|
BỘ TƯ PHÁP - TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO
|
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
|
Số: 11/2016/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC |
Hà Nội,
ngày 01 tháng 8 năm 2016 |
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH
Quy định một số vấn đề về thủ tục thi hành án
dân sự
và phối hợp liên ngành trong thi hành án dân
sự
Căn cứ Bộ luật tố tụng dân sự ngày 25 tháng 11 năm 2015;
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự ngày 14 tháng 11 năm 2008;
Căn cứ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự ngày
25 tháng 11 năm 2014;
Căn cứ Luật tổ chức Tòa án nhân dân ngày 24 tháng 11 năm 2014;
Căn cứ Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân ngày 24 tháng 11 năm 2014;
Căn cứ Nghị định số 22/2013/NĐ-CP ngày 13 tháng 3 năm 2013 của Chính phủ
quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp;
Căn cứ Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18 tháng 7 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết và
hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự;
Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng
Viện
kiểm sát nhân dân tối cao ban hành Thông tư liên tịch quy định một số vấn đề về
thủ tục thi hành án dân sự và phối hợp liên ngành trong thi hành án dân sự.
THỦ TỤC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
Điều 1. Ra quyết định thi hành án
1. Trường hợp vào cùng
một thời điểm cơ quan thi hành án dân sự nhận được nhiều yêu cầu thi hành án
liên quan đến một bản án, quyết định thì tùy thuộc vào nội dung của bản án,
quyết định của Tòa án; nội dung yêu cầu thi hành án; thời hạn ra quyết định thi
hành án, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự thực hiện việc ra một
hay nhiều quyết định thi hành án theo quy định tại Điều 7 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18 tháng 7 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết
và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự.
2. Trường hợp người được
thi hành án chỉ yêu cầu một hoặc một số người trong những người phải thi hành
án thực hiện toàn bộ nghĩa vụ liên
đới thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án đối với
người đó.
3. Trường hợp
đương sự là pháp nhân hoặc là người chưa thành niên, bị hạn chế năng lực hành
vi dân sự thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án
theo yêu cầu của người đại diện theo pháp luật của đương sự.
Trường hợp đương sự là người mất
năng lực hành vi dân sự hoặc là người chưa thành niên không còn cha, mẹ, không
xác định được cha, mẹ hoặc cha, mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế
năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, bị Tòa
án hạn chế quyền của cha, mẹ hoặc cha, mẹ không có điều kiện chăm sóc, giáo dục
người chưa thành niên đó thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết
định thi hành án theo yêu cầu của người giám hộ.
Trường hợp đương sự có ủy quyền cho
người khác yêu cầu thi hành án thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra
quyết định thi hành án theo yêu cầu của người được uỷ quyền.
4. Đối với bản án, quyết định của Tòa
án trong vụ án hành chính, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự chỉ thụ lý và
ra quyết định thi hành án đối với phần nghĩa vụ về tài sản như án phí, bồi
thường thiệt hại, trả lại tài sản, giao lại đất đai được tuyên cụ thể trong bản
án, quyết định của Tòa án. Những nội dung khác của bản án, quyết định được thực
hiện theo quy định của pháp luật tố tụng hành chính.
5. Đối với bản án, quyết định của
Tòa án có tuyên tổng hợp hình phạt tiền của nhiều bản án mà việc tổng hợp hình
phạt tiền không đúng quy định của Bộ luật hình sự thì Thủ trưởng cơ quan thi
hành án dân sự không ra quyết định thi hành án mà có văn bản kiến nghị người có
thẩm quyền xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm đối với bản án, quyết định đó.
6. Đối với bản án, quyết định có ấn
định một thời hạn cụ thể để thực hiện toàn bộ nghĩa vụ thì Thủ trưởng cơ quan
thi hành án dân sự chỉ ra quyết định thi hành án khi nghĩa vụ đã đến hạn, trừ trường hợp đương
sự có thỏa thuận khác. Đối với bản án, quyết định ấn định
nghĩa vụ được thực hiện theo nhiều thời hạn khác nhau thì Thủ trưởng cơ quan
thi hành án dân sự ra một quyết định thi hành án đối với những nghĩa vụ đã đến
hạn.
Đối với bản án, quyết định về cấp
dưỡng theo định kỳ hàng tháng thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra một
quyết định thi hành án đối với những nghĩa vụ đã đến hạn hoặc sẽ đến hạn trong
năm thi hành án. Quá trình thi hành án, người có nghĩa vụ chỉ phải
thực hiện các nghĩa vụ đến hạn trừ trường hợp người có nghĩa vụ tự nguyện thi
hành cả nghĩa vụ chưa đến hạn. Khi có bản án, quyết
định của Tòa án chấp nhận yêu cầu của đương sự về thay đổi mức cấp dưỡng, người
cấp dưỡng mà vụ việc đang được cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành thì
Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thu hồi quyết định thi hành
án đã ban hành và ra quyết định thi hành án theo bản án, quyết định mới. Việc
thay đổi mức cấp dưỡng được thực hiện bắt đầu từ thời điểm được xác định tại
bản án, quyết định mới của Tòa án, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác.
Trường hợp các đương sự thỏa thuận
về việc thi hành một lần đối với toàn bộ
nghĩa vụ theo định kỳ hoặc theo nhiều thời hạn khác nhau thì Thủ trưởng cơ quan
thi hành án dân sự ra một quyết định thi hành án cho toàn bộ nghĩa vụ.
7. Trường hợp cần thiết
rút hồ sơ thi hành án từ cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện lên để tổ chức
thi hành theo quy định tại điểm h khoản 2 Điều 35 Luật Thi hành án dân sự thì
Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh ra quyết định rút hồ sơ thi hành
án. Quá trình tổ chức thi hành án tiếp theo, căn cứ vào quyết định thi hành án
của cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện và quyết định rút hồ sơ thi hành án,
Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh và Chấp hành viên có trách nhiệm
ra các quyết định về thi hành án theo quy định của pháp luật mà không
phải ra quyết định thi hành án mới. Các
quyết định về thi hành án, kết quả của quá trình tổ chức thi hành trước đó do
cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện thực hiện nếu không vi phạm pháp luật vẫn
có giá trị pháp lý, được công nhận và được sử dụng làm căn cứ để tiếp tục tổ
chức thi hành vụ việc.
Điều 2.
Thông báo về thi hành án
1. Trường hợp do đường
sá xa xôi, giao thông không thuận tiện; người được thông báo có nhiều địa chỉ
liên lạc, nơi ở không cố định, thường vắng mặt ở nhà vào giờ hành chính; đương
sự đang bị giam, tạm giam; người được thi hành án chưa yêu cầu thi hành án quy
định tại khoản 1 Điều 49 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18 tháng 7 năm 2015
của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi
hành án dân sự; các trường hợp khác mà việc thông báo trực tiếp có khó khăn thì
việc thông báo được thực hiện qua dịch vụ bưu chính bằng thư bảo đảm. Ngày gửi
thư bảo đảm là ngày thông báo hợp lệ.
2. Trường hợp thông báo
bằng điện tín, fax, email hoặc hình thức khác theo yêu cầu của người được nhận
thông báo thì Chấp hành viên phải lưu vào hồ sơ thi hành án văn bản thể hiện
yêu cầu, văn bản cần thông báo và văn bản thể hiện kết quả thông báo như bức
điện tín, thư điện tử, báo cáo bản fax đã được gửi.
3. Thông báo đối với
người đang bị giam, tạm giam được thực hiện theo địa chỉ nơi người đó đang bị
giam, tạm giam. Giám thị trại giam, tạm giam có trách nhiệm giao văn bản thông báo
cho người được thông báo.
4. Trường hợp có uỷ
quyền thì việc thông báo các văn bản về thi hành án được thực hiện đối với
người được uỷ quyền.
5. Trường hợp giao thông
báo qua người khác nhận thay thì người thông báo phải lập biên bản ghi rõ họ
tên, chức vụ, địa chỉ của người nhận thay; ngày, giờ nhận thay; quan hệ giữa họ
với người được thông báo; cam kết giao tận tay hoặc thông báo ngay cho người
được thông báo. Biên bản có chữ ký của người nhận và người giao thông báo.
6. Việc niêm yết được
thực hiện tại trụ sở cơ quan thi hành án dân sự, trụ sở Uỷ ban nhân dân cấp xã
nơi người được thông báo cư trú hoặc cư trú cuối cùng và tại nơi cư trú hoặc
nơi cư trú cuối cùng của người được thông báo. Việc xác định nơi cư trú được
thực hiện theo pháp luật về cư trú.
Trường hợp niêm yết để
bán đấu giá tài sản thì nơi niêm yết thực hiện theo quy định của pháp luật về
bán đấu giá.
7. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được kết
quả thẩm định giá, Chấp hành viên thông báo cho chủ
sở hữu chung quyền ưu tiên mua phần tài sản của người phải thi hành án theo quy
định tại khoản 3 Điều 74 Luật Thi hành án dân sự.
8. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được
kết quả thẩm định giá, Chấp hành viên thông báo cho đương sự quyền yêu cầu định
giá lại theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 99 Luật Thi hành án dân sự.
Điều 3. Xác minh điều kiện thi hành án
1. Việc xác minh đối với
tài sản thuộc diện phải đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng tài sản thì tùy từng trường hợp cụ thể mà Chấp
hành viên căn cứ vào một trong các giấy tờ sau: hợp đồng mua bán, chuyển đổi,
chuyển nhượng hoặc tặng cho, giấy chứng nhận về quyền sở hữu, sử dụng tài sản
hoặc thông qua chủ sở hữu, chính quyền địa phương, cơ quan đăng ký giao dịch
bảo đảm, cơ quan chức năng hoặc người làm chứng như xác nhận của người bán, của
chính quyền địa phương, cơ quan chức năng về việc mua bán tài sản.
2. Đối với trường hợp
đình chỉ thi hành án do người được thi hành án chết mà không có người thừa kế
thì phải xác minh qua chính quyền địa phương, cơ quan quản lý hộ khẩu, nơi cư
trú hoặc nơi cư trú cuối cùng của người được thi hành án. Kết quả xác minh
thông báo công khai trên phương tiện thông tin đại chúng ở trung ương để người
có quyền, nghĩa vụ liên quan biết và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ. Hết
thời hạn 30 ngày, kể từ ngày thông báo công khai hợp lệ mà không có người khiếu
nại thì được coi là có căn cứ đình chỉ thi hành án.
Điều 4. Kê biên, xử lý tài sản để đảm bảo thi hành án
1. Trường hợp người được thi hành án đề nghị áp dụng một trong các
biện pháp cưỡng chế theo quy định tại Chương IV Luật Thi hành án dân sự thì
trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu, Chấp hành viên phải tiến
hành xác minh.
2. Trường hợp tài sản
cầm cố, thế chấp đủ điều kiện để kê biên, xử lý theo quy định tại Điều 90 Luật
Thi hành án dân sự mà người nhận cầm cố, thế chấp đang tiến hành xử lý để thu
hồi nợ vay theo quy định của pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm thì Chấp hành
viên không thực hiện việc kê biên, xử lý đối với tài sản đó nhưng phải có văn bản
yêu cầu người xử lý tài sản cầm cố, thế chấp thông báo ngay kết quả xử lý tài
sản cho cơ quan thi hành án dân sự, giữ lại số tiền còn lại (nếu có) để cơ quan
thi hành án dân sự giải quyết theo
quy định của pháp luật.
3. Trường hợp kê biên, xử lý tài sản để đảm bảo thi hành án theo quy định
tại Điều 90 Luật Thi hành án dân sự mà giá của tài sản sau khi giảm giá không
lớn hơn nghĩa vụ được bảo đảm và chi phí cưỡng chế thi hành án thì người có
thẩm quyền ra quyết định về thi hành án có trách nhiệm ra ngay quyết định thu
hồi quyết định cưỡng chế, kê biên, xử lý tài sản theo quy định tại điểm c khoản
1 Điều 37 Luật Thi hành án dân sự. Đồng thời, có văn bản yêu cầu người nhận cầm
cố, nhận thế chấp thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều này.
4. Đối với tiền, tài sản mà bản án, quyết định của Tòa án tuyên tạm giữ
để bảo đảm thi hành án nhưng hết thời hiệu yêu cầu thi hành án mà người được
thi hành án không yêu cầu thi hành án và người phải thi hành án đã thi hành
xong khoản thu cho ngân sách nhà nước thì tiền, tài sản đó được trả lại cho
người phải thi hành án. Thủ tục trả lại tiền, tài sản trong trường hợp này được
thực hiện theo quy định tại Điều 126, Điều 129 Luật Thi hành án dân sự và quy
định pháp luật khác có liên quan.
5. Trường hợp Chấp hành viên đã ra quyết định trả lại tài
sản, giấy tờ cho người có quyền sở hữu, sử dụng hoặc người bị tạm giữ tài sản,
giấy tờ theo quy định tại khoản 5 Điều 68 Luật Thi hành án dân sự mà người đó
không nhận thì Chấp hành viên thực hiện việc xử lý đối với tài sản đó theo quy định
tại khoản 4 Điều 18 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18 tháng 7 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết
và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự.
Điều 5. Bán đấu giá tài sản để bảo đảm thi hành án
1. Người mua được tài sản bán đấu giá thực hiện việc nộp tiền vào tài khoản tạm giữ của cơ quan thi hành án dân sự mở tại Kho bạc Nhà
nước. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày người mua được tài sản bán đấu giá nộp
đủ tiền mua tài sản mà cơ quan thi hành án dân sự chưa giao được tài sản cho
người mua thì cơ quan thi hành án dân sự có trách nhiệm làm thủ tục gửi số tiền
đó vào Ngân hàng theo quy định tại khoản 4 Điều 27 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18 tháng 7 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết
và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự.
2. Khi ký hợp đồng với tổ chức bán đấu
giá tài sản, cơ quan thi hành án dân sự phải ghi trong hợp đồng ủy quyền bán
đấu giá tài sản thông tin người mua được tài sản bán đấu giá phải chịu trách
nhiệm nộp thuế giá trị gia tăng trong trường hợp giá khởi điểm chưa bao gồm
thuế giá trị gia tăng mà tài sản bán đấu giá thuộc diện phải chịu thuế giá trị
gia tăng theo quy định. Thông tin này phải được đưa vào nội dung thông báo công khai về việc bán đấu giá tài sản.
3. Chấp hành viên tổ chức thỏa thuận về việc hủy kết quả bán đấu giá tài sản trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu của người mua được
tài sản bán đấu giá hoặc của người phải thi hành án. Thành phần tham gia thỏa thuận được thực hiện theo
quy định của pháp luật về bán đấu giá tài sản, trừ trường hợp pháp luật có quy
định khác.
4. Trong quá trình xử lý tài sản để thi hành án, người
được thi hành án chết mà không có người thừa kế thì xử lý như sau:
a) Trường hợp tài sản chưa được
tổ chức bán đấu giá hoặc đã đưa ra bán đấu giá nhưng không có người tham gia
đấu giá, trả giá hoặc đấu giá không thành thì Chấp hành viên căn cứ vào quyết
định đình chỉ thi hành án để giải tỏa kê biên và trả lại tài sản cho người phải
thi hành án.
b) Trường hợp tài sản đã được bán
đấu giá thành thì số tiền thu được từ việc bán đấu giá được trừ đi các khoản
chi phí cưỡng chế, thẩm định giá, bán đấu giá tài sản đó. Số tiền phải thi hành
cho người được thi hành án chết thuộc về ngân sách nhà nước. Số tiền còn lại
(nếu có) được giải quyết theo quy định của pháp luật.
Điều 6. Thanh toán tiền thi hành án
1. Trường hợp bản án,
quyết định tuyên lãi suất chậm thi hành án thì khi thu được tiền, cơ quan thi hành án dân sự tiến hành thanh toán số tiền được tuyên trong bản án, quyết định trước, sau đó mới thanh toán tiền
lãi suất chậm thi hành án tương ứng với thời gian chưa thi hành án, trừ trường
hợp đương sự có thỏa thuận khác.
2. Trường hợp thực hiện theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 47 Luật Thi hành án dân sự và khoản 1 Điều 49 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18 tháng 7 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết
và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự thì cơ quan thi
hành án dân sự xác định rõ những bản án, quyết định đang trực tiếp tổ chức thi hành có trước thời điểm có quyết định cưỡng chế thi hành án mà
có nhiều người được thi hành án để xác định người đã yêu cầu thi hành án, người
chưa yêu cầu thi hành án; số tiền được thanh toán của người đã yêu cầu thi hành
án và
của người chưa yêu cầu thi hành án theo các bản án, quyết
định đó.
Trong thời hạn 10 ngày,
kể từ ngày nhận được tiền, cơ quan thi hành án dân sự chi trả cho người đã yêu
cầu thi hành án số tiền theo tỷ lệ mà họ được nhận, đồng thời thông báo cho
những người được thi hành án chưa yêu cầu thi hành bản án, quyết định đó về
quyền yêu cầu thi hành án. Việc thông báo được thực hiện theo địa chỉ có tại
bản án, quyết định qua dịch vụ bưu chính bằng thư bảo đảm.
Trong thời hạn đã ấn định mà
tiếp tục nhận được yêu cầu thi hành án thì cơ quan thi hành
án dân sự ra
quyết định thi hành án theo quy định và chi trả cho họ số tiền đã gửi, tiền lãi theo tỷ lệ đã được xác định. Số tiền của những người không yêu cầu
thi hành án còn lại được thanh toán tiếp cho những người đã có yêu cầu thi hành
bản án, quyết định đó tính đến thời điểm hết thời hạn thông báo. Số tiền còn
lại được thanh toán cho những người được thi hành án theo các quyết định thi
hành án khác tính đến thời điểm thanh toán.
Điều 7. Việc mua tài sản thuộc sở hữu chung; giao, nhận tài sản để trừ
vào số tiền được thi hành án
1. Trường hợp chủ sở
hữu chung mua tài sản kê biên; người được thi hành án đồng ý nhận tài sản để
trừ vào số tiền được thi hành án thì thực hiện như sau:
a) Đối với tài sản là bất động sản và động sản phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử
dụng, Chấp hành viên ra quyết định bán tài
sản cho chủ sở hữu chung hoặc ra quyết định giao tài
sản cho người được thi hành án.
b) Đối với tài sản là động sản nhưng không phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử
dụng thì Chấp hành viên lập biên bản giao tài sản cho chủ sở hữu chung hoặc
người được thi hành án.
2.
Trường hợp người được thi hành án nhận tài sản của người phải thi hành án mà
giá trị tại thời điểm nhận lớn hơn tổng số tiền được thi hành án, chi phí cưỡng
chế thi hành án, số tiền phải trích lại theo quy định tại khoản 5 Điều 115, số
tiền phải thi hành án theo quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 47 Luật Thi hành
án dân sự (nếu có) thì người được thi hành án phải nộp số tiền trên và số tiền
chênh lệch so với số tiền được thi hành án.
3. Trường
hợp người được thi hành án nhận tài sản là tài sản duy nhất của người phải thi
hành án mà giá trị tại thời điểm nhận bằng hoặc nhỏ hơn tổng số tiền được thi
hành án, chi phí cưỡng chế thi hành án, số tiền phải trích lại theo quy định tại
khoản 5 Điều 115 và số tiền phải thi hành án theo quy định tại điểm a, b khoản
1 Điều 47 Luật Thi hành án dân sự (nếu có) thì người được thi hành án phải nộp
số tiền trên, trừ trường hợp giá trị tài sản đã giảm bằng hoặc thấp hơn chi phí
cưỡng chế thi hành án.
4.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày giao tài sản cho đồng sở hữu hoặc
người được thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự có trách nhiệm cung cấp đầy
đủ các văn bản, giấy tờ quy định tại khoản 3 Điều 106 Luật Thi hành án dân sự
cho người mua tài sản thi hành án, người nhận tài sản để trừ vào số tiền được
thi hành án.
Điều 8. Việc ủy quyền, chuyển
giao quyền và nghĩa vụ của người phải thi hành án
1. Trường hợp người phải thi hành án đã
chuyển giao toàn bộ quyền,
nghĩa vụ cho người khác theo quy định tại khoản 4 Điều 54 Luật Thi hành án dân sự và khoản 2 Điều 15 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18 tháng 7 năm 2015 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án
dân sự thì không bị xem xét tạm hoãn xuất cảnh.
2. Trường hợp người phải
thi hành án ủy quyền cho người khác thực hiện nghĩa
vụ thi hành án theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 51 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18 tháng 7 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của
Luật Thi hành án dân sự mà người được ủy quyền không thực hiện nghĩa vụ thi hành án theo cam kết thì bị áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án theo quy định
của Luật Thi hành án dân sự.
Điều 9. Việc yêu cầu Tòa án giải thích đối với bản án, quyết định
1. Trường hợp phát hiện bản
án, quyết định của Tòa án có những điểm chưa rõ gây khó khăn cho việc thi hành
án hoặc phát hiện lỗi chính tả, số liệu có nhầm lẫn hoặc
tính toán sai thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có văn
bản yêu cầu Tòa án đã ra bản án, quyết định giải thích những điểm chưa rõ, sửa
chữa lỗi chính tả hoặc số liệu nhầm lẫn. Tòa án có trách nhiệm
trả lời về những vấn đề được nêu trong văn bản yêu cầu của cơ quan thi hành án
dân sự.
Việc giải thích bằng văn
bản những điểm chưa rõ, sửa chữa lỗi chính tả hoặc sai sót về số liệu được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng và Điều 179 Luật Thi
hành án dân sự.
2. Văn bản trả lời của Tòa án là căn cứ để cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án, quyết định thu hồi hoặc
sửa đổi, bổ sung quyết định về thi hành án đã ban hành hoặc để tiếp tục tổ chức
việc thi hành án. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản
trả lời của Tòa án, cơ quan thi hành án dân sự tiếp tục tổ chức việc thi hành
án hoặc ban hành quyết định thu hồi, sửa đổi, bổ sung quyết định thi hành án đã
ban hành, ban hành quyết định về thi hành án mới, trong đó có nội dung tiếp tục
duy trì kết quả thi hành án nếu quá trình tổ chức thi hành án trước đó không có
sai sót về trình tự, thủ tục thi hành án.
Điều 10. Việc kiến
nghị xem xét lại bản án, quyết định của Tòa án theo thủ tục giám đốc thẩm, tái
thẩm
1. Trường hợp phát hiện có căn cứ để
xem xét lại bản án, quyết định của Tòa án theo thủ tục giám đốc
thẩm, tái thẩm thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự nơi đang tổ chức thi
hành vụ việc có trách nhiệm kiến nghị với người có thẩm quyền xem xét lại bản
án, quyết định đó. Người có thẩm quyền phải trả lời kiến nghị trong thời hạn 03 tháng,
trường hợp vụ việc phức tạp thì không quá 04 tháng kể từ ngày nhận được kiến
nghị.
2. Trường hợp chưa hết thời
hạn quy định mà nhận được văn bản trả lời của người có thẩm quyền về việc không
có cơ sở chấp nhận kiến nghị, không kháng nghị theo thủ tục giám
đốc thẩm, tái thẩm thì cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành bản án,
quyết định đã có hiệu lực pháp luật đó.
Trường hợp đã hết thời hạn quy định mà vẫn
không nhận được văn bản trả lời của người có thẩm quyền thì cơ quan thi hành án
dân sự tiếp tục tổ chức thi
hành bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật đó. Đồng thời, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự
có văn bản thông báo cho Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền về
việc không nhận được văn bản trả lời của người có thẩm quyền.
3. Trường hợp có thiệt hại do việc thi hành bản án, quyết
định của Tòa án thì việc giải quyết yêu
cầu bồi thường được thực hiện theo quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi
thường của Nhà nước.
Điều 11. Việc thi
hành án đối với nghĩa vụ liên đới
1. Trường hợp bản án, quyết định của Tòa án tuyên nghĩa
vụ liên đới nhưng không xác định hoặc xác định rõ phần nghĩa vụ của từng người,
thì trong quá trình tổ chức thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự có quyền yêu
cầu một hoặc một số người bất kỳ có điều kiện thi hành án trong số những người
phải thi hành án thực hiện toàn bộ nghĩa vụ liên đới.
2. Người đã thực hiện thay phần nghĩa vụ thi hành án có
quyền yêu cầu người có nghĩa vụ liên đới khác thanh toán lại phần nghĩa vụ mà
người đó đã thực hiện thay cho họ theo quy định của pháp luật dân sự.
3. Trường hợp người được thi hành án có ý kiến bằng văn bản đồng ý cho
một hoặc một số người trong số những người phải thi hành nghĩa vụ liên đới
không thi hành phần nghĩa vụ của họ thì phần nghĩa vụ không yêu cầu thi hành án
được đình chỉ theo quy định.
Điều 12. Việc thi
hành quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm
1.
Trong trường hợp bản án, quyết định của Tòa án đã được thi hành một phần hoặc
đã thi hành xong mà nhận được kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm
thì cơ quan thi hành án dân sự có trách nhiệm thông báo ngay cho người có thẩm
quyền đã kháng nghị biết kết quả đã thi hành. Người có thẩm quyền đã kháng nghị
có trách nhiệm gửi thông báo về kết quả thi hành án nói trên cho Tòa án có thẩm
quyền xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm biết và giải quyết theo quy định của pháp
luật. Khi xét xử lại, Tòa án phải phán quyết rõ về quyền và nghĩa vụ của các
bên đương sự trên cơ sở tính toán, đối trừ phù hợp với kết quả thi hành án.
2. Trường hợp quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm tuyên
hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để xét xử sơ thẩm lại hoặc xét
xử phúc thẩm lại mà cơ quan thi hành án dân sự chưa chi trả số tiền thi hành án
đã thu được (kể cả trường hợp thu qua việc bán tài sản của người phải thi hành
án) thì cơ quan thi hành án dân sự làm thủ tục đứng tên gửi số tiền thi hành án
đã thu được vào Ngân hàng theo kỳ hạn 01 tháng. Phần lãi suất tiền gửi tiết
kiệm sẽ được cộng vào số tiền gửi ban đầu để thực hiện theo bản án, quyết định
mới có hiệu lực pháp luật.
QUAN HỆ PHỐI HỢP TRONG
CÔNG TÁC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
Điều 13. Gửi quyết định về thi hành án
Các quyết định, kết luận
về giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án dân sự của Chi cục trưởng Chi
cục Thi hành án dân sự, Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự và Tổng cục trưởng Tổng
cục Thi hành án dân sự được gửi cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp trong thời
hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày ban hành để thực hiện kiểm sát việc tuân theo
pháp luật trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án dân sự.
Điều 14. Công tác phối hợp trong
thi hành án
1. Định kỳ hàng năm, Lãnh đạo Bộ Tư pháp, Tòa
án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao tổ chức họp liên ngành
vào cuối tháng 9 hoặc đầu tháng 10 để rút kinh nghiệm, bàn biện pháp khắc phục
thiếu sót, thống nhất chỉ đạo công tác thi hành án.
2. Mỗi năm ít nhất một
lần, Vụ kiểm sát thi hành án dân sự thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng
cục Thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp và Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học
thuộc Tòa án nhân dân tối cao phối hợp kiểm tra công tác thi hành án dân sự và
công tác phối hợp trong thi hành án dân sự ở địa phương; kịp thời kiểm tra và
thống nhất biện pháp giải quyết đối với những vụ việc thi hành án có vướng mắc
hoặc có quan điểm khác nhau. Thời gian, kế hoạch tổ chức do Tổng cục Thi hành
án dân sự chủ động.
3. Lãnh đạo cơ quan thi
hành án dân sự, Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân tại các địa phương phải thường xuyên phối hợp
để thực hiện tốt công tác thi hành án; phối hợp trong việc giải thích, sửa chữa, bổ
sung bản án, quyết định; trả lời kiến nghị; thụ lý và giải quyết yêu cầu của cơ
quan thi hành án dân sự; công tác cưỡng chế thi
hành án dân sự; giải quyết việc thi hành
các bản án, quyết định tuyên không
rõ, khó thi hành; việc thi hành các vụ án lớn, phức tạp, khó thi hành và các khó khăn, vướng mắc khác trong việc tổ chức thi hành các bản án,
quyết định của Tòa án.
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
Thông tư
liên tịch này có hiệu lực kể từ ngày 30 tháng 9 năm 2016 và thay thế Thông tư
liên tịch số 14/2010/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC ngày 26 tháng 7 năm 2010 của Bộ Tư
pháp, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn một số
vấn đề về thủ tục thi hành án dân sự và phối hợp liên ngành trong thi hành án
dân sự.
Điều 16. Tổ chức thực hiện và điều khoản chuyển tiếp
1. Đối với các việc thi hành án đã thi hành
một phần hoặc chưa thi hành xong trước khi Thông tư liên tịch này có hiệu lực
thi hành nhưng đã thực hiện các thủ tục về thi hành án theo đúng quy định của
Luật Thi hành án dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành thì kết quả thi hành
án được công nhận; các thủ tục thi hành án tiếp theo được tiếp tục thực hiện
theo quy định của Thông tư liên tịch này.
2. Quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc hoặc
cần bổ sung, sửa đổi thì các cơ quan thi hành án dân sự, Tòa án nhân dân và
Viện kiểm sát nhân dân các cấp kịp thời báo cáo về Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân
tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao để có biện pháp giải quyết./.
|
KT. CHÁNH ÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO PHÓ CHÁNH ÁN Đã ký Tống Anh Hào |
KT. VIỆN TRƯỞNG VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO PHÓ VIỆN TRƯỞNG Đã ký Nguyễn Thị Thủy Khiêm |
KT. BỘ TRƯỞNG BỘ TƯ PHÁP THỨ TRƯỞNG Đã ký Trần Tiến Dũng |
|
||
|
- Thủ tướng Chính phủ và các Phó Thủ tướng (để báo
cáo) - Bộ trưởng BTP, Chánh án TANDTC, Viện trưởng
VKSNDTC (để báo cáo); - Viện kiểm sát nhân dân tối cao; - Tòa án nhân dân tối cao; - Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; - Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương; - Sở Tư pháp, Cục Thi hành án dân sự, Tòa án nhân
dân, Viện kiểm sát nhân dân các tỉnh,
thành phố Trực thuộc Trung ương; - Cục Thi hành án Bộ Quốc Phòng; - Công báo; Cổng thông tin điện tử của Chính phủ; - Cổng thông tin điện tử BTP, TANDTC, VKSNDTC; - Lưu: VT Bộ Tư pháp, VKSND tối cao,
TAND tối cao. |
|
||||
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét