạm pháp luật theo trình tự, thủ tục rút gọn quy định tại Luật Ban hành văn bản
quy phạm pháp luật để xử lý các văn bản được
điều chỉnh
bởi nghị quyết của Chính phủ, Ủy ban Thường vụ Quốc hội
quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 4 của Nghị quyết này trước ngày 01 tháng 3
năm 2027.
5. Quốc hội, Ủy
ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, Ủy
ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc
hội, đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Ban của Hội đồng nhân dân, đại biểu
Hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn
của mình, tăng cường giám sát việc thực hiện Nghị quyết này.
6. Bộ trưởng, Thủ
trưởng cơ quan ngang Bộ, Chủ tịch Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh và người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền trực tiếp phụ trách,
chỉ đạo và chịu trách nhiệm về
tiến độ rà soát, xác định, xử lý
khó khăn, vướng mắc và chất lượng văn bản
quy phạm pháp luật được ban hành hoặc tham mưu
ban hành để xử lý khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật thuộc
lĩnh vực quản lý của cơ quan mình theo quy định tại Nghị quyết này.
7. Người đứng đầu cơ quan, đơn vị, người tham gia xây dựng
Nghị quyết này và tham gia xác định, xử lý khó khăn, vướng mắc theo cơ chế đặc
biệt quy định tại Nghị quyết này được
xem xét loại trừ, miễn trách nhiệm trong
trường hợp đã tuân thủ đầy dủ các quy trình, quy định liên quan và
không vụ lợi trong quá trình thực hiện nhiệm vụ nhưng vẫn xảy ra thiệt hại.
8. Chính phủ, Ủy ban Thường vụ Quốc hội không được ủy quyền hoặc phân cấp việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định tại khoản 2 và
khoản 3 Điều 4 của Nghị quyết này để
xử lý khó khăn, vướng mắc do quy định của luật, nghị
quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị
quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Điều 7. Điều khoản thi hành
1. Nghị quyết này có hiệu lực
thi hành từ ngày được thông qua đến hết ngày 28 tháng 02 năm 2027.
2. Trường hợp luật, nghị quyết
của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội được sửa đổi,
bổ sung hoặc ban hành mới có hiệu lực thi hành thi các quy định tương ứng trong
nghị quyết của Chính phủ, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành theo quy định tại khoản 2 và
khoản 3 Điều 4 của Nghị quyết
này chấm dứt hiệu lực, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này.
3. Trường hợp đang thực hiện theo quy định của nghị quyết của Chính phủ, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành theo quy
định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 4 của Nghị quyết này trước ngày luật,
nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường
vụ Quốc hội quy định tại khoản 2 Điều này có
hiệu lực thi hành thì được tiếp tục thực hiện, trừ
trường hợp luật, pháp lệnh, nghị quyết đó có quy định khác.
_________________________________________________________________
Nghị quyết này được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV Kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 24 tháng 6 năm 2025.
|
|
CHỦ TỊCH QUỐC HỘI Trần Thanh Mẫn |
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét