VĂN
PHÒNG QUỐC HỘI
--------
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ
NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
Số: 32/VBHN-VPQH
Hà
Nội, ngày 07 tháng 12 năm 2020
LUẬT
THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
Luật Thi hành án dân sự số 26/2008/QH12 ngày 14 tháng 11 năm 2008 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2009, được sửa đổi, bổ sung bởi:
1. Luật số 64/2014/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2014 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015;
2. Luật Cạnh tranh số 23/2018/QH14 ngày 12 tháng 6 năm 2018 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2019;
3. Luật số 67/2020/QH14 ngày 13 tháng 11 năm 2020 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.
Căn cứ Hiến pháp nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều
theo Nghị quyết số 51/2001/QH10;
Quốc hội ban hành Luật
Thi hành án dân sự[1].
Chương I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh[2]
Luật này quy định nguyên
tắc, trình tự, thủ tục thi hành bản án, quyết định dân sự, hình phạt tiền, tịch
thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, tài sản,
án phí và quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự, phần tài sản
trong bản án, quyết định hành chính của Tòa án, quyết định của Tòa án giải quyết
phá sản, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh
Quốc gia, Hội đồng xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh, quyết định giải quyết khiếu
nại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc
gia, Hội đồng giải quyết khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh[3] có
liên quan đến tài sản của bên phải thi hành và phán quyết, quyết định của Trọng
tài thương mại (sau đây gọi chung là bản án, quyết định); hệ thống tổ chức thi
hành án dân sự và Chấp hành viên; quyền, nghĩa vụ của người được thi hành án,
người phải thi hành án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; nhiệm vụ, quyền
hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động thi hành án dân sự.
Điều 2. Bản án, quyết định
được thi hành
Những bản án, quyết định
được thi hành theo Luật này bao gồm:
1. Bản án, quyết định quy
định tại Điều 1 của Luật này đã có hiệu lực pháp luật:
a) Bản án, quyết định hoặc
phần bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị
theo thủ tục phúc thẩm;
b) Bản án, quyết định của
Tòa án cấp phúc thẩm;
c) Quyết định giám đốc thẩm
hoặc tái thẩm của Tòa án;
d) Bản án, quyết định dân
sự của Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài đã được Tòa án Việt
Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam;
đ)[4] Quyết định xử lý vụ
việc cạnh tranh của Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia, Hội đồng xử lý vụ việc
hạn chế cạnh tranh, quyết định giải quyết khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh
tranh của Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia, Hội đồng giải quyết khiếu nại
quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh mà sau 15 ngày kể từ ngày có hiệu lực pháp
luật đương sự không tự nguyện thi hành, không khởi kiện tại Tòa án;
e)[5] Phán quyết, quyết định
của Trọng tài thương mại;
g)[6] Quyết định của Tòa
án giải quyết phá sản.
2. Những bản án, quyết định
sau đây của Tòa án cấp sơ thẩm được thi hành ngay, mặc dù có thể bị kháng cáo,
kháng nghị:
a) Bản án, quyết định về
cấp dưỡng, trả lương, trả công lao động, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc
làm, trợ cấp mất sức lao động hoặc bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe,
tổn thất về tinh thần, nhận người lao động trở lại làm việc;
b) Quyết định áp dụng biện
pháp khẩn cấp tạm thời.
Điều 3. Giải thích từ ngữ
Trong Luật này, các từ ngữ
dưới đây được hiểu như sau:
1. Đương sự bao gồm người
được thi hành án, người phải thi hành án.
2. Người được thi hành án
là cá nhân, cơ quan, tổ chức được hưởng quyền, lợi ích trong bản án, quyết định
được thi hành.
3. Người phải thi hành án
là cá nhân, cơ quan, tổ chức phải thực hiện nghĩa vụ trong bản án, quyết định
được thi hành.
4. Người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan trực tiếp đến việc thực hiện quyền, nghĩa vụ thi hành án của đương sự.
5. Thời hiệu yêu cầu thi
hành án là thời hạn mà người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền
yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành án; hết thời hạn đó thì mất
quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành án theo quy định của
Luật này.
6. Có điều kiện thi hành
án là trường hợp người phải thi hành án có tài sản, thu nhập để thi hành nghĩa
vụ về tài sản; tự mình hoặc thông qua người khác thực hiện nghĩa vụ thi hành
án.
7. Phí thi hành án là khoản
tiền mà người được thi hành án phải nộp khi nhận được tiền, tài sản theo bản
án, quyết định.
8. Chi phí cưỡng chế thi
hành án là các khoản chi phí do người phải thi hành án chịu để tổ chức cưỡng chế
thi hành án, trừ trường hợp pháp luật quy định chi phí cưỡng chế thi hành án do
người được thi hành án hoặc do ngân sách nhà nước chi trả.
9.[7] Mỗi quyết định thi
hành án là một việc thi hành án.
Điều 4. Bảo đảm hiệu lực
của bản án, quyết định
Bản án, quyết định quy định
tại Điều 2 của Luật này phải được cơ quan, tổ chức và mọi công dân tôn trọng.
Cá nhân, cơ quan, tổ chức
có liên quan trong phạm vi trách nhiệm của mình chấp hành nghiêm chỉnh bản án,
quyết định và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thi hành án.
Điều 5. Bảo đảm quyền, lợi
ích hợp pháp của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Trong quá trình thi hành
án, quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.
Điều 6. Thỏa thuận thi
hành án
1. Đương sự có quyền thỏa
thuận về việc thi hành án, nếu thỏa thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật
và không trái đạo đức xã hội. Kết quả thi hành án theo thỏa thuận được công nhận.
Theo yêu cầu của đương sự,
Chấp hành viên có trách nhiệm chứng kiến việc thỏa thuận về thi hành án.
2. Trường hợp đương sự
không thực hiện đúng thỏa thuận thì có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự
thi hành phần nghĩa vụ chưa được thi hành theo nội dung bản án, quyết định.
Điều 7. Quyền, nghĩa vụ của
người được thi hành án[8]
1. Người được thi hành án
có các quyền sau đây:
a) Yêu cầu thi hành án,
đình chỉ thi hành một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định, áp dụng biện pháp bảo
đảm, áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án được quy định trong Luật này;
b) Được thông báo về thi hành
án;
c) Thỏa thuận với người
phải thi hành án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về thời gian, địa điểm,
phương thức, nội dung thi hành án;
d) Yêu cầu Tòa án xác định,
phân chia quyền sở hữu, sử dụng tài sản; yêu cầu Tòa án giải thích những điểm
chưa rõ, đính chính lỗi chính tả hoặc số liệu sai sót; khởi kiện dân sự để bảo
vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trong trường hợp có tranh chấp về tài sản
liên quan đến thi hành án;
đ) Tự mình hoặc ủy quyền
cho người khác xác minh, cung cấp thông tin về điều kiện thi hành án của người
phải thi hành án;
e) Không phải chịu chi
phí xác minh điều kiện thi hành án do Chấp hành viên thực hiện;
g) Yêu cầu thay đổi Chấp
hành viên trong trường hợp có căn cứ cho rằng Chấp hành viên không vô tư khi
làm nhiệm vụ;
h) Ủy quyền cho người
khác thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình;
i) Chuyển giao quyền được
thi hành án cho người khác;
k) Được miễn, giảm phí
thi hành án trong trường hợp cung cấp thông tin chính xác về điều kiện thi hành
án của người phải thi hành án và trường hợp khác theo quy định của Chính phủ;
l) Khiếu nại, tố cáo về
thi hành án.
2. Người được thi hành án
có các nghĩa vụ sau đây:
a) Chấp hành nghiêm chỉnh
bản án, quyết định;
b) Thực hiện các quyết định,
yêu cầu của Chấp hành viên trong thi hành án; thông báo cho cơ quan thi hành án
dân sự khi có thay đổi về địa chỉ, nơi cư trú;
c) Chịu phí, chi phí thi
hành án theo quy định của Luật này.
Điều 7a. Quyền, nghĩa vụ
của người phải thi hành án[9]
1. Người phải thi hành án
có các quyền sau đây:
a) Tự nguyện thi hành án;
thỏa thuận với người được thi hành án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về
thời gian, địa điểm, phương thức, nội dung thi hành án; tự nguyện giao tài sản
để thi hành án;
b) Tự mình hoặc ủy quyền
cho người khác yêu cầu thi hành án theo quy định của Luật này;
c) Được thông báo về thi
hành án;
d) Yêu cầu Tòa án xác định,
phân chia quyền sở hữu, sử dụng tài sản; yêu cầu Tòa án giải thích những điểm
chưa rõ, đính chính lỗi chính tả hoặc số liệu sai sót; khởi kiện dân sự để bảo
vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trong trường hợp có tranh chấp về tài sản
liên quan đến thi hành án;
đ) Chuyển giao nghĩa vụ
thi hành án cho người khác theo quy định của Luật này;
e) Yêu cầu thay đổi Chấp
hành viên trong trường hợp có căn cứ cho rằng Chấp hành viên không vô tư khi
làm nhiệm vụ;
g) Được xét miễn, giảm
nghĩa vụ thi hành án; được xét miễn, giảm một phần hoặc toàn bộ chi phí cưỡng
chế thi hành án theo quy định của Luật này;
h) Khiếu nại, tố cáo về
thi hành án.
2. Người phải thi hành án
có các nghĩa vụ sau đây:
a) Thi hành đầy đủ, kịp
thời bản án, quyết định;
b) Kê khai trung thực tài
sản, điều kiện thi hành án; cung cấp đầy đủ tài liệu, giấy tờ có liên quan đến
tài sản của mình khi có yêu cầu của người có thẩm quyền và chịu trách nhiệm trước
pháp luật về nội dung kê khai đó;
c) Thực hiện các quyết định,
yêu cầu của Chấp hành viên trong thi hành án; thông báo cho cơ quan thi hành án
dân sự khi có thay đổi về địa chỉ, nơi cư trú;
d) Chịu chi phí thi hành
án theo quy định của Luật này.
Điều 7b. Quyền, nghĩa vụ
của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan[10]
1. Người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan có các quyền sau đây:
a) Được thông báo, tham
gia vào việc thực hiện biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án mà
mình có liên quan;
b) Yêu cầu Tòa án xác định,
phân chia quyền sở hữu, sử dụng tài sản; yêu cầu Tòa án giải thích những điểm
chưa rõ, đính chính lỗi chính tả hoặc số liệu sai sót; khởi kiện dân sự để bảo
vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trong trường hợp có tranh chấp về tài sản
liên quan đến thi hành án;
c) Khiếu nại, tố cáo về
thi hành án.
2. Người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan có nghĩa vụ thực hiện nghiêm chỉnh các quyết định, yêu cầu của
Chấp hành viên trong thi hành án; thông báo cho cơ quan thi hành án dân sự khi
có thay đổi về địa chỉ, nơi cư trú.
Điều 8. Tiếng nói và chữ
viết dùng trong thi hành án dân sự
1. Tiếng nói và chữ viết
dùng trong thi hành án dân sự là tiếng Việt.
Đương sự có quyền dùng tiếng
nói và chữ viết của dân tộc mình nhưng phải có người phiên dịch. Đương sự là
người dân tộc thiểu số mà không biết tiếng Việt thì cơ quan thi hành án dân sự
phải bố trí phiên dịch.
2. Người phiên dịch phải
dịch đúng nghĩa, trung thực, khách quan, nếu cố ý dịch sai thì phải chịu trách
nhiệm theo quy định của pháp luật.
Điều 9. Tự nguyện và cưỡng
chế thi hành án
1. Nhà nước khuyến khích
đương sự tự nguyện thi hành án.
2. Người phải thi hành án
có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành thì bị cưỡng chế thi hành
án theo quy định của Luật này.
Điều 10. Trách nhiệm bồi
thường thiệt hại
Cơ quan, tổ chức và cá
nhân vi phạm quy định của Luật này mà gây thiệt hại thì phải bồi thường theo
quy định của pháp luật.
Điều 11. Trách nhiệm phối
hợp của cơ quan, tổ chức, cá nhân với cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành
viên
1. Trong phạm vi nhiệm vụ,
quyền hạn, nghĩa vụ của mình cơ quan, tổ chức và cá nhân có trách nhiệm phối hợp
với cơ quan thi hành án dân sự trong việc thi hành án.
2. Cơ quan, tổ chức, cá
nhân có liên quan có trách nhiệm thực hiện yêu cầu của cơ quan thi hành án dân
sự, Chấp hành viên theo quy định của Luật này.
Mọi hành vi cản trở, can
thiệp trái pháp luật đối với hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự, Chấp
hành viên đều bị xử lý theo quy định của pháp luật.
Điều 12. Giám sát và kiểm
sát việc thi hành án
1. Quốc hội, Hội đồng
nhân dân và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giám sát hoạt động của cơ quan thi hành
án dân sự và các cơ quan nhà nước khác trong thi hành án dân sự theo quy định của
pháp luật.
2.[11] Viện kiểm sát nhân
dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án, cơ quan thi hành án dân sự,
Chấp hành viên, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc thi hành án
dân sự.
Khi kiểm sát thi hành án
dân sự, Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Kiểm sát việc cấp,
chuyển giao, giải thích, sửa chữa, bổ sung bản án, quyết định của Tòa án;
b) Yêu cầu Chấp hành
viên, cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp, cấp dưới ra quyết định về thi hành
án, gửi các quyết định về thi hành án; thi hành đúng bản án, quyết định; tự kiểm
tra việc thi hành án và thông báo kết quả kiểm tra cho Viện kiểm sát nhân dân;
yêu cầu cơ quan, tổ chức và cá nhân cung cấp hồ sơ, tài liệu, vật chứng có liên
quan đến việc thi hành án theo quy định của Luật này;
c) Trực tiếp kiểm sát hoạt
động thi hành án dân sự của cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp và cấp dưới, Chấp
hành viên, các cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan; ban hành kết luận kiểm
sát khi kết thúc việc kiểm sát;
d) Tham gia phiên họp của
Tòa án xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà
nước và phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân;
đ) Kiến nghị xem xét hành
vi, quyết định liên quan đến thi hành án có vi phạm pháp luật ít nghiêm trọng của
Tòa án, cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp hoặc cấp dưới, yêu cầu khắc phục vi
phạm pháp luật và xử lý người vi phạm; kiến nghị cơ quan, tổ chức liên quan có
sơ hở, thiếu sót trong hoạt động quản lý khắc phục nguyên nhân, điều kiện dẫn tới
vi phạm pháp luật và áp dụng các biện pháp phòng ngừa;
e) Kháng nghị hành vi,
quyết định của Thủ trưởng, Chấp hành viên cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp,
cấp dưới có vi phạm pháp luật nghiêm trọng xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền,
lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân; yêu cầu đình chỉ việc thi hành,
thu hồi, sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ quyết định có vi phạm pháp luật trong việc
thi hành án, chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật.
Chương II
HỆ THỐNG TỔ CHỨC THI HÀNH
ÁN DÂN SỰ VÀ CHẤP HÀNH VIÊN
Điều 13. Hệ thống tổ chức
thi hành án dân sự
Hệ thống tổ chức thi hành
án dân sự bao gồm:
1. Cơ quan quản lý thi
hành án dân sự:
a) Cơ quan quản lý thi
hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp;
b) Cơ quan quản lý thi
hành án thuộc Bộ Quốc phòng.
2. Cơ quan thi hành án
dân sự:
a) Cơ quan thi hành án
dân sự tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là cơ quan thi
hành án dân sự cấp tỉnh);
b) Cơ quan thi hành án
dân sự huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cơ quan
thi hành án dân sự cấp huyện);
c) Cơ quan thi hành án
quân khu và tương đương (sau đây gọi chung là cơ quan thi hành án cấp quân
khu).
Chính phủ quy định nhiệm
vụ, quyền hạn của cơ quan quản lý thi hành án dân sự; tên gọi, cơ cấu, tổ chức
cụ thể của cơ quan thi hành án dân sự.
Điều 14. Nhiệm vụ, quyền
hạn của cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh
1. Quản lý, chỉ đạo về
thi hành án dân sự trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, bao gồm:
a) Bảo đảm việc áp dụng
thống nhất các quy định của pháp luật trong hoạt động thi hành án dân sự;
b) Chỉ đạo hoạt động thi
hành án dân sự đối với cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện; hướng dẫn nghiệp vụ
thi hành án dân sự cho Chấp hành viên, công chức khác của cơ quan thi hành án
dân sự trên địa bàn;
c) Kiểm tra công tác thi
hành án dân sự đối với cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện;
d) Tổng kết thực tiễn thi
hành án dân sự; thực hiện chế độ thống kê, báo cáo công tác tổ chức, hoạt động
thi hành án dân sự theo hướng dẫn của cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc
Bộ Tư pháp.
2. Trực tiếp tổ chức thi
hành bản án, quyết định theo quy định tại Điều 35 của Luật này.
3. Lập hồ sơ đề nghị xét
miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án dân sự; phối hợp với cơ quan Công an trong việc
lập hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm chấp hành hình phạt tù và đặc xá cho người có
nghĩa vụ thi hành án dân sự đang chấp hành hình phạt tù.
4. Giải quyết khiếu nại,
tố cáo về thi hành án dân sự thuộc thẩm quyền theo quy định của Luật này.
5. Thực hiện quản lý công
chức, cơ sở vật chất, kinh phí, phương tiện hoạt động của cơ quan thi hành án
dân sự tại địa phương theo hướng dẫn, chỉ đạo của cơ quan quản lý thi hành án
dân sự thuộc Bộ Tư pháp.
6. Giúp Ủy ban nhân dân
cùng cấp thực hiện trách nhiệm, quyền hạn theo quy định tại khoản 1 và khoản 2
Điều 173 của Luật này.
7.[12] Báo cáo công tác
thi hành án dân sự trước Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân theo quy định của
pháp luật; báo cáo Tòa án về kết quả thi hành bản án, quyết định khi có yêu cầu.
Điều 15. Nhiệm vụ, quyền
hạn của cơ quan thi hành án cấp quân khu
1. Trực tiếp tổ chức thi
hành bản án, quyết định theo quy định tại Điều 35 của Luật này.
2.[13] Tổng kết thực tiễn
công tác thi hành án theo thẩm quyền; thực hiện chế độ thống kê, báo cáo công
tác tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự theo hướng dẫn của cơ quan quản lý
thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng; báo cáo Tòa án về kết quả thi hành bản án, quyết
định khi có yêu cầu.
3. Giải quyết khiếu nại,
tố cáo về thi hành án thuộc thẩm quyền theo quy định của Luật này.
4. Phối hợp với các cơ
quan chức năng của quân khu trong việc quản lý cán bộ, cơ sở vật chất, kinh phí
và phương tiện hoạt động của cơ quan thi hành án cấp quân khu theo hướng dẫn,
chỉ đạo của cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng.
5. Lập hồ sơ đề nghị xét
miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án dân sự; phối hợp với cơ quan thi hành án phạt
tù trong quân đội trong việc lập hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm chấp hành hình phạt
tù và đặc xá cho người có nghĩa vụ thi hành án dân sự đang chấp hành hình phạt
tù.
6. Giúp Tư lệnh quân khu
và tương đương thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại khoản 1 Điều 172
của Luật này.
Điều 16. Nhiệm vụ, quyền
hạn của cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện
1. Trực tiếp tổ chức thi
hành các bản án, quyết định theo quy định tại Điều 35 của Luật này.
2. Giải quyết khiếu nại,
tố cáo về thi hành án dân sự thuộc thẩm quyền theo quy định của Luật này.
3. Thực hiện quản lý công
chức, cơ sở vật chất, kinh phí và phương tiện hoạt động được giao theo hướng dẫn,
chỉ đạo của cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh.
4. Thực hiện chế độ thống
kê, báo cáo công tác tổ chức, hoạt động thi hành án theo quy định của pháp luật
và hướng dẫn của cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh.
5. Lập hồ sơ đề nghị xét
miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án dân sự.
6. Giúp Ủy ban nhân dân
cùng cấp thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều
174 của Luật này.
7.[14] Báo cáo công tác
thi hành án dân sự trước Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân theo quy định của
pháp luật; báo cáo Tòa án về kết quả thi hành bản án, quyết định khi có yêu cầu.”
Điều 17. Chấp hành viên
1. Chấp hành viên là người
được Nhà nước giao nhiệm vụ thi hành các bản án, quyết định theo quy định tại
Điều 2 của Luật này. Chấp hành viên có ba ngạch là Chấp hành viên sơ cấp, Chấp
hành viên trung cấp và Chấp hành viên cao cấp.
2. Chấp hành viên do Bộ
trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm.
3. Chính phủ quy định
trình tự, thủ tục thi tuyển, bổ nhiệm Chấp hành viên.
Điều 18. Tiêu chuẩn bổ
nhiệm Chấp hành viên
1. Công dân Việt Nam
trung thành với Tổ quốc, trung thực, liêm khiết, có phẩm chất đạo đức tốt, có
trình độ cử nhân luật trở lên, có sức khỏe để hoàn thành nhiệm vụ được giao thì
có thể được bổ nhiệm làm Chấp hành viên.
2. Người có đủ tiêu chuẩn
quy định tại khoản 1 Điều này và có đủ các điều kiện sau thì được bổ nhiệm làm
Chấp hành viên sơ cấp:
a) Có thời gian làm công
tác pháp luật từ 03 năm trở lên;
b) Đã được đào tạo nghiệp
vụ thi hành án dân sự;
c) Trúng tuyển kỳ thi tuyển
Chấp hành viên sơ cấp.
3. Người có đủ tiêu chuẩn
quy định tại khoản 1 Điều này và có đủ các điều kiện sau thì được bổ nhiệm làm
Chấp hành viên trung cấp:
a) Có thời gian làm Chấp
hành viên sơ cấp từ 05 năm trở lên;
b) Trúng tuyển kỳ thi tuyển
Chấp hành viên trung cấp.
4. Người có đủ tiêu chuẩn
quy định tại khoản 1 Điều này và có đủ các điều kiện sau thì được bổ nhiệm làm
Chấp hành viên cao cấp:
a) Có thời gian làm Chấp
hành viên trung cấp từ 05 năm trở lên;
b) Trúng tuyển kỳ thi tuyển
Chấp hành viên cao cấp.
5.[15] Người có đủ tiêu
chuẩn quy định tại khoản 1 Điều này, là sỹ quan quân đội tại ngũ thì được bổ
nhiệm Chấp hành viên trong quân đội.
Tiêu chuẩn để được bổ nhiệm
Chấp hành viên sơ cấp, Chấp hành viên trung cấp và Chấp hành viên cao cấp trong
quân đội được thực hiện theo quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều này.
6.[16] Người đang là Thẩm
phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên được điều động đến công tác tại cơ quan thi
hành án dân sự, người đã từng là Chấp hành viên nhưng được bố trí làm nhiệm vụ
khác và có đủ điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này thì có thể được bổ nhiệm
Chấp hành viên ở ngạch tương đương không qua thi tuyển.
7.[17] Trường hợp đặc biệt
do nhu cầu bổ nhiệm Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, người
có đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều này đã có thời gian làm công tác
pháp luật từ 05 năm trở lên có thể được bổ nhiệm Chấp hành viên sơ cấp; có 10
năm làm công tác pháp luật trở lên có thể được bổ nhiệm Chấp hành viên trung cấp;
có 15 năm làm công tác pháp luật trở lên có thể được bổ nhiệm Chấp hành viên
cao cấp không qua thi tuyển.
Điều 19. Miễn nhiệm Chấp
hành viên
1. Chấp hành viên đương
nhiên được miễn nhiệm trong trường hợp nghỉ hưu hoặc chuyển công tác đến cơ
quan khác.
2. Bộ trưởng Bộ Tư pháp
xem xét, quyết định miễn nhiệm Chấp hành viên trong các trường hợp sau đây:
a) Do hoàn cảnh gia đình
hoặc sức khỏe mà xét thấy không thể bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ Chấp hành viên;
b) Năng lực chuyên môn,
nghiệp vụ không bảo đảm thực hiện nhiệm vụ Chấp hành viên hoặc vì lý do khác mà
không còn đủ tiêu chuẩn để làm Chấp hành viên.
3. Chính phủ quy định
trình tự, thủ tục miễn nhiệm Chấp hành viên.
Điều 20. Nhiệm vụ, quyền
hạn của Chấp hành viên
1. Kịp thời tổ chức thi
hành vụ việc được phân công; ra các quyết định về thi hành án theo thẩm quyền.
2. Thi hành đúng nội dung
bản án, quyết định; áp dụng đúng các quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục
thi hành án, bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự,
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; thực hiện nghiêm chỉnh chuẩn mực đạo đức
nghề nghiệp Chấp hành viên.
3. Triệu tập đương sự,
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để giải quyết việc thi hành án.
4. Xác minh tài sản, điều
kiện thi hành án của người phải thi hành án; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân
có liên quan cung cấp tài liệu để xác minh địa chỉ, tài sản của người phải thi
hành án hoặc phối hợp với cơ quan có liên quan xử lý vật chứng, tài sản và những
việc khác liên quan đến thi hành án.
5. Quyết định áp dụng biện
pháp bảo đảm thi hành án, biện pháp cưỡng chế thi hành án; lập kế hoạch cưỡng
chế thi hành án; thu giữ tài sản thi hành án.
6. Yêu cầu cơ quan Công
an tạm giữ người chống đối việc thi hành án theo quy định của pháp luật.
7. Lập biên bản về hành
vi vi phạm pháp luật về thi hành án; xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền;
kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc
truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người vi phạm.
8. Quyết định áp dụng biện
pháp cưỡng chế để thu hồi tiền, tài sản đã chi trả cho đương sự không đúng quy
định của pháp luật, thu phí thi hành án và các khoản phải nộp khác.
9. Được sử dụng công cụ hỗ
trợ trong khi thi hành công vụ theo quy định của Chính phủ.
10. Thực hiện nhiệm vụ
khác theo sự phân công của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự.
Khi thực hiện nhiệm vụ,
quyền hạn của mình, Chấp hành viên phải tuân theo pháp luật, chịu trách nhiệm
trước pháp luật về việc thi hành án và được pháp luật bảo vệ tính mạng, sức khỏe,
danh dự, nhân phẩm và uy tín.
Điều 21. Những việc Chấp
hành viên không được làm
1. Những việc mà pháp luật
quy định công chức không được làm.
2. Tư vấn cho đương sự,
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan dẫn đến việc thi hành án trái pháp luật.
3. Can thiệp trái pháp luật
vào việc giải quyết vụ việc thi hành án hoặc lợi dụng ảnh hưởng của mình tác động
đến người có trách nhiệm thi hành án.
4. Sử dụng trái phép vật
chứng, tiền, tài sản thi hành án.
5. Thực hiện việc thi
hành án liên quan đến quyền, lợi ích của bản thân và những người sau đây:
a) Vợ, chồng, con đẻ, con
nuôi;
b) Cha đẻ, mẹ đẻ, cha
nuôi, mẹ nuôi, ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, bác, chú, cậu, cô, dì và
anh, chị, em ruột của Chấp hành viên, của vợ hoặc chồng của Chấp hành viên;
c) Cháu ruột mà Chấp hành
viên là ông, bà, bác, chú, cậu, cô, dì.
6. Sử dụng thẻ Chấp hành
viên, trang phục, phù hiệu thi hành án, công cụ hỗ trợ để làm những việc không
thuộc nhiệm vụ, quyền hạn được giao.
7. Sách nhiễu, gây phiền
hà cho cá nhân, cơ quan, tổ chức trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thi hành
án.
8. Cố ý thi hành trái nội
dung bản án, quyết định; trì hoãn hoặc kéo dài thời gian giải quyết việc thi
hành án được giao không có căn cứ pháp luật.
Điều 22. Thủ trưởng, Phó
thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự
1. Thủ trưởng, Phó thủ
trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải là Chấp hành viên. Thủ trưởng, Phó thủ
trưởng cơ quan thi hành án dân sự do Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm, miễn nhiệm;
Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan thi hành án trong quân đội do Bộ trưởng Bộ
Quốc phòng bổ nhiệm, miễn nhiệm.
2. Chính phủ quy định tiêu
chuẩn, trình tự, thủ tục bổ nhiệm, miễn nhiệm Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ
quan thi hành án dân sự và cơ quan thi hành án trong quân đội.
Điều 23. Nhiệm vụ, quyền
hạn của Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự
1. Thủ trưởng cơ quan thi
hành án dân sự có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Ra quyết định về thi
hành án theo thẩm quyền;
b) Quản lý, chỉ đạo hoạt
động thi hành án dân sự của cơ quan thi hành án dân sự;
c) Yêu cầu cơ quan, tổ chức,
cá nhân phối hợp tổ chức thi hành án;
d) Yêu cầu cơ quan đã ra
bản án, quyết định giải thích bằng văn bản những điểm chưa rõ hoặc không phù hợp
với thực tế trong bản án, quyết định đó để thi hành;
đ) Kiến nghị người có thẩm
quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm đối với bản án, quyết
định theo quy định của pháp luật;
e) Trả lời kháng nghị, kiến
nghị của Viện kiểm sát; giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án, xử phạt vi
phạm hành chính theo thẩm quyền; kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý
kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với
người vi phạm;
g) Thực hiện nhiệm vụ,
quyền hạn của Chấp hành viên;
h) Tổ chức thực hiện chế
độ báo cáo, thống kê thi hành án;
i) Thủ trưởng cơ quan thi
hành án dân sự cấp tỉnh có quyền điều động, hướng dẫn nghiệp vụ, chỉ đạo, kiểm
tra công tác thi hành án đối với Chấp hành viên, công chức cơ quan thi hành án
dân sự cấp tỉnh và cấp huyện trên địa bàn và những việc khác theo hướng dẫn, chỉ
đạo của cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp.
2. Phó thủ trưởng cơ quan
thi hành án dân sự thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo sự phân công hoặc ủy quyền
của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự và chịu trách nhiệm trong phạm vi
công việc được giao.
Điều 24. Biên chế, kinh
phí, cơ sở vật chất của cơ quan thi hành án dân sự
Nhà nước bảo đảm biên chế,
kinh phí, trụ sở làm việc, công cụ hỗ trợ thi hành án, ứng dụng công nghệ thông
tin và phương tiện, trang thiết bị cần thiết khác cho cơ quan thi hành án dân sự.
Điều 25. Trang phục, phù
hiệu, chế độ đối với công chức làm công tác thi hành án dân sự
Chấp hành viên, Thẩm tra
viên và công chức khác làm công tác thi hành án dân sự được cấp trang phục, phù
hiệu để sử dụng trong khi thi hành công vụ, được hưởng tiền lương, chế độ phụ cấp
phù hợp với nghề nghiệp và chế độ ưu đãi khác theo quy định của Chính phủ.
Chương III
THỦ TỤC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
Điều 26. Hướng dẫn quyền
yêu cầu thi hành án dân sự
Khi ra bản án, quyết định,
Tòa án, Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia, Hội đồng xử lý vụ việc hạn chế cạnh
tranh, Hội đồng giải quyết khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh[18],
Trọng tài thương mại phải giải thích cho đương sự, đồng thời ghi rõ trong bản
án, quyết định về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu
yêu cầu thi hành án.
Điều 27. Cấp bản án, quyết
định
Tòa án, Chủ tịch Ủy ban Cạnh
tranh Quốc gia, Hội đồng xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh, Hội đồng giải quyết
khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh[19], Trọng tài thương mại đã ra bản
án, quyết định được quy định tại Điều 2 của Luật này phải cấp cho đương sự bản
án, quyết định có ghi “Để thi hành".
Điều 28. Chuyển giao bản
án, quyết định
1.[20] Tòa án đã ra bản
án, quyết định quy định tại các điểm a, b, c, d và g khoản 1 Điều 2 của Luật
này phải chuyển giao bản án, quyết định đó cho cơ quan thi hành án dân sự có thẩm
quyền trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật.
2.[21] Tòa án đã ra bản
án, quyết định quy định tại điểm a khoản 2 Điều 2 của Luật này phải chuyển giao
bản án, quyết định đó cho cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền trong thời hạn
15 ngày, kể từ ngày ra bản án, quyết định.
3.[22] Tòa án, Trọng tài
thương mại đã ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải chuyển
giao quyết định đó cho cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền ngay sau khi ra
quyết định.
4. Trường hợp cơ quan có
thẩm quyền đã kê biên tài sản, tạm giữ tài sản, thu giữ vật chứng hoặc thu giữ
các tài liệu khác có liên quan đến việc thi hành án thì khi chuyển giao bản án,
quyết định cho cơ quan thi hành án dân sự, Tòa án phải gửi kèm theo bản sao
biên bản về việc kê biên, tạm giữ tài sản, thu giữ vật chứng hoặc tài liệu khác
có liên quan.
Điều 29. Thủ tục nhận bản
án, quyết định[23]
Khi nhận bản án, quyết định
do Tòa án, Trọng tài thương mại chuyển giao, cơ quan thi hành án dân sự phải kiểm
tra, vào sổ nhận bản án, quyết định.
Sổ nhận bản án, quyết định
phải ghi rõ số thứ tự; ngày, tháng, năm nhận bản án, quyết định; số, ngày,
tháng, năm của bản án, quyết định và tên Tòa án, Trọng tài thương mại đã ra bản
án, quyết định; tên, địa chỉ của đương sự và tài liệu khác có liên quan.
Việc giao, nhận trực tiếp
bản án, quyết định phải có chữ ký của hai bên; trường hợp nhận được bản án, quyết
định và tài liệu có liên quan bằng đường bưu điện thì cơ quan thi hành án dân sự
phải thông báo bằng văn bản cho Tòa án, Trọng tài thương mại đã chuyển giao biết.
Điều 30. Thời hiệu yêu cầu
thi hành án
1. Trong thời hạn 05 năm,
kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án,
người phải thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền
ra quyết định thi hành án.
Trường hợp thời hạn thực
hiện nghĩa vụ được ấn định trong bản án, quyết định thì thời hạn 05 năm được
tính từ ngày nghĩa vụ đến hạn.
Đối với bản án, quyết định
thi hành theo định kỳ thì thời hạn 05 năm được áp dụng cho từng định kỳ, kể từ
ngày nghĩa vụ đến hạn.
2. Đối với các trường hợp
hoãn, tạm đình chỉ thi hành án theo quy định của Luật này thì thời gian hoãn, tạm
đình chỉ không tính vào thời hiệu yêu cầu thi hành án, trừ trường hợp người được
thi hành án đồng ý cho người phải thi hành án hoãn thi hành án.
3. Trường hợp người yêu cầu
thi hành án chứng minh được do trở ngại khách quan hoặc do sự kiện bất khả
kháng mà không thể yêu cầu thi hành án đúng thời hạn thì thời gian có trở ngại
khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng không tính vào thời hiệu yêu cầu thi hành
án.
Điều 31. Tiếp nhận, từ chối
yêu cầu thi hành án[24]
1. Đương sự tự mình hoặc ủy
quyền cho người khác yêu cầu thi hành án bằng hình thức trực tiếp nộp đơn hoặc
trình bày bằng lời nói hoặc gửi đơn qua bưu điện. Người yêu cầu phải nộp bản
án, quyết định, tài liệu khác có liên quan.
Ngày yêu cầu thi hành án
được tính từ ngày người yêu cầu nộp đơn hoặc trình bày trực tiếp hoặc ngày có dấu
bưu điện nơi gửi.
2. Đơn yêu cầu phải có
các nội dung sau đây:
a) Tên, địa chỉ của người
yêu cầu;
b) Tên cơ quan thi hành
án dân sự nơi yêu cầu;
c) Tên, địa chỉ của người
được thi hành án; người phải thi hành án;
d) Nội dung yêu cầu thi
hành án;
đ) Thông tin về tài sản,
điều kiện thi hành án của người phải thi hành án, nếu có;
e) Ngày, tháng, năm làm
đơn;
g) Chữ ký hoặc điểm chỉ của
người làm đơn; trường hợp là pháp nhân thì phải có chữ ký của người đại diện hợp
pháp và đóng dấu của pháp nhân, nếu có.
3. Trường hợp người yêu cầu
trực tiếp trình bày bằng lời nói thì cơ quan thi hành án dân sự phải lập biên bản
có các nội dung quy định tại khoản 2 Điều này, có chữ ký của người lập biên bản;
biên bản này có giá trị như đơn yêu cầu.
4. Khi tiếp nhận yêu cầu
thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự phải kiểm tra nội dung yêu cầu và các
tài liệu kèm theo, vào sổ nhận yêu cầu thi hành án và thông báo bằng văn bản
cho người yêu cầu.
5. Cơ quan thi hành án
dân sự từ chối yêu cầu thi hành án và phải thông báo bằng văn bản cho người yêu
cầu trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu thi hành án
trong các trường hợp sau đây:
a) Người yêu cầu không có
quyền yêu cầu thi hành án hoặc nội dung yêu cầu không liên quan đến nội dung của
bản án, quyết định; bản án, quyết định không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của
các đương sự theo quy định của Luật này;
b) Cơ quan thi hành án
dân sự được yêu cầu không có thẩm quyền thi hành án;
c) Hết thời hiệu yêu cầu
thi hành án.
Điều 32.[25] (được bãi bỏ)
Điều 33.[26] (được bãi bỏ)
Điều 34.[27] (được bãi bỏ)
Điều 35. Thẩm quyền thi
hành án
1. Cơ quan thi hành án
dân sự cấp huyện có thẩm quyền thi hành các bản án, quyết định sau đây:
a) Bản án, quyết định sơ
thẩm của Tòa án nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương
đương[28] nơi cơ quan thi hành án dân sự có trụ sở;
b) Bản án, quyết định
phúc thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương[29] đối với
bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố
thuộc tỉnh và tương đương[30] nơi cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện có trụ sở;
c)[31] Quyết định giám đốc
thẩm, tái thẩm của Tòa án nhân dân cấp cao đối với bản án, quyết định đã có hiệu
lực pháp luật của Tòa án nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và
tương đương nơi cơ quan thi hành án dân sự có trụ sở;
d) Bản án, quyết định do
cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện nơi khác, cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh
hoặc cơ quan thi hành án cấp quân khu ủy thác.
2.[32] Cơ quan thi hành
án dân sự cấp tỉnh có thẩm quyền thi hành các bản án, quyết định sau đây:
a) Bản án, quyết định sơ
thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trên cùng địa
bàn;
b) Bản án, quyết định của
Tòa án nhân dân cấp cao;
c) Quyết định của Tòa án
nhân dân tối cao chuyển giao cho cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh;
d) Bản án, quyết định của
Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài được Tòa án công nhận và
cho thi hành tại Việt Nam;
đ) Phán quyết, quyết định
của Trọng tài thương mại;
e) Quyết định xử lý vụ việc
cạnh tranh của Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia, Hội đồng xử lý vụ việc hạn
chế cạnh tranh, quyết định giải quyết khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh
tranh của Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia, Hội đồng giải quyết khiếu nại
quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh[33];
g) Bản án, quyết định do
cơ quan thi hành án dân sự nơi khác hoặc cơ quan thi hành án cấp quân khu ủy
thác;
h) Bản án, quyết định thuộc
thẩm quyền thi hành của cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện quy định tại khoản
1 Điều này mà thấy cần thiết lấy lên để thi hành;
i) Bản án, quyết định quy
định tại khoản 1 Điều này mà có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải
ủy thác tư pháp về thi hành án.
3. Cơ quan thi hành án cấp
quân khu có thẩm quyền thi hành các bản án, quyết định sau đây:
a) Quyết định về hình phạt
tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng,
tài sản, án phí và quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự của Tòa
án quân sự quân khu và tương đương trên địa bàn;
b) Quyết định về hình phạt
tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng,
tài sản, án phí và quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự của Tòa
án quân sự khu vực trên địa bàn;
c) Quyết định về hình phạt
tiền, tịch thu tài sản, xử lý vật chứng, tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi
bất chính, án phí và quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự của Tòa
án quân sự trung ương chuyển giao cho cơ quan thi hành án cấp quân khu;
d)[34] Quyết định dân sự
của Tòa án nhân dân tối cao chuyển giao cho cơ quan thi hành án cấp quân khu;
đ) Bản án, quyết định do
cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh, cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện, cơ
quan thi hành án cấp quân khu khác ủy thác.
Điều 36. Ra quyết định
thi hành án[35]
1. Thủ trưởng cơ quan thi
hành án dân sự ra quyết định thi hành án khi có yêu cầu thi hành án, trừ trường
hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
Thời hạn ra quyết định
thi hành án theo yêu cầu là 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu thi
hành án.
2. Thủ trưởng cơ quan thi
hành án dân sự có thẩm quyền chủ động ra quyết định thi hành án và phân công Chấp
hành viên tổ chức thi hành đối với phần bản án, quyết định sau:
a) Hình phạt tiền, truy
thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, án phí, lệ phí Tòa án;
b) Trả lại tiền, tài sản
cho đương sự;
c) Tịch thu sung quỹ nhà
nước, tịch thu tiêu hủy vật chứng, tài sản; các khoản thu khác cho Nhà nước;
d) Thu hồi quyền sử dụng
đất và tài sản khác thuộc diện sung quỹ nhà nước;
đ) Quyết định áp dụng biện
pháp khẩn cấp tạm thời;
e) Quyết định của Tòa án
giải quyết phá sản.
Trong thời hạn 05 ngày
làm việc, kể từ ngày nhận được bản án, quyết định quy định tại các điểm a, b, c
và d khoản này, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải ra quyết định thi
hành án.
Đối với quyết định quy định
tại điểm đ khoản này thì phải ra ngay quyết định thi hành án.
Đối với quyết định quy định
tại điểm e khoản này thì phải ra quyết định thi hành án trong thời hạn 03 ngày
làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định.
3. Quyết định thi hành án
phải ghi rõ họ, tên, chức vụ của người ra quyết định; số, ngày, tháng, năm, tên
cơ quan, tổ chức ban hành bản án, quyết định; tên, địa chỉ của người phải thi
hành án, người được thi hành; phần nghĩa vụ phải thi hành án; thời hạn tự nguyện
thi hành án.
4. Chính phủ quy định chi
tiết Điều này.
Điều 37. Thu hồi, sửa đổi,
bổ sung, hủy quyết định về thi hành án
1. Người có thẩm quyền ra
quyết định về thi hành án ra quyết định thu hồi quyết định về thi hành án trong
các trường hợp sau đây:
a) Quyết định về thi hành
án được ban hành không đúng thẩm quyền;
b) Quyết định về thi hành
án có sai sót làm thay đổi nội dung vụ việc;
c) Căn cứ ra quyết định về
thi hành án không còn;
d) Trường hợp quy định tại
khoản 3 Điều 54 của Luật này.
2. Người có thẩm quyền ra
quyết định về thi hành án, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại có quyền ra
quyết định sửa đổi, bổ sung hoặc yêu cầu sửa đổi, bổ sung quyết định về thi
hành án trong trường hợp quyết định về thi hành án có sai sót mà không làm thay
đổi nội dung vụ việc thi hành án.
3. Người có thẩm quyền ra
quyết định về thi hành án, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại có quyền ra
quyết định hủy hoặc yêu cầu hủy quyết định về thi hành án của Thủ trưởng cơ
quan thi hành án dân sự cấp dưới, Chấp hành viên thuộc quyền quản lý trực tiếp
trong các trường hợp sau đây:
a) Phát hiện các trường hợp
quy định tại các khoản 1 và khoản 2 Điều này mà Thủ trưởng cơ quan thi hành án
dân sự cấp dưới, Chấp hành viên thuộc quyền quản lý trực tiếp không tự khắc phục
sau khi có yêu cầu;
b) Quyết định về thi hành
án có vi phạm pháp luật theo kết luận của cơ quan có thẩm quyền.
4. Quyết định thu hồi, sửa
đổi, bổ sung, hủy bỏ quyết định về thi hành án phải ghi rõ căn cứ, nội dung và
hậu quả pháp lý của việc thu hồi, sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ.
Điều 38. Gửi quyết định về
thi hành án[36]
Trong thời hạn 03 ngày
làm việc, kể từ ngày ra quyết định, các quyết định về thi hành án phải được gửi
cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, trừ trường hợp Luật này có quy định khác.
Quyết định cưỡng chế thi
hành án phải được gửi cho Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi
chung là Ủy ban nhân dân cấp xã) nơi tổ chức cưỡng chế thi hành án, cơ quan, tổ
chức, cá nhân có liên quan đến việc thực hiện quyết định cưỡng chế thi hành án.
Điều 39. Thông báo về thi
hành án
1. Quyết định về thi hành
án, giấy báo, giấy triệu tập và văn bản khác có liên quan đến việc thi hành án
phải thông báo cho đương sự, người có quyền, nghĩa vụ liên quan để họ thực hiện
quyền, nghĩa vụ theo nội dung của văn bản đó.
2. Việc thông báo phải thực
hiện trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày ra văn bản, trừ trường hợp cần
ngăn chặn đương sự tẩu tán, hủy hoại tài sản, trốn tránh việc thi hành án.
3. Việc thông báo được thực
hiện theo các hình thức sau đây:
a) Thông báo trực tiếp hoặc
qua cơ quan, tổ chức, cá nhân khác theo quy định của pháp luật;
b) Niêm yết công khai;
c) Thông báo trên các
phương tiện thông tin đại chúng.
4. Chi phí thông báo do
người phải thi hành án chịu, trừ trường hợp pháp luật quy định ngân sách nhà nước
chi trả hoặc người được thi hành án chịu.
Điều 40. Thủ tục thông
báo trực tiếp cho cá nhân
1. Văn bản thông báo cho
cá nhân phải được giao trực tiếp và yêu cầu người đó ký nhận hoặc điểm chỉ.
2. Trường hợp người được
thông báo vắng mặt thì văn bản thông báo được giao cho một trong số những người
thân thích có đủ năng lực hành vi dân sự cùng cư trú với người đó, bao gồm vợ,
chồng, con, ông, bà, cha, mẹ, bác, chú, cô, cậu, dì, anh, chị, em của đương sự,
của vợ hoặc chồng của đương sự.
Việc giao thông báo phải
lập thành biên bản. Ngày lập biên bản là ngày được thông báo hợp lệ.
Trường hợp người được
thông báo không có người thân thích có đủ năng lực hành vi dân sự cùng cư trú
hoặc có nhưng người đó từ chối nhận văn bản thông báo hoặc người được thông báo
vắng mặt mà không rõ thời điểm trở về thì người thực hiện thông báo phải lập
biên bản về việc không thực hiện được thông báo, có chữ ký của người chứng kiến
và thực hiện việc niêm yết công khai theo quy định tại Điều 42 của Luật này.
3. Trường hợp người được
thông báo đã chuyển đến địa chỉ mới thì phải thông báo theo địa chỉ mới của người
được thông báo.
Điều 41. Thủ tục thông
báo trực tiếp cho cơ quan, tổ chức
Trường hợp người được
thông báo là cơ quan, tổ chức thì văn bản thông báo phải được giao trực tiếp
cho người đại diện theo pháp luật hoặc người chịu trách nhiệm nhận văn bản của
cơ quan, tổ chức đó và phải được những người này ký nhận. Trường hợp cơ quan, tổ
chức được thông báo có người đại diện tham gia việc thi hành án hoặc cử người đại
diện nhận văn bản thông báo thì những người này ký nhận văn bản thông báo. Ngày
ký nhận là ngày được thông báo hợp lệ.
Điều 42. Niêm yết công
khai
1. Việc niêm yết công khai
văn bản thông báo chỉ được thực hiện khi không rõ địa chỉ của người được thông
báo hoặc không thể thực hiện được việc thông báo trực tiếp, trừ trường hợp pháp
luật có quy định khác.
Cơ quan thi hành án dân sự
trực tiếp hoặc ủy quyền cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú hoặc nơi cư trú
cuối cùng của người được thông báo hoặc cá nhân, tổ chức có đủ điều kiện theo
quy định của pháp luật thực hiện việc niêm yết.
2. Việc niêm yết được thực
hiện theo thủ tục sau đây:
a) Niêm yết văn bản thông
báo tại trụ sở cơ quan thi hành án dân sự, trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi
cư trú hoặc nơi cư trú cuối cùng của người được thông báo;
b) Lập biên bản về việc
niêm yết công khai, trong đó ghi rõ ngày, tháng, năm niêm yết; số, ngày, tháng,
năm, tên của văn bản thông báo; có chữ ký của người chứng kiến.
3. Thời gian niêm yết
công khai văn bản thông báo là 10 ngày, kể từ ngày niêm yết. Ngày niêm yết là
ngày được thông báo hợp lệ.
Điều 43. Thông báo trên
phương tiện thông tin đại chúng
1. Thông báo trên phương
tiện thông tin đại chúng chỉ được thực hiện khi pháp luật có quy định hoặc khi
đương sự có yêu cầu.
2. Trường hợp xác định
đương sự đang có mặt tại địa phương nơi đương sự cư trú thì việc thông báo được
thực hiện trên báo ngày trong hai số liên tiếp hoặc trên đài phát thanh, đài
truyền hình của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương của địa phương đó hai lần
trong 02 ngày liên tiếp.
Trường hợp xác định đương
sự không có mặt tại địa phương nơi đương sự cư trú thì việc thông báo được thực
hiện trên báo ngày trong hai số liên tiếp hoặc trên đài phát thanh, đài truyền
hình của trung ương hai lần trong 02 ngày liên tiếp.
3. Ngày thực hiện việc
thông báo lần hai trên phương tiện thông tin đại chúng là ngày được thông báo hợp
lệ.
Điều 44. Xác minh điều kiện
thi hành án[37]
1. Trong thời hạn 10
ngày, kể từ ngày hết thời hạn tự nguyện thi hành án mà người phải thi hành án
không tự nguyện thi hành thì Chấp hành viên tiến hành xác minh; trường hợp thi
hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì phải tiến hành xác minh
ngay.
Người phải thi hành án phải
kê khai trung thực, cung cấp đầy đủ thông tin về tài sản, thu nhập, điều kiện
thi hành án với cơ quan thi hành án dân sự và phải chịu trách nhiệm về việc kê
khai của mình.
2. Trường hợp người phải
thi hành án chưa có điều kiện thi hành án thì ít nhất 06 tháng một lần, Chấp
hành viên phải xác minh điều kiện thi hành án; trường hợp người phải thi hành
án chưa có điều kiện thi hành án là người đang chấp hành hình phạt tù mà thời
gian chấp hành hình phạt tù còn lại từ 02 năm trở lên hoặc không xác định được
địa chỉ, nơi cư trú mới của người phải thi hành án thì thời hạn xác minh ít nhất
01 năm một lần. Sau hai lần xác minh mà người phải thi hành án vẫn chưa có điều
kiện thi hành án thì cơ quan thi hành án dân sự phải thông báo bằng văn bản cho
người được thi hành án về kết quả xác minh. Việc xác minh lại được tiến hành
khi có thông tin mới về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án.
3. Cơ quan thi hành án
dân sự có thể ủy quyền cho cơ quan thi hành án dân sự nơi người phải thi hành
án có tài sản, cư trú, làm việc hoặc có trụ sở để xác minh điều kiện thi hành
án.
4. Khi xác minh điều kiện
thi hành án, Chấp hành viên có trách nhiệm sau đây:
a) Xuất trình thẻ Chấp
hành viên;
b) Xác minh cụ thể tài sản,
thu nhập, các điều kiện khác để thi hành án; đối với tài sản phải đăng ký quyền
sở hữu, sử dụng hoặc đăng ký giao dịch bảo đảm thì còn phải xác minh tại cơ
quan có chức năng đăng ký tài sản, giao dịch đó;
c) Trường hợp xác minh bằng
văn bản thì văn bản yêu cầu xác minh phải nêu rõ nội dung xác minh và các thông
tin cần thiết khác;
d) Trường hợp người phải
thi hành án là cơ quan, tổ chức thì Chấp hành viên trực tiếp xem xét tài sản, sổ
sách quản lý vốn, tài sản; xác minh tại cơ quan, tổ chức khác có liên quan đang
quản lý, bảo quản, lưu giữ thông tin về tài sản, tài khoản của người phải thi
hành án;
đ) Yêu cầu cơ quan chuyên
môn hoặc mời, thuê chuyên gia để làm rõ các nội dung cần xác minh trong trường
hợp cần thiết;
e) Lập biên bản thể hiện
đầy đủ kết quả xác minh có xác nhận của Ủy ban nhân dân hoặc công an cấp xã hoặc
cơ quan, tổ chức, cá nhân nơi tiến hành xác minh.
5. Người được thi hành án
có quyền tự mình hoặc ủy quyền cho người khác xác minh điều kiện thi hành án,
cung cấp thông tin về tài sản, thu nhập, điều kiện thi hành án của người phải
thi hành án cho cơ quan thi hành án dân sự.
Trường hợp Chấp hành viên
thấy cần thiết hoặc kết quả xác minh của Chấp hành viên và người được thi hành
án khác nhau hoặc có kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thì phải xác minh lại.
Việc xác minh lại được tiến hành trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận
được kết quả xác minh do đương sự cung cấp hoặc nhận được kháng nghị của Viện
kiểm sát nhân dân.
6. Trách nhiệm của cơ
quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc xác minh điều kiện thi hành án:
a) Cơ quan, tổ chức, công
chức tư pháp - hộ tịch, địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường, cán bộ,
công chức cấp xã khác và cá nhân có liên quan thực hiện yêu cầu của Chấp hành
viên và phải chịu trách nhiệm về các nội dung thông tin đã cung cấp;
b) Bảo hiểm xã hội, ngân
hàng, tổ chức tín dụng khác, văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất, cơ quan đăng
ký giao dịch bảo đảm, công chứng và các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác đang nắm
giữ thông tin hoặc quản lý tài sản, tài khoản của người phải thi hành án có
trách nhiệm cung cấp thông tin về điều kiện thi hành án của người phải thi hành
án; ký vào biên bản trong trường hợp Chấp hành viên xác minh trực tiếp hoặc trả
lời bằng văn bản trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản
yêu cầu của Chấp hành viên, đối với thông tin về tài khoản thì phải cung cấp
ngay;
c) Cơ quan, tổ chức, cá
nhân đang nắm giữ thông tin hoặc quản lý tài sản, tài khoản của người phải thi
hành án có trách nhiệm cung cấp thông tin khi người được thi hành án hoặc người
đại diện theo ủy quyền của người được thi hành án có yêu cầu trong thời hạn 05
ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu, trừ trường hợp do sự kiện bất khả
kháng hoặc trở ngại khách quan. Trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân từ chối
cung cấp thì phải có văn bản trả lời và nêu rõ lý do.
7. Trường hợp người được
thi hành án, cơ quan, tổ chức, cá nhân không cung cấp hoặc cung cấp thông tin
sai sự thật về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án thì phải chịu
trách nhiệm trước pháp luật, thanh toán các chi phí phát sinh, trường hợp gây
ra thiệt hại thì phải bồi thường.
8. Chính phủ quy định chi
tiết Điều này.
Điều 44a. Xác định việc
chưa có điều kiện thi hành án[38]
1. Căn cứ kết quả xác
minh điều kiện thi hành án, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định
về việc chưa có điều kiện thi hành án khi thuộc một trong các trường hợp sau
đây:
a) Người phải thi hành án
không có thu nhập hoặc có thu nhập chỉ bảo đảm cuộc sống tối thiểu cho người phải
thi hành án, người mà họ có trách nhiệm nuôi dưỡng và không có tài sản để thi
hành án hoặc có tài sản nhưng giá trị tài sản chỉ đủ để thanh toán chi phí cưỡng
chế thi hành án hoặc tài sản theo quy định của pháp luật không được kê biên, xử
lý để thi hành án;
b) Người phải thi hành án
phải thi hành nghĩa vụ về trả vật đặc định nhưng vật phải trả không còn hoặc hư
hỏng đến mức không thể sử dụng được; phải trả giấy tờ nhưng giấy tờ không thể
thu hồi và cũng không thể cấp lại được mà đương sự không có thỏa thuận khác;
c) Chưa xác định được địa
chỉ, nơi cư trú của người phải thi hành án, người chưa thành niên được giao cho
người khác nuôi dưỡng.
2. Thông tin về tên, địa
chỉ, nghĩa vụ phải thi hành của người phải thi hành án chưa có điều kiện thi
hành được đăng tải trên trang thông tin điện tử về thi hành án dân sự và gửi
cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi xác minh để niêm yết. Khi người phải thi hành án
có điều kiện thi hành thì cơ quan thi hành án phải tổ chức thi hành.
Chính phủ quy định chi tiết
khoản này.
Điều 45. Thời hạn tự nguyện
thi hành án[39]
1. Thời hạn tự nguyện thi
hành án là 10 ngày, kể từ ngày người phải thi hành án nhận được quyết định thi
hành án hoặc được thông báo hợp lệ quyết định thi hành án.
2. Trường hợp cần ngăn chặn
người phải thi hành án có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản hoặc hành vi khác
nhằm trốn tránh việc thi hành án thì Chấp hành viên áp dụng ngay biện pháp quy
định tại Chương IV của Luật này.
Điều 46. Cưỡng chế thi
hành án
1. Hết thời hạn quy định
tại khoản 1 Điều 45 của Luật này, người phải thi hành án có điều kiện thi hành
án mà không tự nguyện thi hành án thì bị cưỡng chế.
2. Không tổ chức cưỡng chế
thi hành án trong thời gian từ 22 giờ đến 06 giờ sáng ngày hôm sau, các ngày
nghỉ, ngày lễ theo quy định của pháp luật và các trường hợp đặc biệt khác do
Chính phủ quy định.
Điều 47. Thanh toán tiền,
trả tài sản thi hành án[40]
1. Số tiền thi hành án,
sau khi trừ các chi phí thi hành án và khoản tiền quy định tại khoản 5 Điều 115
của Luật này thì được thanh toán theo thứ tự sau đây:
a) Tiền cấp dưỡng; tiền
lương, tiền công lao động, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm, trợ cấp mất
sức lao động; tiền bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tổn thất về
tinh thần;
b) Án phí, lệ phí Tòa án;
c) Các khoản phải thi
hành án khác theo bản án, quyết định.
2. Trường hợp có nhiều
người được thi hành án thì việc thanh toán tiền thi hành án được thực hiện như
sau:
a) Việc thanh toán được
thực hiện theo thứ tự quy định tại khoản 1 Điều này; trường hợp trong cùng một
hàng ưu tiên có nhiều người được thi hành án thì việc thanh toán được thực hiện
theo tỷ lệ số tiền mà họ được thi hành án;
b) Số tiền thi hành án
thu theo quyết định cưỡng chế thi hành án được thanh toán cho những người được
thi hành án tính đến thời điểm có quyết định cưỡng chế đó; số tiền còn lại được
thanh toán cho những người được thi hành án theo các quyết định thi hành án
khác tính đến thời điểm thanh toán;
c) Sau khi thanh toán
theo quy định tại điểm a và điểm b khoản này, số tiền còn lại được trả cho người
phải thi hành án.
3. Trường hợp xử lý tài sản
cầm cố, thế chấp mà bên nhận cầm cố, thế chấp là bên được thi hành án hoặc trường
hợp bán tài sản mà bản án, quyết định tuyên kê biên để bảo đảm thi hành một nghĩa
vụ cụ thể thì số tiền thu được từ việc bán tài sản cầm cố, thế chấp, bị kê biên
được ưu tiên thanh toán cho bên nhận cầm cố, thế chấp hoặc bên có nghĩa vụ được
bảo đảm sau khi trừ án phí của bản án, quyết định đó, chi phí cưỡng chế và khoản
tiền quy định tại khoản 5 Điều 115 của Luật này.
Trường hợp xử lý tài sản
cầm cố, thế chấp mà bên nhận cầm cố, thế chấp không phải là người được thi hành
án thì người nhận cầm cố, thế chấp được ưu tiên thanh toán trước khi thanh toán
các khoản theo quy định tại Điều này.
4. Thứ tự thanh toán tiền
thi hành án về phá sản thực hiện theo quy định của pháp luật về phá sản.
5. Trong thời hạn 10
ngày, kể từ ngày thu được tiền, tài sản thi hành án, Chấp hành viên phải thực
hiện việc thanh toán tiền, trả tài sản thi hành án quy định tại các khoản 1, 2
và 3 Điều này.
Trường hợp đương sự không
đến nhận thì tiền, tài sản đó được xử lý theo quy định tại Điều 126 của Luật
này.
Điều 48. Hoãn thi hành án
1.[41] Thủ trưởng cơ quan
thi hành án dân sự ra quyết định hoãn thi hành án trong trường hợp sau đây:
a) Người phải thi hành án
bị ốm nặng, có xác nhận của cơ sở y tế từ cấp huyện trở lên; bị mất hoặc bị hạn
chế năng lực hành vi dân sự theo quyết định của Tòa án;
b) Chưa xác định được địa
chỉ của người phải thi hành án hoặc vì lý do chính đáng khác mà người phải thi
hành án không thể tự mình thực hiện nghĩa vụ theo bản án, quyết định;
c) Đương sự đồng ý hoãn
thi hành án; việc đồng ý hoãn thi hành án phải lập thành văn bản ghi rõ thời hạn
hoãn, có chữ ký của đương sự; trong thời gian hoãn thi hành án thì người phải
thi hành án không phải chịu lãi suất chậm thi hành án, trừ trường hợp đương sự
có thỏa thuận khác;
d) Tài sản để thi hành án
đã được Tòa án thụ lý để giải quyết theo quy định tại Điều 74 và Điều 75 của Luật
này; tài sản được kê biên theo Điều 90 của Luật này nhưng sau khi giảm giá theo
quy định mà giá trị bằng hoặc thấp hơn chi phí và nghĩa vụ được bảo đảm;
đ) Việc thi hành án đang
trong thời hạn cơ quan có thẩm quyền giải thích bản án, quyết định và trả lời
kiến nghị của cơ quan thi hành án dân sự theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều
170 và khoản 2 Điều 179 của Luật này;
e) Người được nhận tài sản,
người được giao nuôi dưỡng đã được thông báo hợp lệ 02 lần về việc nhận tài sản,
nhận người được nuôi dưỡng nhưng không đến nhận;
g) Việc chuyển giao quyền
và nghĩa vụ thi hành án theo quy định tại Điều 54 của Luật này chưa thực hiện
được vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan;
h) Tài sản kê biên không
bán được mà người được thi hành án không nhận để thi hành án theo quy định tại
khoản 3 Điều 104 của Luật này.
2. Thủ trưởng cơ quan thi
hành án dân sự ra quyết định hoãn thi hành án khi nhận được yêu cầu hoãn thi
hành án của người có thẩm quyền kháng nghị ít nhất 24 giờ trước thời điểm cưỡng
chế thi hành án đã được ấn định trong quyết định cưỡng chế. Trường hợp cơ quan
thi hành án nhận được yêu cầu hoãn thi hành án của người có thẩm quyền kháng
nghị ít hơn 24 giờ trước thời điểm cưỡng chế đã được ấn định trong quyết định
cưỡng chế thi hành án thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có quyền quyết
định hoãn thi hành án khi xét thấy cần thiết.
Trường hợp vụ việc đã được
thi hành một phần hoặc đã được thi hành xong thì cơ quan thi hành án dân sự phải
có văn bản thông báo ngay cho người yêu cầu hoãn thi hành án.
Người có thẩm quyền kháng
nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm đối với bản án, quyết định của
Tòa án chỉ được yêu cầu hoãn thi hành án một lần để xem xét kháng nghị nhằm
tránh hậu quả không thể khắc phục được.
Thời hạn hoãn thi hành án
theo yêu cầu của người có thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định không quá 03
tháng, kể từ ngày ra văn bản yêu cầu hoãn thi hành án; trong thời gian hoãn thi
hành án thì người phải thi hành án không phải chịu lãi suất chậm thi hành án.
3. Thời hạn ra quyết định
hoãn thi hành án là 05 ngày làm việc, kể từ ngày có căn cứ hoãn thi hành án quy
định tại khoản 1 Điều này. Trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này thì phải ra
ngay quyết định hoãn thi hành án khi nhận được yêu cầu của người có thẩm quyền.
4. Trong thời hạn 05 ngày
làm việc, kể từ khi căn cứ hoãn thi hành án quy định tại khoản 1 Điều này không
còn, hết thời hạn hoãn thi hành án theo yêu cầu của người có thẩm quyền quy định
tại khoản 2 Điều này hoặc khi nhận được văn bản trả lời của người có thẩm quyền
kháng nghị về việc không có căn cứ kháng nghị thì Thủ trưởng cơ quan thi hành
án dân sự phải ra quyết định tiếp tục thi hành án.
Điều 49. Tạm đình chỉ thi
hành án
1. Thủ trưởng cơ quan thi
hành án dân sự thông báo về việc tạm đình chỉ thi hành án khi nhận được quyết định
tạm đình chỉ thi hành án của người có thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định
theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm.
Trường hợp bản án, quyết
định đã được thi hành một phần hoặc toàn bộ thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án
dân sự phải thông báo ngay bằng văn bản cho người đã kháng nghị.
Trong thời gian tạm đình
chỉ thi hành án do có kháng nghị thì người phải thi hành án không phải chịu lãi
suất chậm thi hành án.
2. Thủ trưởng cơ quan thi
hành án dân sự ra quyết định tạm đình chỉ thi hành án khi nhận được thông báo của
Tòa án về việc đã thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với người phải thi
hành án.
Thời hạn ra quyết định tạm
đình chỉ thi hành án là 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo của
Tòa án.
3. Thủ trưởng cơ quan thi
hành án dân sự ra quyết định tiếp tục thi hành án trong thời hạn 05 ngày làm việc,
kể từ ngày nhận được một trong các quyết định sau đây:
a) Quyết định rút kháng
nghị của người có thẩm quyền;
b) Quyết định giám đốc thẩm,
tái thẩm của Tòa án giữ nguyên bản án, quyết định bị kháng nghị;
c) Quyết định của Tòa án
về việc đình chỉ tiến hành thủ tục phá sản, đình chỉ thủ tục phục hồi hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản.
Điều 50. Đình chỉ thi
hành án
1.[42] Thủ trưởng cơ quan
thi hành án dân sự phải ra quyết định đình chỉ thi hành án trong trường hợp sau
đây:
a) Người phải thi hành án
chết không để lại di sản hoặc theo quy định của pháp luật nghĩa vụ của người đó
theo bản án, quyết định không được chuyển giao cho người thừa kế;
b) Người được thi hành án
chết mà theo quy định của pháp luật quyền và lợi ích của người đó theo bản án,
quyết định không được chuyển giao cho người thừa kế hoặc không có người thừa kế;
c) Đương sự có thỏa thuận
bằng văn bản hoặc người được thi hành án có văn bản yêu cầu cơ quan thi hành án
dân sự đình chỉ thi hành một phần hoặc toàn bộ quyền, lợi ích được hưởng theo bản
án, quyết định, trừ trường hợp việc đình chỉ thi hành án ảnh hưởng đến quyền, lợi
ích hợp pháp của người thứ ba;
d) Bản án, quyết định bị
hủy một phần hoặc toàn bộ, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 103 của Luật
này;
đ) Người phải thi hành án
là tổ chức đã bị giải thể, không còn tài sản mà theo quy định của pháp luật
nghĩa vụ của họ không được chuyển giao cho tổ chức khác;
e) Có quyết định miễn
nghĩa vụ thi hành án;
g) Tòa án ra quyết định mở
thủ tục phá sản đối với người phải thi hành án;
h) Người chưa thành niên
được giao nuôi dưỡng theo bản án, quyết định đã chết hoặc đã thành niên.
2. Thời hạn ra quyết định
đình chỉ thi hành án là 05 ngày làm việc, kể từ ngày có căn cứ đình chỉ thi
hành án theo quy định tại khoản 1 Điều này.
Điều 51.[43] (được bãi bỏ)
Điều 52. Kết thúc thi
hành án[44]
Việc thi hành án đương
nhiên kết thúc trong trường hợp sau đây:
1. Có xác nhận của cơ
quan thi hành án dân sự về việc đương sự đã thực hiện xong quyền, nghĩa vụ của
mình.
2. Có quyết định đình chỉ
thi hành án.
Điều 53. Xác nhận kết quả
thi hành án
Đương sự có quyền yêu cầu
cơ quan thi hành án dân sự xác nhận kết quả thi hành án.
Trong thời hạn 05 ngày
làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu của đương sự, Thủ trưởng cơ quan thi
hành án dân sự cấp giấy xác nhận kết quả thi hành án.
Điều 54. Chuyển giao quyền
và nghĩa vụ thi hành án
1. Việc chuyển giao quyền
và nghĩa vụ thi hành án đối với tổ chức được thực hiện như sau:
a) Trường hợp hợp nhất
thì tổ chức mới tiếp tục thực hiện quyền, nghĩa vụ thi hành án, trừ trường hợp
pháp luật có quy định khác;
b) Trường hợp sáp nhập
thì tổ chức sáp nhập tiếp tục thực hiện quyền, nghĩa vụ thi hành án, trừ trường
hợp pháp luật có quy định khác;
c) Trường hợp chia, tách
thì cơ quan ra quyết định chia, tách phải xác định rõ cá nhân, tổ chức tiếp tục
thực hiện quyền, nghĩa vụ thi hành án theo quyết định chia, tách, trừ trường hợp
pháp luật có quy định khác.
Nếu quyết định chia, tách
không quy định nghĩa vụ của các tổ chức mới thì sau khi chia, tách các tổ chức
mới có trách nhiệm liên đới thực hiện nghĩa vụ thi hành án của tổ chức bị chia,
tách;
d)[45] Trường hợp giải thể
thì cơ quan có thẩm quyền ra quyết định giải thể phải thông báo cho cơ quan thi
hành án dân sự biết trước khi ra quyết định. Trường hợp quyền, nghĩa vụ thi
hành án của tổ chức bị giải thể được chuyển giao cho tổ chức khác thì tổ chức mới
tiếp tục thực hiện quyền, nghĩa vụ thi hành án.
Trường hợp doanh nghiệp
giải thể do bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh theo quy định của Luật
Doanh nghiệp thì nghĩa vụ thi hành án được chuyển giao theo quy định của Luật
Doanh nghiệp.
Cơ quan thi hành án dân sự,
người được thi hành án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền đề nghị
cơ quan có thẩm quyền xem xét lại quyết định giải thể theo quy định của pháp luật.
Trường hợp tài sản để thi
hành án không còn do thực hiện quyết định giải thể trái pháp luật thì cơ quan
ra quyết định giải thể phải chịu trách nhiệm thi hành phần nghĩa vụ của tổ chức
bị giải thể tương ứng với tài sản đó;
đ) Trường hợp phá sản thì
quyền, nghĩa vụ thi hành án được thực hiện theo quyết định về phá sản;
e)[46] Trường hợp doanh
nghiệp thực hiện chuyển đổi thành công ty cổ phần mà trước đó chưa thực hiện
quyền, nghĩa vụ thi hành án của mình thì sau khi chuyển đổi, công ty cổ phần tiếp
tục thực hiện quyền, nghĩa vụ thi hành án.
2. Trường hợp người được
thi hành án, người phải thi hành án là cá nhân chết thì quyền, nghĩa vụ thi
hành án được chuyển giao cho người khác theo quy định của pháp luật về thừa kế.
3. Trường hợp quy định tại
khoản 1 và khoản 2 Điều này thì tổ chức, cá nhân được chuyển giao quyền và nghĩa
vụ thi hành án có quyền làm đơn yêu cầu thi hành án hoặc phải tiếp tục thực hiện
nghĩa vụ thi hành án theo quy định của Luật này.
Thủ trưởng cơ quan thi
hành án dân sự ra quyết định thi hành án đối với cá nhân, tổ chức mới tương ứng
với quyền, nghĩa vụ thi hành án được chuyển giao và ra quyết định thu hồi quyết
định thi hành án trước đây.
Đối với các quyết định,
thông báo khác về thi hành án thì tùy từng trường hợp cụ thể mà cơ quan thi
hành án dân sự giữ nguyên, thu hồi hoặc ra các quyết định, thông báo khác phù hợp
theo quy định của Luật này.
4. Trường hợp đương sự thỏa
thuận về việc chuyển giao quyền, nghĩa vụ về thi hành án cho người thứ ba thì
người thứ ba có quyền, nghĩa vụ của đương sự.
Điều 55. Ủy thác thi hành
án
1. Thủ trưởng cơ quan thi
hành án dân sự phải ủy thác thi hành án cho cơ quan thi hành án dân sự nơi người
phải thi hành án có tài sản, làm việc, cư trú hoặc có trụ sở.
2. Trường hợp người phải
thi hành án có tài sản, làm việc, cư trú hoặc có trụ sở ở nhiều địa phương thì
Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ủy thác thi hành án từng phần cho cơ quan
thi hành án dân sự nơi người phải thi hành án có điều kiện thi hành án để thi
hành phần nghĩa vụ của họ.
Trường hợp ủy thác thi
hành nghĩa vụ liên quan đến tài sản thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ủy
thác đến cơ quan thi hành án dân sự nơi người phải thi hành án có tài sản; nếu
không xác định được nơi có tài sản hoặc nơi có tài sản trùng với nơi làm việc,
cư trú, có trụ sở của người phải thi hành án thì ủy thác đến nơi làm việc, cư
trú hoặc nơi có trụ sở của người đó.
Trường hợp thi hành nghĩa
vụ liên đới mà người phải thi hành án cư trú hoặc có tài sản ở các địa phương
khác nhau thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ủy thác toàn bộ nghĩa vụ
thi hành án đến cơ quan thi hành án dân sự thuộc một trong các địa phương nơi
người phải thi hành án có điều kiện thi hành án.
3. Việc ủy thác phải thực
hiện trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày xác định có căn cứ ủy thác.
Trường hợp cần thiết phải ủy thác việc thi hành quyết định của Tòa án về áp dụng
biện pháp khẩn cấp tạm thời thì việc ủy thác phải thực hiện ngay sau khi có căn
cứ ủy thác.
Điều 56. Thẩm quyền ủy
thác thi hành án
1. Cơ quan thi hành án
dân sự cấp tỉnh ủy thác thi hành các bản án, quyết định sau đây:
a) Ủy thác cho cơ quan
thi hành án dân sự cấp tỉnh nơi khác thi hành các bản án, quyết định về nhận
người lao động trở lại làm việc hoặc bồi thường thiệt hại mà người phải thi
hành án là cơ quan nhà nước cấp tỉnh trở lên; bản án, quyết định có yếu tố nước
ngoài hoặc liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ; quyết định của Trọng tài thương
mại; quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc
gia, Hội đồng xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh, quyết định giải quyết khiếu nại
quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia,
Hội đồng giải quyết khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh[47];
b) Ủy thác cho cơ quan
thi hành án cấp quân khu thi hành vụ việc mà đương sự hoặc tài sản có liên quan
đến quân đội trên địa bàn;
c) Ủy thác cho cơ quan
thi hành án dân sự cấp huyện vụ việc khác, trừ những trường hợp quy định tại điểm
a và điểm b của khoản này.
2. Cơ quan thi hành án
dân sự cấp huyện ủy thác vụ việc thuộc thẩm quyền thi hành án của mình cho cơ
quan thi hành án dân sự cấp tỉnh nơi khác, cơ quan thi hành án cấp quân khu, cơ
quan thi hành án dân sự cấp huyện khác có điều kiện thi hành.
3. Cơ quan thi hành án cấp
quân khu ủy thác vụ việc thuộc thẩm quyền thi hành án của mình cho cơ quan thi
hành án cấp quân khu khác, cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh hoặc cơ quan thi
hành án dân sự cấp huyện có điều kiện thi hành.
Điều 57. Thực hiện ủy
thác thi hành án
1. Trước khi ủy thác, cơ
quan thi hành án dân sự phải xử lý xong tài sản tạm giữ, thu giữ, tài sản kê
biên tại địa bàn có liên quan đến khoản ủy thác. Trường hợp Thủ trưởng cơ quan
thi hành án dân sự đã ra quyết định thi hành án nhưng xét thấy cần ủy thác thì
phải ra quyết định thu hồi một phần hoặc toàn bộ quyết định thi hành án và ra
quyết định ủy thác cho nơi có điều kiện thi hành.
2. Cơ quan thi hành án
dân sự nhận ủy thác không được trả lại quyết định ủy thác cho cơ quan thi hành
án dân sự đã ủy thác mà phải tiếp tục thực hiện việc thi hành án theo quy định
của Luật này, trừ trường hợp quyết định ủy thác có sự nhầm lẫn, sai sót rõ ràng
về thẩm quyền của cơ quan nhận ủy thác thi hành án, nội dung thi hành án.
Trong thời hạn 05 ngày
làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định ủy thác, Thủ trưởng cơ quan thi hành
án dân sự ra quyết định thi hành án và thông báo bằng văn bản cho cơ quan thi
hành án dân sự đã ủy thác về việc nhận được quyết định ủy thác.
Điều 58. Bảo quản tài sản
thi hành án
1. Việc bảo quản tài sản
thi hành án được thực hiện bằng một trong các hình thức sau đây:
a) Giao cho người phải
thi hành án, người thân thích của người phải thi hành án theo quy định tại khoản
2 Điều 40 của Luật này hoặc người đang sử dụng, bảo quản;
b) Cá nhân, tổ chức có điều
kiện bảo quản;
c) Bảo quản tại kho của
cơ quan thi hành án dân sự.
2. Tài sản là kim khí
quý, đá quý, tiền hoặc giấy tờ có giá được bảo quản tại Kho bạc nhà nước.
3. Việc giao bảo quản tài
sản phải được lập biên bản ghi rõ loại tài sản, tình trạng tài sản, giờ, ngày,
tháng, năm giao; họ, tên Chấp hành viên, đương sự, người được giao bảo quản,
người làm chứng, nếu có; quyền, nghĩa vụ của người được giao bảo quản tài sản
và có chữ ký của các bên. Trường hợp có người từ chối ký thì phải ghi vào biên
bản và nêu rõ lý do.
Người được giao bảo quản
tài sản quy định tại điểm b khoản 1 Điều này được trả thù lao và được thanh
toán chi phí bảo quản tài sản. Thù lao và chi phí bảo quản tài sản do người phải
thi hành án chịu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
4. Biên bản giao bảo quản
tài sản được giao cho đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người
được giao bảo quản tài sản hoặc người đang sử dụng, bảo quản tài sản và lưu hồ
sơ thi hành án.
5. Người được giao bảo quản
tài sản vi phạm quy định của pháp luật trong việc bảo quản tài sản thì tùy theo
tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt hành chính, xử lý kỷ luật hoặc bị truy
cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của
pháp luật.
Điều 59. Việc thi hành án
khi có thay đổi giá tài sản tại thời điểm thi hành án
Trường hợp theo bản án,
quyết định mà một bên được nhận tài sản và phải thanh toán cho người khác giá
trị tài sản họ được nhận, nhưng tại thời điểm thi hành án, giá tài sản thay đổi
và một trong các bên đương sự có yêu cầu định giá tài sản đó thì tài sản được định
giá theo quy định tại Điều 98 của Luật này để thi hành án.
Điều 60. Phí thi hành án
dân sự
Người được thi hành án phải
nộp phí thi hành án dân sự.
Chính phủ quy định mức
phí thi hành án dân sự, thủ tục thu nộp, quản lý, sử dụng phí thi hành án dân sự.
Điều 61. Điều kiện miễn,
giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước[48]
1. Người phải thi hành án
được xét miễn nghĩa vụ thi hành án khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Không có tài sản hoặc
có tài sản nhưng tài sản đó theo quy định của pháp luật không được xử lý để thi
hành án hoặc không có thu nhập hoặc có thu nhập chỉ bảo đảm cuộc sống tối thiểu
cho người phải thi hành án và người mà họ có trách nhiệm nuôi dưỡng;
b) Hết thời hạn 05 năm, kể
từ ngày ra quyết định thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước có
giá trị dưới 2.000.000 đồng hoặc hết thời hạn 10 năm, kể từ ngày ra quyết định
thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước có giá trị từ 2.000.000 đồng
đến dưới 5.000.000 đồng.
2. Người phải thi hành án
đã thi hành được một phần khoản thu nộp ngân sách nhà nước được xét miễn thi
hành phần nghĩa vụ còn lại khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Thuộc trường hợp quy định
tại điểm a khoản 1 Điều này;
b) Hết thời hạn 05 năm, kể
từ ngày ra quyết định thi hành án mà phần nghĩa vụ còn lại có giá trị dưới
5.000.000 đồng hoặc hết thời hạn 10 năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án
mà phần nghĩa vụ còn lại có giá trị từ 5.000.000 đồng đến dưới 10.000.000 đồng.
3. Người phải thi hành án
đã thi hành được một phần khoản thu nộp ngân sách nhà nước mà thuộc trường hợp
quy định tại điểm a khoản 1 Điều này thì được xét giảm một phần nghĩa vụ thi
hành án khi có một trong các điều kiện sau đây:
a) Hết thời hạn 05 năm, kể
từ ngày ra quyết định thi hành án mà phần nghĩa vụ còn lại có giá trị từ
10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, mỗi lần giảm không quá một phần tư số tiền
còn lại phải thi hành án;
b) Hết thời hạn 10 năm, kể
từ ngày ra quyết định thi hành án mà phần nghĩa vụ còn lại có giá trị từ trên
100.000.000 đồng, mỗi lần giảm không quá một phần năm số tiền còn lại phải thi
hành án nhưng tối đa không quá 50.000.000 đồng.
4. Người phải thi hành án
đã tích cực thi hành được một phần án phí, tiền phạt nhưng lâm vào hoàn cảnh
kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn hoặc ốm đau
gây ra mà không thể tiếp tục thi hành được phần nghĩa vụ còn lại hoặc lập công
lớn thì được xét miễn thi hành phần nghĩa vụ còn lại.
5. Người phải thi hành án
quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này chỉ được xét miễn hoặc giảm một lần
trong 01 năm đối với mỗi bản án, quyết định.
Quyết định thi hành án lần
đầu là căn cứ để xác định thời hạn xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án.
6. Bộ Tư pháp chủ trì, phối
hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn Điều
này.
Điều 62. Hồ sơ đề nghị
xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước
Cơ quan thi hành án dân sự
lập hồ sơ đề nghị Tòa án có thẩm quyền xem xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án.
Hồ sơ bao gồm các tài liệu sau đây:
1. Văn bản đề nghị xét miễn,
giảm nghĩa vụ thi hành án của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự hoặc của Viện
trưởng Viện kiểm sát trong trường hợp đề nghị xét miễn, giảm khoản tiền phạt;
2. Bản án, quyết định của
Tòa án, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án dân sự;
3. Biên bản xác minh điều
kiện thi hành án của người phải thi hành án được thực hiện trong thời hạn không
quá 03 tháng trước khi đề nghị xét miễn, giảm;
4. Tài liệu khác chứng
minh điều kiện được xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án của người phải thi hành
án, nếu có;
5. Ý kiến bằng văn bản của
Viện kiểm sát cùng cấp trong trường hợp cơ quan thi hành án dân sự đề nghị xét
miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án.
Điều 63. Thẩm quyền, thủ
tục xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước
1. Việc xét miễn, giảm
nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước thuộc thẩm quyền
của Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, Tòa án quân sự
khu vực (sau đây gọi chung là Tòa án nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố
thuộc tỉnh và tương đương[49]) nơi cơ quan thi hành án dân sự đang tổ chức việc
thi hành án có trụ sở.
2. Trong thời hạn 02 ngày
làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành
án, Tòa án phải thụ lý hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án.
Trong thời hạn 20 ngày, kể
từ ngày thụ lý hồ sơ, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ việc phải mở phiên
họp xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án.
3. Phiên họp xét miễn, giảm
nghĩa vụ thi hành án do một Thẩm phán chủ trì, có sự tham dự của đại diện Viện
kiểm sát cùng cấp, cơ quan thi hành án dân sự đã đề nghị xét miễn, giảm.
Khi tiến hành xét miễn,
giảm nghĩa vụ thi hành án, đại diện cơ quan thi hành án dân sự trình bày tóm tắt
hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm; đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về hồ sơ
đề nghị xét miễn, giảm. Trên cơ sở xem xét hồ sơ và ý kiến của đại diện của Viện
kiểm sát, cơ quan thi hành án dân sự, Thẩm phán ra quyết định chấp nhận, chấp
nhận một phần hoặc không chấp nhận đề nghị xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án.
4. Trong thời hạn 05 ngày
làm việc, kể từ ngày ra quyết định về việc miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án, Tòa
án phải gửi quyết định đó cho người được xét miễn, giảm thi hành án, Viện kiểm
sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp, cơ quan thi hành án dân sự đã đề
nghị xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án, trại giam, trại tạm giam nơi người được
xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước đang
chấp hành hình phạt tù.
Điều 64. Kháng nghị quyết
định của Tòa án về miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân
sách nhà nước
1. Quyết định miễn, giảm
nghĩa vụ thi hành án của Tòa án có thể bị Viện kiểm sát kháng nghị theo thủ tục
phúc thẩm. Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp là 07 ngày, của Viện
kiểm sát cấp trên trực tiếp là 15 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định.
Hết thời hạn kháng nghị,
Viện kiểm sát không kháng nghị thì quyết định của Tòa án có hiệu lực thi hành.
2. Trong thời hạn 07
ngày, kể từ ngày nhận được quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát, Tòa án đã
ra quyết định miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án phải chuyển hồ sơ và văn bản
kháng nghị lên Tòa án cấp trên trực tiếp.
3. Trong thời hạn 15
ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ kháng nghị, Tòa án cấp trên trực tiếp phải mở
phiên họp để xét kháng nghị.
Phiên họp xét kháng nghị
do một Thẩm phán chủ trì, có sự tham gia của đại diện Viện kiểm sát cùng cấp.
Trong trường hợp cần thiết, Tòa án yêu cầu đại diện cơ quan thi hành án dân sự
đã lập hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm tham dự. Thẩm phán chủ trì phiên họp ra quyết
định giải quyết kháng nghị.
Quyết định của Tòa án về
giải quyết kháng nghị việc miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án có hiệu lực thi
hành.
4. Trường hợp Viện kiểm
sát rút quyết định kháng nghị trước hoặc trong phiên họp xét kháng nghị thì Tòa
án ra quyết định đình chỉ việc xét kháng nghị. Quyết định của Tòa án về việc miễn,
giảm thi hành án bị kháng nghị có hiệu lực thi hành.
5. Trường hợp sau khi quyết
định cho miễn, giảm thi hành án có hiệu lực mà phát hiện người phải thi hành án
có hành vi cất giấu, tẩu tán tài sản để xin miễn, giảm, trốn tránh việc thi
hành án thì cơ quan thi hành án dân sự, Viện kiểm sát đã đề nghị xét miễn, giảm
có trách nhiệm đề nghị Chánh án Tòa án, Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền
theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự và tố tụng dân sự xem xét việc kháng
nghị quyết định miễn, giảm thi hành án theo thủ tục tái thẩm.
Điều 65. Bảo đảm tài
chính từ ngân sách nhà nước để thi hành án
Trường hợp cơ quan, tổ chức
hoạt động hoàn toàn bằng kinh phí do ngân sách nhà nước cấp phải thi hành án đã
áp dụng mọi biện pháp tài chính cần thiết mà vẫn không có khả năng thi hành án
thì ngân sách nhà nước bảo đảm nghĩa vụ thi hành án. Việc xử lý trách nhiệm vật
chất đối với người gây ra thiệt hại được thực hiện theo quy định của pháp luật.
Chính phủ quy định thẩm
quyền, điều kiện, đối tượng, thủ tục bảo đảm tài chính để thi hành án.
Chương IV
BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM VÀ CƯỠNG
CHẾ THI HÀNH ÁN
Mục 1. BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM
THI HÀNH ÁN
Điều 66. Biện pháp bảo đảm
thi hành án
1. Chấp hành viên có quyền
tự mình hoặc theo yêu cầu bằng văn bản của đương sự áp dụng ngay biện pháp bảo
đảm thi hành án nhằm ngăn chặn việc tẩu tán, hủy hoại tài sản, trốn tránh việc
thi hành án. Khi áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án, Chấp hành viên không phải
thông báo trước cho đương sự.
2. Người yêu cầu Chấp
hành viên áp dụng biện pháp bảo đảm phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về
yêu cầu của mình. Trường hợp yêu cầu áp dụng biện pháp bảo đảm không đúng mà
gây thiệt hại cho người bị áp dụng biện pháp bảo đảm hoặc cho người thứ ba thì
phải bồi thường.
3. Các biện pháp bảo đảm
thi hành án bao gồm:
a) Phong tỏa tài khoản;
b) Tạm giữ tài sản, giấy
tờ;
c) Tạm dừng việc đăng ký,
chuyển dịch, thay đổi hiện trạng về tài sản.
Điều 67. Phong tỏa tài
khoản, tài sản ở nơi gửi giữ[50]
1. Việc phong tỏa tài khoản,
tài sản ở nơi gửi giữ được thực hiện trong trường hợp người phải thi hành án có
tài khoản, tài sản gửi giữ.
2. Quyết định phong tỏa
tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ phải xác định rõ số tiền, tài sản bị phong tỏa.
Chấp hành viên phải giao quyết định phong tỏa cho cơ quan, tổ chức, cá nhân
đang quản lý tài khoản, tài sản của người phải thi hành án.
Trường hợp cần phong tỏa
ngay tài khoản, tài sản của người phải thi hành án ở nơi gửi giữ mà chưa ban
hành quyết định phong tỏa thì Chấp hành viên lập biên bản yêu cầu cơ quan, tổ
chức, cá nhân đang quản lý tài khoản, tài sản của người phải thi hành án phong
tỏa tài khoản, tài sản đó. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi lập biên bản, Chấp
hành viên phải ra quyết định phong tỏa tài khoản, tài sản.
Cơ quan, tổ chức, cá nhân
đang quản lý tài khoản, tài sản phải thực hiện ngay yêu cầu của Chấp hành viên
về phong tỏa tài khoản, tài sản. Biên bản, quyết định phong tỏa tài khoản, tài
sản trong trường hợp này phải được gửi ngay cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp.
3. Trong thời hạn 10
ngày, kể từ ngày ra quyết định phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ, Chấp
hành viên phải áp dụng biện pháp cưỡng chế hoặc ra quyết định chấm dứt việc
phong tỏa theo quy định của Luật này.
Điều 68. Tạm giữ tài sản,
giấy tờ của đương sự[51]
1. Chấp hành viên đang thực
hiện nhiệm vụ thi hành án có quyền tạm giữ tài sản, giấy tờ liên quan đến việc
thi hành án mà đương sự, tổ chức, cá nhân khác đang quản lý, sử dụng. Cơ quan,
tổ chức, cá nhân hữu quan có trách nhiệm phối hợp, hỗ trợ, thực hiện yêu cầu của
Chấp hành viên trong việc tạm giữ tài sản, giấy tờ.
2. Quyết định tạm giữ tài
sản, giấy tờ phải xác định rõ loại tài sản, giấy tờ bị tạm giữ. Chấp hành viên
phải giao quyết định tạm giữ tài sản, giấy tờ cho đương sự hoặc tổ chức, cá
nhân đang quản lý, sử dụng.
Trường hợp cần tạm giữ
ngay tài sản, giấy tờ mà chưa ban hành quyết định tạm giữ tài sản, giấy tờ thì
Chấp hành viên yêu cầu giao tài sản, giấy tờ và lập biên bản về việc tạm giữ.
Trong thời hạn 24 giờ, kể
từ khi lập biên bản, Chấp hành viên phải ban hành quyết định tạm giữ tài sản,
giấy tờ. Biên bản, quyết định tạm giữ tài sản, giấy tờ phải được gửi ngay cho
Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp.
3. Khi tạm giữ tài sản,
giấy tờ phải lập biên bản có chữ ký của Chấp hành viên và người đang quản lý, sử
dụng tài sản, giấy tờ; trường hợp người đang quản lý, sử dụng tài sản, giấy tờ
không ký thì phải có chữ ký của người làm chứng. Biên bản tạm giữ tài sản, giấy
tờ phải được giao cho người quản lý, sử dụng tài sản, giấy tờ.
4. Chấp hành viên yêu cầu
đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp các giấy tờ, tài liệu
cần thiết để chứng minh quyền sở hữu, sử dụng; thông báo cho đương sự, cơ quan,
tổ chức, cá nhân có liên quan về quyền khởi kiện yêu cầu xác định quyền sở hữu,
sử dụng đối với tài sản, giấy tờ tạm giữ.
Trường hợp cần thiết, Chấp
hành viên phải xác minh, làm rõ hoặc yêu cầu Tòa án, cơ quan có thẩm quyền xác
định người có quyền sở hữu, sử dụng đối với tài sản, giấy tờ tạm giữ.
5. Trong thời hạn 10
ngày, kể từ ngày có căn cứ xác định tài sản, giấy tờ tạm giữ thuộc quyền sở hữu,
sử dụng của người phải thi hành án, Chấp hành viên phải ra quyết định áp dụng
biện pháp cưỡng chế theo quy định tại Chương IV của Luật này; trường hợp có căn
cứ xác định tài sản, giấy tờ tạm giữ không thuộc quyền sở hữu, sử dụng của người
phải thi hành án hoặc thuộc quyền sở hữu, sử dụng của người phải thi hành án
nhưng đã thực hiện xong nghĩa vụ của mình thì Chấp hành viên phải ra quyết định
trả lại tài sản, giấy tờ cho người có quyền sở hữu, sử dụng.
Điều 69. Tạm dừng việc
đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản[52]
1. Trường hợp cần ngăn chặn
hoặc phát hiện đương sự có hành vi chuyển quyền sở hữu, sử dụng, tẩu tán, hủy
hoại, thay đổi hiện trạng tài sản, trốn tránh việc thi hành án, Chấp hành viên
ra quyết định tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện
trạng tài sản của người phải thi hành án, tài sản chung của người phải thi hành
án với người khác.
2. Quyết định tạm dừng việc
đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản phải được gửi
ngay cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để tạm dừng việc đăng ký, chuyển
quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản đó.
3. Chấp hành viên yêu cầu
đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp các giấy tờ, tài liệu
cần thiết để chứng minh quyền sở hữu, sử dụng; thông báo cho đương sự, cơ quan,
tổ chức, cá nhân có liên quan về quyền khởi kiện yêu cầu xác định quyền sở hữu,
sử dụng đối với tài sản.
Trường hợp cần thiết, Chấp
hành viên phải xác minh, làm rõ hoặc yêu cầu Tòa án, cơ quan có thẩm quyền xác
định quyền sở hữu, sử dụng tài sản để thi hành án, giải quyết tranh chấp tài sản;
yêu cầu hủy giấy tờ, giao dịch liên quan đến tài sản theo quy định của pháp luật.
4. Trong thời hạn 10
ngày, kể từ ngày có căn cứ xác định tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng của người
phải thi hành án, Chấp hành viên phải ra quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế
theo quy định tại Chương IV của Luật này; trường hợp có căn cứ xác định tài sản
không thuộc quyền sở hữu, sử dụng của người phải thi hành án thì Chấp hành viên
phải ra quyết định chấm dứt việc tạm dừng đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng,
thay đổi hiện trạng tài sản.
Mục 2. QUY ĐỊNH CHUNG VỀ
CƯỠNG CHẾ THI HÀNH ÁN
Điều 70. Căn cứ cưỡng chế
thi hành án
Căn cứ để cưỡng chế thi
hành án bao gồm:
1. Bản án, quyết định;
2. Quyết định thi hành
án;
3. Quyết định cưỡng chế
thi hành án, trừ trường hợp bản án, quyết định đã tuyên kê biên, phong tỏa tài
sản, tài khoản và trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm
thời của Tòa án.
Điều 71. Biện pháp cưỡng
chế thi hành án
1. Khấu trừ tiền trong
tài khoản; thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án.
2. Trừ vào thu nhập của
người phải thi hành án.
3. Kê biên, xử lý tài sản
của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ.
4. Khai thác tài sản của
người phải thi hành án.
5. Buộc chuyển giao vật,
chuyển giao quyền tài sản, giấy tờ.
6. Buộc người phải thi
hành án thực hiện hoặc không được thực hiện công việc nhất định.
Điều 72. Kế hoạch cưỡng
chế thi hành án[53]
1. Chấp hành viên lập kế
hoạch cưỡng chế thi hành án trong trường hợp cần huy động lực lượng.
2. Kế hoạch cưỡng chế thi
hành án có các nội dung chính sau đây:
a) Tên người bị áp dụng
biện pháp cưỡng chế;
b) Biện pháp cưỡng chế cần
áp dụng;
c) Thời gian, địa điểm cưỡng
chế;
d) Phương án tiến hành cưỡng
chế;
đ) Yêu cầu về lực lượng
tham gia bảo vệ cưỡng chế;
e) Dự trù chi phí cưỡng
chế.
3. Kế hoạch cưỡng chế phải
được gửi ngay cho Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan Công an cùng cấp, Ủy ban nhân
dân cấp xã nơi tổ chức cưỡng chế và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến
việc cưỡng chế thi hành án. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan có trách nhiệm
thực hiện theo kế hoạch, yêu cầu của Chấp hành viên.
4. Trong thời hạn 03 ngày
làm việc, kể từ ngày nhận được kế hoạch cưỡng chế của cơ quan thi hành án dân sự
cùng cấp, cơ quan Công an có trách nhiệm xây dựng kế hoạch và lập phương án bảo
vệ cưỡng chế.
Cơ quan Công an có trách
nhiệm bố trí lực lượng, phương tiện cần thiết để giữ gìn trật tự, bảo vệ hiện
trường, kịp thời ngăn chặn, xử lý hành vi tẩu tán tài sản, cản trở, chống đối
việc thi hành án, tạm giữ người chống đối, khởi tố vụ án hình sự khi có dấu hiệu
phạm tội.
Điều 73. Chi phí cưỡng chế
thi hành án
1. Người phải thi hành án
chịu chi phí cưỡng chế thi hành án sau đây:
a) Chi phí thông báo về
cưỡng chế thi hành án;
b) Chi phí mua nguyên liệu,
nhiên liệu, thuê phương tiện, thiết bị bảo vệ, y tế, phòng, chống cháy, nổ, các
thiết bị, phương tiện cần thiết khác cho việc cưỡng chế thi hành án;
c) Chi phí cho việc định
giá, giám định tài sản, bán đấu giá tài sản; chi phí định giá lại tài sản, trừ
trường hợp quy định tại điểm a khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều này;
d) Chi phí cho việc thuê,
trông coi, bảo quản tài sản; chi phí bốc dỡ, vận chuyển tài sản; chi phí thuê
nhân công và khoản chi phục vụ cho việc xây ngăn, phá dỡ; chi thuê đo đạc, xác
định mốc giới để thực hiện việc cưỡng chế thi hành án;
đ) Chi phí cho việc tạm
giữ, thu giữ tài sản, giấy tờ;
e) Tiền bồi dưỡng cho những
người trực tiếp tham gia cưỡng chế và bảo vệ cưỡng chế thi hành án.
2. Người được thi hành án
phải chịu chi phí cưỡng chế thi hành án sau đây:
a)[54] Chi phí định giá lại
tài sản nếu người được thi hành án yêu cầu định giá lại, trừ trường hợp định
giá lại do có vi phạm quy định về định giá;
b) Một phần hoặc toàn bộ
chi phí xây ngăn, phá dỡ trong trường hợp bản án, quyết định xác định người được
thi hành án phải chịu chi phí xây ngăn, phá dỡ.
3. Ngân sách nhà nước trả
chi phí cưỡng chế thi hành án trong các trường hợp sau đây:
a) Định giá lại tài sản
khi có vi phạm quy định về định giá;
b)[55] Chi phí xác minh
điều kiện thi hành án;
c) Chi phí cần thiết khác
theo quy định của Chính phủ;
d) Trường hợp đương sự được
miễn, giảm chi phí cưỡng chế thi hành án theo quy định của pháp luật.
4. Chấp hành viên dự trù
chi phí cưỡng chế và thông báo cho người phải thi hành án biết ít nhất 03 ngày
làm việc trước ngày cưỡng chế đã được ấn định, trừ trường hợp cần thiết phải cưỡng
chế ngay. Chi phí cưỡng chế thi hành án được tạm ứng từ ngân sách nhà nước.
5. Các khoản chi phí cưỡng
chế thi hành án được thanh toán theo mức chi thực tế, hợp lý do Thủ trưởng cơ
quan thi hành án dân sự duyệt theo đề xuất của Chấp hành viên.
Thủ trưởng cơ quan thi
hành án dân sự nơi tổ chức việc thi hành án thực hiện xét miễn, giảm các khoản
chi phí cưỡng chế thi hành án.
6. Chi phí cưỡng chế thi
hành án do đương sự nộp hoặc được khấu trừ vào tiền thu được, tiền bán đấu giá
tài sản kê biên, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ. Sau khi xử lý tài sản
hoặc thu được tiền, Chấp hành viên phải làm thủ tục hoàn trả ngay các khoản tiền
đã tạm ứng trước đó.
7. Chính phủ quy định mức
bồi dưỡng cho người trực tiếp tham gia cưỡng chế và bảo vệ cưỡng chế thi hành
án; thủ tục thu, nộp, miễn, giảm chi phí cưỡng chế thi hành án.
Điều 74. Xác định, phân
chia, xử lý tài sản chung để thi hành án[56]
1. Trường hợp chưa xác định
được phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành
án trong khối tài sản chung để thi hành án thì Chấp hành viên phải thông báo
cho người phải thi hành án và những người có quyền sở hữu chung đối với tài sản,
quyền sử dụng đất biết để họ tự thỏa thuận phân chia tài sản chung hoặc yêu cầu
Tòa án giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự.
Hết thời hạn 30 ngày, kể
từ ngày nhận được thông báo mà các bên không có thỏa thuận hoặc thỏa thuận vi phạm
quy định tại Điều 6 của Luật này hoặc thỏa thuận không được và không yêu cầu
Tòa án giải quyết thì Chấp hành viên thông báo cho người được thi hành án có
quyền yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất
của người phải thi hành án trong khối tài sản chung theo thủ tục tố tụng dân sự.
Hết thời hạn 15 ngày, kể
từ ngày nhận được thông báo mà người được thi hành án không yêu cầu Tòa án giải
quyết thì Chấp hành viên yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sở hữu tài sản, phần
quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung theo thủ
tục tố tụng dân sự.
Chấp hành viên xử lý tài
sản theo quyết định của Tòa án.
2. Tài sản kê biên thuộc
sở hữu chung đã xác định được phần sở hữu của các chủ sở hữu chung được xử lý
như sau:
a) Đối với tài sản chung
có thể chia được thì Chấp hành viên áp dụng biện pháp cưỡng chế phần tài sản
tương ứng với phần sở hữu của người phải thi hành án;
b) Đối với tài sản chung
không thể chia được hoặc nếu việc phân chia làm giảm đáng kể giá trị của tài sản
thì Chấp hành viên có thể áp dụng biện pháp cưỡng chế đối với toàn bộ tài sản
và thanh toán cho chủ sở hữu chung còn lại giá trị phần tài sản thuộc quyền sở
hữu của họ.
3. Chủ sở hữu chung được
quyền ưu tiên mua phần tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản
thuộc sở hữu chung.
Trước khi bán tài sản lần
đầu đối với tài sản thuộc sở hữu chung, Chấp hành viên thông báo và định thời hạn
cho chủ sở hữu chung mua phần tài sản của người phải thi hành án theo giá đã định
trong thời hạn 03 tháng đối với bất động sản, 01 tháng đối với động sản; đối với
những lần bán tài sản tiếp theo thì thời hạn là 15 ngày, kể từ ngày được thông
báo hợp lệ.
Trong thời hạn 05 ngày
làm việc, kể từ ngày hết thời hạn ưu tiên mà chủ sở hữu chung không mua tài sản
thì tài sản được bán theo quy định tại Điều 101 của Luật này.
Điều 75. Giải quyết tranh
chấp, yêu cầu hủy giấy tờ, giao dịch liên quan đến tài sản thi hành án[57]
1. Trường hợp tài sản của
người phải thi hành án bị cưỡng chế để thi hành án mà có người khác tranh chấp
thì Chấp hành viên thông báo cho đương sự, người có tranh chấp về quyền của họ
được khởi kiện tại Tòa án hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết.
Trong thời hạn 30 ngày, kể
từ ngày được thông báo hợp lệ mà đương sự, người có tranh chấp khởi kiện tại
Tòa án hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết thì việc xử lý tài sản được
thực hiện theo quyết định của Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền.
Trong thời hạn 30 ngày, kể
từ ngày được thông báo hợp lệ mà đương sự, người có tranh chấp không khởi kiện
tại Tòa án hoặc không đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết thì Chấp hành
viên xử lý tài sản để thi hành án theo quy định của Luật này.
2. Trường hợp có căn cứ
xác định giao dịch liên quan đến tài sản thi hành án nhằm trốn tránh nghĩa vụ
thi hành án thì Chấp hành viên thông báo cho người được thi hành án để yêu cầu
Tòa án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền hủy giấy
tờ liên quan đến giao dịch đó.
Hết thời hạn 15 ngày, kể
từ ngày được thông báo mà người được thi hành án không yêu cầu thì Chấp hành
viên yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm
quyền hủy giấy tờ liên quan đến giao dịch đó.
3. Trường hợp Chấp hành
viên yêu cầu Tòa án giải quyết các việc quy định tại khoản 1 Điều 74 của Luật
này và khoản 1, khoản 2 Điều này để thi hành án thì không phải chịu án phí, lệ
phí Tòa án.
Mục 3. CƯỠNG CHẾ THI HÀNH
ĐỐI VỚI TÀI SẢN LÀ TIỀN
Điều 76. Khấu trừ tiền
trong tài khoản
1. Chấp hành viên ra quyết
định khấu trừ tiền trong tài khoản của người phải thi hành án. Số tiền khấu trừ
không được vượt quá nghĩa vụ thi hành án và chi phí cưỡng chế.
2. Ngay sau khi nhận được
quyết định về khấu trừ tiền trong tài khoản của người phải thi hành án, cơ
quan, tổ chức đang quản lý tài khoản phải khấu trừ tiền để chuyển vào tài khoản
của cơ quan thi hành án dân sự hoặc chuyển cho người được thi hành án theo quyết
định khấu trừ.
Điều 77. Chấm dứt phong tỏa
tài khoản
1. Việc phong tỏa tài khoản
được chấm dứt trong các trường hợp sau đây:
a) Người phải thi hành án
đã thi hành xong nghĩa vụ thi hành án;
b) Cơ quan, tổ chức đã thực
hiện xong yêu cầu của Chấp hành viên về khấu trừ tiền trong tài khoản của người
phải thi hành án;
c) Có quyết định đình chỉ
thi hành án theo quy định tại Điều 50 của Luật này.
2. Chấp hành viên ra quyết
định chấm dứt việc phong tỏa tài khoản ngay sau khi có căn cứ quy định tại khoản
1 Điều này.
Điều 78. Trừ vào thu nhập
của người phải thi hành án
1. Thu nhập của người phải
thi hành án gồm tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp mất sức lao
động và thu nhập hợp pháp khác.
2. Việc trừ vào thu nhập
của người phải thi hành án được thực hiện trong các trường hợp sau đây:
a) Theo thỏa thuận của
đương sự;
b) Bản án, quyết định ấn
định trừ vào thu nhập của người phải thi hành án;
c) Thi hành án cấp dưỡng,
thi hành án theo định kỳ, khoản tiền phải thi hành án không lớn hoặc tài sản
khác của người phải thi hành án không đủ để thi hành án.
3. Chấp hành viên ra quyết
định trừ vào thu nhập của người phải thi hành án. Mức cao nhất được trừ vào tiền
lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp mất sức lao động là 30% tổng số
tiền được nhận hàng tháng, trừ trường hợp đương sự có thỏa thuận khác. Đối với
thu nhập khác thì mức khấu trừ căn cứ vào thu nhập thực tế của người phải thi
hành án, nhưng phải đảm bảo điều kiện sinh hoạt tối thiểu của người đó và người
được nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật.
4. Cơ quan, tổ chức, người
sử dụng lao động, Bảo hiểm xã hội nơi người phải thi hành án nhận tiền lương,
tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp và các thu nhập hợp pháp khác có trách
nhiệm thực hiện quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này.
Điều 79. Thu tiền từ hoạt
động kinh doanh của người phải thi hành án
1. Trường hợp người phải
thi hành án có thu nhập từ hoạt động kinh doanh thì Chấp hành viên ra quyết định
thu tiền từ hoạt động kinh doanh của người đó để thi hành án.
Khi thu tiền, Chấp hành
viên phải để lại số tiền tối thiểu cho hoạt động kinh doanh và sinh hoạt của
người phải thi hành án và gia đình.
2. Chấp hành viên cấp
biên lai thu tiền cho người phải thi hành án.
Điều 80. Thu tiền của người
phải thi hành án đang giữ
Trường hợp phát hiện người
phải thi hành án đang giữ tiền mà có căn cứ xác định khoản tiền đó là của người
phải thi hành án thì Chấp hành viên ra quyết định thu tiền để thi hành án. Chấp
hành viên lập biên bản thu tiền và cấp biên lai cho người phải thi hành án. Trường
hợp người phải thi hành án không ký vào biên bản thì phải có chữ ký của người
làm chứng.
Điều 81. Thu tiền của người
phải thi hành án đang do người thứ ba giữ
Trường hợp phát hiện người
thứ ba đang giữ tiền của người phải thi hành án thì Chấp hành viên ra quyết định
thu khoản tiền đó để thi hành án. Người thứ ba đang giữ tiền của người phải thi
hành án có nghĩa vụ giao nộp tiền cho Chấp hành viên để thi hành án. Chấp hành
viên lập biên bản thu tiền, cấp biên lai cho người thứ ba đang giữ tiền và
thông báo cho người phải thi hành án. Trường hợp người thứ ba đang giữ tiền
không ký vào biên bản thì phải có chữ ký của người làm chứng.
Mục 4. CƯỠNG CHẾ ĐỐI VỚI
TÀI SẢN LÀ GIẤY TỜ CÓ GIÁ
Điều 82. Thu giữ giấy tờ
có giá
1. Trường hợp phát hiện
người phải thi hành án hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân đang giữ giấy tờ có giá của
người phải thi hành án thì Chấp hành viên ra quyết định thu giữ giấy tờ đó để
thi hành án.
2. Người phải thi hành án
hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân giữ giấy tờ có giá của người phải thi hành án phải
chuyển giao giấy tờ đó cho cơ quan thi hành án dân sự theo quy định của pháp luật.
Trường hợp người phải thi
hành án hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân giữ giấy tờ có giá không giao giấy tờ
cho cơ quan thi hành án dân sự thì Chấp hành viên yêu cầu cơ quan, tổ chức có
thẩm quyền chuyển giao giá trị của giấy tờ đó để thi hành án.
Điều 83. Bán giấy tờ có
giá
Việc bán giấy tờ có giá
được thực hiện theo quy định của pháp luật.
Mục 5. CƯỠNG CHẾ ĐỐI VỚI
TÀI SẢN LÀ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ
Điều 84. Kê biên, sử dụng,
khai thác quyền sở hữu trí tuệ
1. Chấp hành viên ra quyết
định kê biên quyền sở hữu trí tuệ thuộc quyền sở hữu của người phải thi hành
án.
Trường hợp người phải thi
hành án là chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ chuyển quyền sử dụng quyền sở hữu
trí tuệ cho cơ quan, tổ chức, cá nhân khác thì quyền sở hữu trí tuệ vẫn bị kê
biên.
2. Khi kê biên quyền sở hữu
trí tuệ của người phải thi hành án, tùy từng đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ,
Chấp hành viên thu giữ các giấy tờ có liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ của
người phải thi hành án.
3. Trường hợp nhằm bảo đảm
mục tiêu quốc phòng, an ninh, dân sinh và lợi ích của Nhà nước, xã hội quy định
tại Luật Sở hữu trí tuệ mà Nhà nước quyết định chủ sở hữu trí tuệ phải chuyển
giao quyền của mình cho cơ quan, tổ chức, cá nhân khác sử dụng trong thời gian
nhất định thì Chấp hành viên không được kê biên quyền sở hữu trí tuệ của người
phải thi hành án trong thời gian bắt buộc phải chuyển giao.
4. Chấp hành viên quyết định
giao cho cơ quan, tổ chức, cá nhân sử dụng, khai thác quyền sở hữu trí tuệ. Cơ
quan, tổ chức, cá nhân được giao sử dụng, khai thác quyền sở hữu trí tuệ phải nộp
số tiền thu được sau khi trừ các chi phí cần thiết cho cơ quan thi hành án dân
sự để thi hành án.
Trường hợp cần thiết, Chấp
hành viên yêu cầu tổ chức chuyên môn, nghề nghiệp về sở hữu trí tuệ thu và quản
lý thu nhập, lợi nhuận từ việc sử dụng, khai thác quyền sở hữu trí tuệ của người
phải thi hành án.
5. Trường hợp người phải
thi hành án đã chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ cho cơ quan, tổ chức, cá nhân
khác mà chưa được thanh toán hoặc mới được thanh toán một phần tiền thì Chấp hành
viên ra quyết định buộc cơ quan, tổ chức, cá nhân nhận chuyển giao nộp khoản tiền
chưa thanh toán để thi hành án.
Điều 85. Định giá quyền sở
hữu trí tuệ
1. Quyền sở hữu trí tuệ
được định giá theo quy định tại Điều 98 và Điều 99 của Luật này và pháp luật về
quyền sở hữu trí tuệ.
2. Chính phủ quy định
trình tự, thủ tục, phương pháp định giá và thẩm quyền định giá quyền sở hữu trí
tuệ.
Điều 86. Bán đấu giá quyền
sở hữu trí tuệ
1. Quyền sở hữu trí tuệ
được bán đấu giá theo quy định của pháp luật về bán đấu giá tài sản và pháp luật
về quyền sở hữu trí tuệ.
2. Chính phủ quy định
trình tự, thủ tục bán đấu giá và thẩm quyền bán đấu giá quyền sở hữu trí tuệ.
Mục 6. CƯỠNG CHẾ ĐỐI VỚI
TÀI SẢN LÀ VẬT
Điều 87. Tài sản không được
kê biên
1. Tài sản bị cấm lưu
thông theo quy định của pháp luật; tài sản phục vụ quốc phòng, an ninh, lợi ích
công cộng; tài sản do ngân sách nhà nước cấp cho cơ quan, tổ chức.
2. Tài sản sau đây của
người phải thi hành án là cá nhân:
a) Số lương thực đáp ứng
nhu cầu thiết yếu của người phải thi hành án và gia đình trong thời gian chưa
có thu nhập, thu hoạch mới;
b) Số thuốc cần dùng để
phòng, chữa bệnh của người phải thi hành án và gia đình;
c) Vật dụng cần thiết của
người tàn tật, vật dụng dùng để chăm sóc người ốm;
d) Đồ dùng thờ cúng thông
thường theo tập quán ở địa phương;
đ) Công cụ lao động cần
thiết, có giá trị không lớn được dùng làm phương tiện sinh sống chủ yếu hoặc
duy nhất của người phải thi hành án và gia đình;
e) Đồ dùng sinh hoạt cần
thiết cho người phải thi hành án và gia đình.
3. Tài sản sau đây của
người phải thi hành án là doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở sản xuất, kinh doanh,
dịch vụ:
a) Số thuốc phục vụ việc
phòng, chữa bệnh cho người lao động; lương thực, thực phẩm, dụng cụ và tài sản
khác phục vụ bữa ăn cho người lao động;
b) Nhà trẻ, trường học,
cơ sở y tế và thiết bị, phương tiện, tài sản khác thuộc các cơ sở này, nếu
không phải là tài sản để kinh doanh;
c) Trang thiết bị, phương
tiện, công cụ bảo đảm an toàn lao động, phòng, chống cháy nổ, phòng, chống ô
nhiễm môi trường.
Điều 88. Thực hiện việc
kê biên
1. Trước khi kê biên tài
sản là bất động sản ít nhất là 03 ngày làm việc, Chấp hành viên thông báo cho đại
diện chính quyền cấp xã hoặc đại diện tổ dân phố nơi tổ chức cưỡng chế, đương sự,
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về thời gian, địa điểm, tài sản kê biên,
trừ trường hợp cần ngăn chặn đương sự tẩu tán, hủy hoại tài sản, trốn tránh việc
thi hành án.
Trường hợp đương sự vắng
mặt thì có thể ủy quyền cho người khác thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình.
Trường hợp đã được thông báo hợp lệ mà đương sự hoặc người được ủy quyền vắng mặt
thì Chấp hành viên vẫn tiến hành việc kê biên, nhưng phải mời người làm chứng
và ghi rõ vào nội dung biên bản kê biên. Trường hợp không mời được người làm chứng
thì Chấp hành viên vẫn tiến hành việc kê biên nhưng phải ghi rõ vào nội dung
biên bản kê biên.
Khi kê biên đồ vật, nhà ở,
công trình kiến trúc nếu vắng mặt người phải thi hành án hoặc người đang quản
lý, sử dụng tài sản đó mà phải mở khóa, phá khóa, mở gói thì Chấp hành viên thực
hiện theo quy định tại Điều 93 của Luật này.
2. Việc kê biên tài sản
phải lập biên bản. Biên bản phải ghi rõ giờ, ngày, tháng, năm kê biên, họ, tên
Chấp hành viên, đương sự hoặc người được ủy quyền, người lập biên bản, người
làm chứng và người có liên quan đến tài sản; diễn biến của việc kê biên; mô tả
tình trạng từng tài sản, yêu cầu của đương sự và ý kiến của người làm chứng.
Biên bản kê biên có chữ
ký của đương sự hoặc người được ủy quyền, người làm chứng, đại diện chính quyền
cấp xã hoặc đại diện tổ dân phố nơi tổ chức cưỡng chế, Chấp hành viên và người
lập biên bản.
Điều 89. Kê biên tài sản
là quyền sử dụng đất, tài sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc đăng ký giao dịch
bảo đảm
1. Trước khi kê biên tài
sản là quyền sử dụng đất, tài sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc đăng ký giao dịch
bảo đảm theo quy định của pháp luật, Chấp hành viên yêu cầu cơ quan đăng ký
cung cấp thông tin về tài sản, giao dịch đã đăng ký.
2. Sau khi kê biên, Chấp
hành viên thông báo bằng văn bản cho cơ quan đăng ký về việc kê biên tài sản đó
để xử lý theo quy định tại khoản 1 Điều 178 của Luật này.
Điều 90. Kê biên, xử lý
tài sản đang cầm cố, thế chấp
1. Trường hợp người phải
thi hành án không còn tài sản nào khác hoặc có tài sản nhưng không đủ để thi
hành án, Chấp hành viên có quyền kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành
án đang cầm cố, thế chấp nếu giá trị của tài sản đó lớn hơn nghĩa vụ được bảo đảm
và chi phí cưỡng chế thi hành án.
2. Khi kê biên tài sản
đang cầm cố, thế chấp, Chấp hành viên phải thông báo ngay cho người nhận cầm cố,
nhận thế chấp; khi xử lý tài sản kê biên, người nhận cầm cố, nhận thế chấp được
ưu tiên thanh toán theo quy định tại khoản 3 Điều 47 của Luật này.
Điều 91. Kê biên tài sản
của người phải thi hành án đang do người thứ ba giữ
Trường hợp xác định người
thứ ba đang giữ tài sản của người phải thi hành án, kể cả trường hợp tài sản được
xác định bằng bản án, quyết định khác thì Chấp hành viên ra quyết định kê biên
tài sản đó để thi hành án; trường hợp người thứ ba không tự nguyện giao tài sản
thì Chấp hành viên cưỡng chế buộc họ phải giao tài sản để thi hành án.
Trường hợp tài sản kê
biên đang cho thuê thì người thuê được tiếp tục thuê theo hợp đồng đã giao kết.
Điều 92. Kê biên vốn góp
1. Chấp hành viên yêu cầu
cá nhân, cơ quan, tổ chức nơi người phải thi hành án có vốn góp cung cấp thông
tin về phần vốn góp của người phải thi hành án để kê biên phần vốn góp đó.
Trong trường hợp cần thiết, Chấp hành viên yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xác định
phần vốn góp của người phải thi hành án; trưng cầu tổ chức, cá nhân có chuyên
môn xác định phần giá trị vốn góp của người phải thi hành án để cưỡng chế thi
hành án.
2. Đương sự có quyền yêu
cầu Tòa án xác định phần vốn góp của người phải thi hành án.
Điều 93. Kê biên đồ vật bị
khóa, đóng gói
Khi kê biên đồ vật đang bị
khoá hoặc đóng gói thì Chấp hành viên yêu cầu người phải thi hành án, người
đang sử dụng, quản lý đồ vật mở khoá, mở gói; nếu họ không mở hoặc cố tình vắng
mặt thì Chấp hành viên tự mình hoặc có thể thuê cá nhân, tổ chức khác mở khóa,
phá khóa hoặc mở gói, trong trường hợp này phải có người làm chứng. Người phải
thi hành án phải chịu thiệt hại do việc mở khóa, phá khóa, mở gói.
Trường hợp cần thiết, sau
khi mở khóa, phá khóa, mở gói, Chấp hành viên niêm phong đồ vật và giao bảo quản
theo quy định tại Điều 58 của Luật này.
Việc mở khóa, phá khóa, mở
gói hoặc niêm phong phải lập biên bản, có chữ ký của những người tham gia và
người làm chứng.
Điều 94. Kê biên tài sản
gắn liền với đất
Khi kê biên tài sản là
công trình xây dựng gắn liền với đất phải kê biên cả quyền sử dụng đất, trừ trường
hợp quyền sử dụng đất không được kê biên theo quy định của pháp luật hoặc việc
tách rời tài sản kê biên và đất không làm giảm đáng kể giá trị tài sản đó.
Điều 95. Kê biên nhà ở
1. Việc kê biên nhà ở là
nơi ở duy nhất của người phải thi hành án và gia đình chỉ được thực hiện sau
khi xác định người đó không có các tài sản khác hoặc có nhưng không đủ để thi
hành án, trừ trường hợp người phải thi hành án đồng ý kê biên nhà ở để thi hành
án.
2. Khi kê biên nhà ở phải
kê biên cả quyền sử dụng đất gắn liền với nhà ở. Trường hợp nhà ở gắn liền với
đất thuộc quyền sử dụng của người khác thì Chấp hành viên chỉ kê biên nhà ở và
quyền sử dụng đất để thi hành án nếu người có quyền sử dụng đất đồng ý. Trường
hợp người có quyền sử dụng đất không đồng ý thì chỉ kê biên nhà ở của người phải
thi hành án, nếu việc tách rời nhà ở và đất không làm giảm đáng kể giá trị căn
nhà.
3. Khi kê biên nhà ở của
người phải thi hành án đang cho thuê, cho ở nhờ thì Chấp hành viên phải thông
báo ngay cho người đang thuê, đang ở nhờ biết.
Trường hợp tài sản kê
biên là nhà ở, cửa hàng đang cho thuê được bán đấu giá mà thời hạn thuê hoặc thời
hạn lưu cư vẫn còn thì người thuê có quyền tiếp tục được thuê hoặc lưu cư theo
quy định của Bộ luật Dân sự.
4. Việc kê biên nhà ở bị
khóa được thực hiện theo quy định tại Điều 93 của Luật này.
Điều 96. Kê biên phương
tiện giao thông
1. Trường hợp kê biên
phương tiện giao thông của người phải thi hành án, Chấp hành viên yêu cầu người
phải thi hành án, người đang quản lý, sử dụng phương tiện đó phải giao giấy
đăng ký phương tiện đó, nếu có.
2. Đối với phương tiện
giao thông đang được khai thác sử dụng thì sau khi kê biên Chấp hành viên có thể
thu giữ hoặc giao cho người phải thi hành án, người đang quản lý, sử dụng tiếp
tục khai thác sử dụng, bảo quản nhưng không được chuyển nhượng, cầm cố, thế chấp.
Trường hợp giao cho người
phải thi hành án, người đang quản lý, sử dụng tiếp tục khai thác sử dụng phương
tiện giao thông thì Chấp hành viên cấp cho người đó biên bản thu giữ giấy đăng
ký để phương tiện được phép tham gia giao thông.
3. Chấp hành viên có quyền
yêu cầu cơ quan có thẩm quyền cấm chuyển nhượng, cầm cố, thế chấp, cho thuê hoặc
hạn chế giao thông đối với phương tiện bị kê biên.
4. Việc kê biên đối với
tàu bay, tàu biển để thi hành án được thực hiện theo quy định của pháp luật về
bắt giữ tàu bay, tàu biển.
Điều 97. Kê biên hoa lợi
Trường hợp người phải thi
hành án có tài sản mang lại hoa lợi, Chấp hành viên kê biên hoa lợi đó để bảo đảm
thi hành án. Đối với hoa lợi là lương thực, thực phẩm thì khi kê biên, Chấp
hành viên phải để lại một phần để người phải thi hành án và gia đình họ sinh sống
theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 87 của Luật này.
Điều 98. Định giá tài sản
kê biên
1. Ngay khi kê biên tài sản
mà đương sự thỏa thuận được về giá tài sản hoặc về tổ chức thẩm định giá thì Chấp
hành viên lập biên bản về thỏa thuận đó. Giá tài sản do đương sự thỏa thuận là
giá khởi điểm để bán đấu giá. Trường hợp đương sự có thỏa thuận về tổ chức thẩm
định giá thì Chấp hành viên ký hợp đồng dịch vụ với tổ chức thẩm định giá đó.
2. Trong thời hạn 05 ngày
làm việc, kể từ ngày kê biên tài sản, Chấp hành viên ký hợp đồng dịch vụ với tổ
chức thẩm định giá trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi có
tài sản kê biên trong các trường hợp sau đây:
a) Đương sự không thỏa
thuận được về giá và không thỏa thuận được việc lựa chọn tổ chức thẩm định giá;
b) Tổ chức thẩm định giá
do đương sự lựa chọn từ chối việc ký hợp đồng dịch vụ;
c) Thi hành phần bản án,
quyết định quy định tại khoản 1 Điều 36 của Luật này.
3. Chấp hành viên xác định
giá trong các trường hợp sau đây:
a) Không thực hiện được
việc ký hợp đồng dịch vụ quy định tại khoản 2 Điều này;
b) Tài sản kê biên thuộc
loại tươi sống, mau hỏng hoặc có giá trị nhỏ mà đương sự không thỏa thuận được
với nhau về giá. Chính phủ quy định về tài sản có giá trị nhỏ.
Điều 99. Định giá lại tài
sản kê biên
1. Việc định giá lại tài
sản kê biên được thực hiện trong các trường hợp sau đây:
a) Chấp hành viên có vi
phạm nghiêm trọng quy định tại Điều 98 của Luật này dẫn đến sai lệch kết quả định
giá tài sản;
b)[58] Đương sự có yêu cầu
định giá lại trước khi có thông báo công khai về việc bán đấu giá tài sản. Yêu
cầu định giá lại chỉ được thực hiện một lần và chỉ được chấp nhận nếu đương sự
có đơn yêu cầu trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo
về kết quả thẩm định giá và phải nộp ngay tạm ứng chi phí định giá lại tài sản.
2. Việc định giá lại tài
sản kê biên được thực hiện theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 98 của Luật
này.
3.[59] Giá thẩm định lại
được lấy làm giá khởi điểm để bán đấu giá theo quy định.
Điều 100. Giao tài sản để
thi hành án
1. Trường hợp đương sự thỏa
thuận để người được thi hành án nhận tài sản đã kê biên để trừ vào số tiền được
thi hành án thì Chấp hành viên lập biên bản về việc thỏa thuận.
Trường hợp có nhiều người
được thi hành án thì người nhận tài sản phải được sự đồng ý của những người được
thi hành án khác và phải thanh toán lại cho những người được thi hành án khác số
tiền tương ứng tỷ lệ giá trị mà họ được hưởng.
2. Việc giao tài sản để
trừ vào số tiền được thi hành án được thực hiện trong thời hạn 05 ngày làm việc,
kể từ ngày có thỏa thuận.
Điều 101. Bán tài sản đã
kê biên
1. Tài sản đã kê biên được
bán theo các hình thức sau đây:
a) Bán đấu giá;
b) Bán không qua thủ tục
đấu giá.
2. Việc bán đấu giá đối với
tài sản kê biên là động sản có giá trị từ trên 10.000.000 đồng và bất động sản
do tổ chức bán đấu giá thực hiện.
Đương sự có quyền thỏa
thuận về tổ chức bán đấu giá trong thời hạn không quá 05 ngày làm việc, kể từ
ngày định giá. Chấp hành viên ký hợp đồng dịch vụ bán đấu giá tài sản với tổ chức
bán đấu giá do đương sự thỏa thuận. Trường hợp đương sự không thỏa thuận được
thì Chấp hành viên lựa chọn tổ chức bán đấu giá để ký hợp đồng dịch vụ bán đấu
giá tài sản.
Việc ký hợp đồng dịch vụ
bán đấu giá tài sản được tiến hành trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày định giá.
Việc bán đấu giá đối với
động sản phải được thực hiện trong thời hạn là 30 ngày, đối với bất động sản là
45 ngày, kể từ ngày ký hợp đồng.
3. Chấp hành viên bán đấu
giá tài sản kê biên trong các trường hợp sau đây:
a) Tại tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương nơi có tài sản chưa có tổ chức bán đấu giá hoặc có nhưng tổ chức
bán đấu giá từ chối ký hợp đồng dịch vụ bán đấu giá tài sản;
b) Động sản có giá trị từ
2.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.
Việc bán đấu giá đối với
động sản phải được thực hiện trong thời hạn là 30 ngày, đối với bất động sản là
45 ngày, kể từ ngày định giá hoặc từ ngày nhận được văn bản của tổ chức bán đấu
giá từ chối bán đấu giá.
4. Chấp hành viên bán
không qua thủ tục bán đấu giá đối với tài sản có giá trị dưới 2.000.000 đồng hoặc
tài sản tươi sống, mau hỏng.
Việc bán tài sản phải được
thực hiện trong thời hạn không quá 05 ngày làm việc, kể từ ngày kê biên.
5. Trước khi mở cuộc bán
đấu giá 01 ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu
nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh
từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức bán đấu giá.
Người phải thi hành án có
trách nhiệm hoàn trả phí tổn thực tế, hợp lý cho người đăng ký mua tài sản. Mức
phí tổn do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải
quyết.
6. Thủ tục bán đấu giá được
thực hiện theo quy định của pháp luật về bán đấu giá tài sản.
Điều 102. Hủy kết quả bán
đấu giá tài sản[60]
1. Việc hủy kết quả bán đấu
giá tài sản được thực hiện theo quy định của pháp luật về bán đấu giá tài sản;
trường hợp kết quả bán đấu giá tài sản bị hủy thì việc xử lý tài sản để thi
hành án được thực hiện theo quy định của Luật này.
2. Người mua được tài sản
bán đấu giá, Chấp hành viên có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh
chấp về kết quả bán đấu giá tài sản, nếu có căn cứ chứng minh có vi phạm trong
quá trình bán đấu giá tài sản.
3. Việc xử lý hậu quả và
bồi thường thiệt hại do kết quả bán đấu giá tài sản bị hủy được giải quyết theo
quy định của pháp luật.
Điều 103. Bảo vệ quyền của
người mua tài sản bán đấu giá, người nhận tài sản để thi hành án[61]
1. Người mua được tài sản
bán đấu giá, người nhận tài sản để thi hành án được bảo vệ quyền sở hữu, sử dụng
đối với tài sản đó.
2. Trường hợp người mua
được tài sản bán đấu giá đã nộp đủ tiền mua tài sản bán đấu giá nhưng bản án,
quyết định bị kháng nghị, sửa đổi hoặc bị hủy thì cơ quan thi hành án dân sự tiếp
tục giao tài sản, kể cả thực hiện việc cưỡng chế thi hành án để giao tài sản
cho người mua được tài sản bán đấu giá, trừ trường hợp kết quả bán đấu giá bị hủy
theo quy định của pháp luật hoặc đương sự có thỏa thuận khác.
3. Việc cưỡng chế giao
tài sản cho người mua được tài sản bán đấu giá, người nhận tài sản để thi hành
án thực hiện theo quy định tại các điều 114, 115, 116 và 117 của Luật này.
Điều 104. Xử lý tài sản
không có người tham gia đấu giá, bán đấu giá không thành[62]
1. Trong thời hạn 05 ngày
làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo của tổ chức bán đấu giá về việc tài sản
đưa ra bán đấu giá lần đầu nhưng không có người tham gia đấu giá, trả giá hoặc
bán đấu giá không thành thì Chấp hành viên thông báo và yêu cầu đương sự thỏa
thuận về mức giảm giá tài sản.
Trong thời hạn 10 ngày, kể
từ ngày nhận được thông báo, nếu đương sự không thỏa thuận hoặc thỏa thuận
không được về mức giảm giá thì Chấp hành viên quyết định giảm giá tài sản để tiếp
tục bán đấu giá.
2. Từ sau lần giảm giá thứ
hai trở đi mà không có người tham gia đấu giá, trả giá hoặc bán đấu giá không
thành thì người được thi hành án có quyền nhận tài sản để trừ vào số tiền được
thi hành án.
Trường hợp người được thi
hành án đồng ý nhận tài sản để trừ vào số tiền được thi hành án, trong thời hạn
10 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo về việc không có người tham gia đấu
giá, trả giá hoặc bán đấu giá không thành thì Chấp hành viên thông báo cho người
phải thi hành án biết.
Trong thời hạn 30 ngày, kể
từ ngày người phải thi hành án nhận được thông báo về việc người được thi hành
án đồng ý nhận tài sản để thi hành án, nếu người phải thi hành án không nộp đủ
số tiền thi hành án và chi phí thi hành án để lấy lại tài sản đưa ra bán đấu
giá thì Chấp hành viên giao tài sản cho người được thi hành án. Đối với tài sản
là bất động sản, động sản phải đăng ký quyền sở hữu, sử dụng thì Chấp hành viên
ra quyết định giao tài sản cho người được thi hành án để làm thủ tục đăng ký, cấp
giấy chứng nhận quyền sở hữu, sử dụng tài sản đó cho người được thi hành án.
Người phải thi hành án, người đang quản lý, sử dụng tài sản không tự nguyện
giao tài sản cho người được thi hành án thì bị cưỡng chế thi hành án.
3. Trường hợp người được
thi hành án không đồng ý nhận tài sản để thi hành án thì Chấp hành viên ra quyết
định giảm giá tài sản để tiếp tục bán đấu giá. Nếu giá trị tài sản đã giảm bằng
hoặc thấp hơn chi phí cưỡng chế mà người được thi hành án vẫn không nhận để trừ
vào số tiền được thi hành án thì tài sản được giao lại cho người phải thi hành
án quản lý, sử dụng. Người phải thi hành án không được đưa tài sản này tham gia
các giao dịch dân sự cho đến khi họ thực hiện xong nghĩa vụ thi hành án.
4. Đối với tài sản bán đấu
giá để thi hành các khoản nộp ngân sách nhà nước, trong thời hạn 10 ngày, kể từ
ngày nhận được thông báo về việc tài sản đưa ra bán đấu giá nhưng không có người
tham gia đấu giá, trả giá hoặc bán đấu giá không thành thì Chấp hành viên quyết
định giảm giá để tiếp tục bán đấu giá tài sản.
5. Mỗi lần giảm giá theo
quy định tại các khoản 1, 3 và 4 Điều này không quá 10% giá khởi điểm của lần
bán đấu giá liền kề trước đó.
Điều 105. Giải tỏa kê
biên tài sản
1. Việc giải tỏa kê biên
tài sản được thực hiện trong các trường hợp sau đây:
a) Đương sự thỏa thuận về
việc giải tỏa kê biên tài sản mà không ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của
người thứ ba;
b) Đương sự đã thực hiện
xong nghĩa vụ thi hành án và các chi phí thi hành án theo quy định của Luật
này;
c) Có quyết định của người
có thẩm quyền hủy bỏ quyết định kê biên tài sản;
d) Có quyết định đình chỉ
thi hành án theo quy định tại Điều 50 của Luật này.
2. Chấp hành viên ra quyết
định giải tỏa kê biên và trả lại tài sản cho người phải thi hành án trong thời
hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày có căn cứ quy định tại khoản 1 Điều này.
Điều 106. Đăng ký, chuyển
quyền sở hữu, sử dụng tài sản
1. Người mua được tài sản
thi hành án, người nhận tài sản để trừ vào số tiền được thi hành án được pháp
luật công nhận và bảo vệ quyền sở hữu, sử dụng đối với tài sản đó.
2. Cơ quan nhà nước có thẩm
quyền có trách nhiệm làm thủ tục đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng cho người
mua, người nhận tài sản để trừ vào số tiền được thi hành án. Cơ quan thi hành
án dân sự có trách nhiệm cung cấp đầy đủ những văn bản, giấy tờ quy định tại
khoản 3 Điều này cho người mua tài sản thi hành án, người nhận tài sản để trừ
vào số tiền được thi hành án.
3.[63] Hồ sơ đăng ký chuyển
quyền sở hữu, sử dụng gồm có:
a) Văn bản đề nghị của cơ
quan thi hành án dân sự;
b) Bản sao bản án, quyết
định;
c) Quyết định thi hành
án;
d) Quyết định kê biên tài
sản, nếu có;
đ) Văn bản bán đấu giá
thành hoặc quyết định giao tài sản, biên bản giao nhận tài sản để thi hành án;
e) Giấy tờ khác có liên
quan đến tài sản.
4.[64] Trường hợp tài sản
là quyền sử dụng đất, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất mà không có hoặc
không thu hồi được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài
sản khác gắn liền với đất thì cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm cấp Giấy chứng
nhận theo quy định của Chính phủ.
5.[65] Đối với tài sản
không thuộc trường hợp quy định tại khoản 4 Điều này mà không có giấy tờ đăng
ký hoặc không thu hồi được giấy tờ đăng ký thì cơ quan có thẩm quyền đăng ký có
trách nhiệm cấp giấy chứng nhận đăng ký quyền sở hữu, sử dụng tài sản.
6.[66] Giấy tờ được cấp mới
thay thế cho giấy tờ không thu hồi được. Giấy tờ không thu hồi được không còn
giá trị.
Mục 7. CƯỠNG CHẾ KHAI
THÁC ĐỐI VỚI TÀI SẢN
Điều 107. Cưỡng chế khai
thác đối với tài sản để thi hành án
1. Chấp hành viên cưỡng
chế khai thác tài sản của người phải thi hành án trong các trường hợp sau đây:
a) Tài sản của người phải
thi hành án có giá trị quá lớn so với nghĩa vụ phải thi hành và tài sản đó có
thể khai thác để thi hành án;
b) Người được thi hành án
đồng ý cưỡng chế khai thác tài sản để thi hành án nếu việc khai thác tài sản
không ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba.
2. Chấp hành viên phải ra
quyết định cưỡng chế khai thác tài sản. Quyết định ghi rõ hình thức khai thác;
số tiền, thời hạn, thời điểm, địa điểm, phương thức nộp tiền cho cơ quan thi
hành án dân sự để thi hành án.
Quyết định cưỡng chế khai
thác tài sản phải được gửi ngay cho cơ quan có thẩm quyền quản lý, đăng ký đối
với tài sản đó và Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có tài sản.
Việc thực hiện giao dịch,
chuyển giao quyền sở hữu tài sản đối với tài sản đang khai thác phải được sự đồng
ý của Chấp hành viên.
Điều 108. Hình thức cưỡng
chế khai thác tài sản để thi hành án
Tài sản của người phải
thi hành án bị cưỡng chế khai thác để thi hành án theo các hình thức sau đây:
1. Tài sản mà người phải
thi hành án đang trực tiếp khai thác hoặc cho người khác khai thác thì người
đang khai thác được tiếp tục khai thác.
Trường hợp tài sản, bao gồm
cả quyền sử dụng đất mà chưa khai thác thì Chấp hành viên yêu cầu người phải
thi hành án ký hợp đồng khai thác tài sản với tổ chức, cá nhân có nhu cầu khai
thác tài sản.
2. Người khai thác tài sản
quy định tại khoản 1 Điều này phải nộp số tiền thu được từ việc khai thác tài sản
cho cơ quan thi hành án dân sự, sau khi trừ các chi phí cần thiết.
3. Trong thời hạn 30
ngày, kể từ ngày yêu cầu mà người phải thi hành án không ký hợp đồng khai thác
với người khác thì Chấp hành viên kê biên, xử lý tài sản đó để thi hành án.
Điều 109. Chấm dứt việc
cưỡng chế khai thác tài sản
1. Chấp hành viên ra quyết
định chấm dứt việc cưỡng chế khai thác tài sản trong các trường hợp sau đây:
a) Việc khai thác tài sản
không hiệu quả hoặc làm cản trở đến việc thi hành án;
b) Người phải thi hành
án, người khai thác tài sản thực hiện không đúng yêu cầu của Chấp hành viên về
việc khai thác tài sản;
c) Người phải thi hành án
đã thực hiện xong nghĩa vụ thi hành án và các chi phí về thi hành án;
d) Có quyết định đình chỉ
thi hành án.
2. Trường hợp việc cưỡng
chế khai thác tài sản chấm dứt theo quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều
này thì Chấp hành viên tiếp tục kê biên và xử lý tài sản đó để thi hành án.
Trường hợp việc cưỡng chế
khai thác tài sản chấm dứt theo quy định tại điểm c và điểm d khoản 1 Điều này
thì trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày có quyết định, Chấp hành viên
ra quyết định giải tỏa việc cưỡng chế khai thác tài sản và trả lại tài sản cho
người phải thi hành án.
Mục 8. CƯỠNG CHẾ ĐỐI VỚI
TÀI SẢN LÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
Điều 110. Quyền sử dụng đất
được kê biên, bán đấu giá để thi hành án
1. Chấp hành viên chỉ kê
biên quyền sử dụng đất của người phải thi hành án thuộc trường hợp được chuyển
quyền sử dụng theo quy định của pháp luật về đất đai.
2. Người phải thi hành án
chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà thuộc trường hợp được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai hoặc thuộc
diện quy hoạch phải thu hồi đất, nhưng chưa có quyết định thu hồi đất thì vẫn
được kê biên, xử lý quyền sử dụng đất đó.
Điều 111. Kê biên quyền sử
dụng đất
1. Khi kê biên quyền sử dụng
đất, Chấp hành viên yêu cầu người phải thi hành án, người đang quản lý giấy tờ
về quyền sử dụng đất phải nộp các giấy tờ đó cho cơ quan thi hành án dân sự.
2. Khi kê biên quyền sử dụng
đất có tài sản gắn liền với đất thuộc quyền sở hữu của người phải thi hành án
thì kê biên cả quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất.
Trường hợp đất của người
phải thi hành án có tài sản gắn liền với đất mà tài sản đó thuộc quyền sở hữu của
người khác thì Chấp hành viên chỉ kê biên quyền sử dụng đất và thông báo cho
người có tài sản gắn liền với đất.
3. Việc kê biên quyền sử
dụng đất phải lập biên bản ghi rõ vị trí, diện tích, ranh giới thửa đất được kê
biên, có chữ ký của những người tham gia kê biên.
Điều 112. Tạm giao quản
lý, khai thác, sử dụng diện tích đất đã kê biên
1. Trường hợp diện tích đất
đã kê biên đang do người phải thi hành án quản lý, khai thác, sử dụng thì Chấp
hành viên tạm giao diện tích đất đã kê biên cho người đó.
Trường hợp diện tích đất
đã kê biên đang do tổ chức hoặc cá nhân khác quản lý, khai thác, sử dụng thì tạm
giao cho tổ chức, cá nhân đó.
2. Trường hợp người phải
thi hành án hoặc tổ chức, cá nhân quy định tại khoản 1 Điều này không nhận thì
Chấp hành viên tạm giao diện tích đất đã kê biên cho tổ chức, cá nhân khác quản
lý, khai thác, sử dụng. Trường hợp không có tổ chức, cá nhân nào nhận thì cơ
quan thi hành án dân sự tiến hành ngay việc định giá và bán đấu giá theo quy định
của pháp luật.
3. Việc tạm giao quản lý,
khai thác, sử dụng đất đã kê biên phải được lập biên bản, trong đó ghi rõ:
a) Diện tích, loại đất, vị
trí, số thửa đất, số bản đồ;
b) Hiện trạng sử dụng đất;
c) Thời hạn tạm giao quản
lý, khai thác, sử dụng đất;
d) Quyền và nghĩa vụ cụ
thể của người được tạm giao quản lý, khai thác, sử dụng đất.
4. Trong thời hạn tạm
giao quản lý, khai thác, sử dụng đất đã kê biên, người được tạm giao không được
chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, để thừa kế, thế chấp,
hoặc góp vốn bằng quyền sử dụng đất; không được làm thay đổi hiện trạng sử dụng
đất; không được sử dụng đất trái mục đích.
Điều 113. Xử lý tài sản gắn
liền với đất đã kê biên
1. Trường hợp tài sản gắn
liền với đất đã kê biên thuộc sở hữu của người khác thì xử lý như sau:
a) Đối với tài sản có trước
khi người phải thi hành án nhận được quyết định thi hành án thì Chấp hành viên
yêu cầu người có tài sản tự nguyện di chuyển tài sản để trả quyền sử dụng đất
cho người phải thi hành án. Trường hợp người có tài sản không tự nguyện di chuyển
tài sản thì Chấp hành viên hướng dẫn cho người có tài sản và người phải thi
hành án thỏa thuận bằng văn bản về phương thức giải quyết tài sản. Trong thời hạn
15 ngày, kể từ ngày hướng dẫn mà họ không thỏa thuận được thì Chấp hành viên xử
lý tài sản đó cùng với quyền sử dụng đất để bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của
người phải thi hành án và người có tài sản gắn liền với đất.
Trường hợp người có tài sản
là người thuê đất hoặc nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất của người phải thi
hành án mà không hình thành pháp nhân mới thì người có tài sản được quyền tiếp
tục ký hợp đồng thuê đất, hợp đồng góp vốn bằng quyền sử dụng đất với người
trúng đấu giá, người nhận quyền sử dụng đất trong thời hạn còn lại của hợp đồng
mà họ đã ký kết với người phải thi hành án. Trường hợp này, trước khi xử lý quyền
sử dụng đất, Chấp hành viên có trách nhiệm thông báo cho người tham gia đấu
giá, người được đề nghị nhận quyền sử dụng đất về quyền được tiếp tục ký hợp đồng
của người có tài sản gắn liền với đất;
b) Đối với tài sản có sau
khi người phải thi hành án nhận được quyết định thi hành án thì Chấp hành viên
yêu cầu người có tài sản tự nguyện di chuyển tài sản để trả lại quyền sử dụng đất
cho người phải thi hành án. Sau thời hạn 15 ngày, kể từ ngày yêu cầu, mà người
có tài sản không di chuyển tài sản hoặc tài sản không thể di chuyển được thì Chấp
hành viên xử lý tài sản đó cùng với quyền sử dụng đất.
Đối với tài sản có sau
khi kê biên, nếu người có tài sản không di chuyển tài sản hoặc tài sản không thể
di chuyển được thì tài sản phải bị tháo dỡ. Chấp hành viên tổ chức việc tháo dỡ
tài sản, trừ trường hợp người nhận quyền sử dụng đất hoặc người trúng đấu giá
quyền sử dụng đất đồng ý mua tài sản;
c) Người có tài sản gắn
liền với đất của người phải thi hành án được hoàn trả tiền bán tài sản, nhận lại
tài sản, nếu tài sản bị tháo dỡ nhưng phải chịu các chi phí về kê biên, định
giá, bán đấu giá, tháo dỡ tài sản.
2. Trường hợp tài sản thuộc
sở hữu của người phải thi hành án gắn liền với quyền sử dụng đất đã kê biên thì
Chấp hành viên xử lý tài sản cùng với quyền sử dụng đất.
3. Đối với tài sản là cây
trồng, vật nuôi ngắn ngày chưa đến mùa thu hoạch hoặc tài sản đang trong quy
trình sản xuất khép kín chưa kết thúc thì sau khi kê biên, Chấp hành viên chỉ
tiến hành xử lý khi đến mùa thu hoạch hoặc khi kết thúc quy trình sản xuất khép
kín.
Mục 9. CƯỠNG CHẾ TRẢ VẬT,
GIẤY TỜ, CHUYỂN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
Điều 114. Thủ tục cưỡng
chế trả vật
1. Đối với vật đặc định,
việc cưỡng chế được thực hiện như sau:
a) Chấp hành viên yêu cầu
người phải thi hành án, người đang quản lý, sử dụng trả vật cho người được thi
hành án; nếu người đó không thi hành thì Chấp hành viên thu hồi vật để trả cho
người được thi hành án;
b) Trường hợp vật phải trả
giảm giá trị mà người được thi hành án không đồng ý nhận thì Chấp hành viên hướng
dẫn đương sự thỏa thuận việc thi hành án. Việc thi hành án được thực hiện theo
thỏa thuận.
Trường hợp đương sự không
thỏa thuận được thì Chấp hành viên cưỡng chế trả vật cho người được thi hành
án. Đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết về thiệt hại do vật
phải trả bị giảm giá trị;
c)[67] Trường hợp vật
không còn hoặc bị hư hỏng đến mức không sử dụng được mà đương sự có thỏa thuận
khác về việc thi hành án thì Chấp hành viên thi hành theo thỏa thuận.
Trường hợp đương sự không
thỏa thuận được thì có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết về thiệt hại
do vật phải trả không còn hoặc hư hỏng đến mức không sử dụng được.
2. Đối với vật cùng loại
thì Chấp hành viên thực hiện việc cưỡng chế theo nội dung bản án, quyết định.
Trường hợp vật phải trả
không còn hoặc hư hỏng, giảm giá trị thì Chấp hành viên yêu cầu người phải thi
hành án trả vật cùng loại hoặc thanh toán giá trị của vật cùng loại, trừ trường
hợp đương sự có thỏa thuận khác.
3. Trường hợp người phải
thi hành án, người đang quản lý, sử dụng vật phải trả có thể tẩu tán, hủy hoại
vật đó thì Chấp hành viên có quyền áp dụng ngay biện pháp bảo đảm thi hành án
quy định tại Điều 68 của Luật này.
Điều 115. Cưỡng chế trả
nhà, giao nhà
1. Trường hợp người phải
thi hành án có nghĩa vụ trả nhà thì Chấp hành viên buộc người phải thi hành án
và những người khác có mặt trong nhà ra khỏi nhà, đồng thời yêu cầu họ tự chuyển
tài sản ra khỏi nhà; nếu họ không tự nguyện thực hiện thì Chấp hành viên yêu cầu
lực lượng cưỡng chế đưa họ cùng tài sản ra khỏi nhà.
Trường hợp họ từ chối nhận
tài sản, Chấp hành viên phải lập biên bản ghi rõ số lượng, chủng loại, tình trạng
từng loại tài sản và giao tài sản cho tổ chức, cá nhân có điều kiện bảo quản hoặc
bảo quản tại kho của cơ quan thi hành án dân sự và thông báo địa điểm, thời
gian để người có tài sản nhận lại tài sản.
2. Trường hợp người phải
thi hành án cố tình vắng mặt mặc dù đã được thông báo quyết định cưỡng chế thì
Chấp hành viên thực hiện việc cưỡng chế theo quy định tại khoản 1 Điều này.
3. Hết thời hạn 03 tháng,
kể từ ngày thông báo theo quy định tại khoản 1 Điều này mà người có tài sản bảo
quản không đến nhận thì tài sản đó được xử lý theo quy định tại khoản 2 Điều
126 của Luật này, trừ trường hợp có lý do chính đáng.
4. Việc cưỡng chế để trả
lại công trình xây dựng, vật kiến trúc theo bản án, quyết định được thực hiện
theo quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này.
5. Trường hợp cưỡng chế
giao nhà là nhà ở duy nhất của người phải thi hành án cho người mua được tài sản
bán đấu giá, nếu xét thấy sau khi thanh toán các khoản nghĩa vụ thi hành án mà
người phải thi hành án không còn đủ tiền để thuê nhà hoặc tạo lập nơi ở mới thì
trước khi làm thủ tục chi trả cho người được thi hành án, Chấp hành viên trích
lại từ số tiền bán tài sản một khoản tiền để người phải thi hành án thuê nhà
phù hợp với giá thuê nhà trung bình tại địa phương trong thời hạn 01 năm. Nghĩa
vụ thi hành án còn lại được tiếp tục thực hiện theo quy định của Luật này.
Điều 116. Cưỡng chế giao,
trả giấy tờ[68]
1. Trường hợp người phải
thi hành án không giao, trả giấy tờ cho người được thi hành án theo nội dung bản
án, quyết định thì Chấp hành viên cưỡng chế buộc người phải thi hành án giao,
trả giấy tờ đó.
Trường hợp xác định người
thứ ba đang giữ giấy tờ phải giao, trả thì Chấp hành viên yêu cầu người đó
giao, trả giấy tờ đang giữ, nếu người thứ ba không tự nguyện giao, trả thì Chấp
hành viên cưỡng chế buộc người đó giao, trả giấy tờ để thi hành án.
2. Trường hợp giấy tờ
không thể thu hồi được nhưng có thể cấp lại thì Chấp hành viên yêu cầu cơ quan,
tổ chức có thẩm quyền ra quyết định hủy giấy tờ đó và cấp giấy tờ mới cho người
được thi hành án, người trúng đấu giá tài sản thi hành án.
3. Trường hợp không thu hồi
được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn
liền với đất và giấy tờ về tài sản khác thì thực hiện theo quy định tại khoản 4
và khoản 5 Điều 106 của Luật này.
4. Trường hợp giấy tờ
không thể thu hồi và cũng không thể cấp lại thì việc thi hành án được xử lý
theo quy định tại Điều 44a của Luật này.
Điều 117. Cưỡng chế chuyển
giao quyền sử dụng đất
1. Trường hợp bản án, quyết
định tuyên nghĩa vụ chuyển giao quyền sử dụng đất thì Chấp hành viên tổ chức
giao diện tích đất cho người được thi hành án.
Khi tiến hành giao đất phải
có sự tham gia của đại diện cơ quan quản lý nhà nước về đất đai cùng cấp và Ủy
ban nhân dân cấp xã nơi có đất được chuyển giao.
2. Việc xử lý tài sản gắn
liền với đất được chuyển giao thực hiện theo quy định sau đây:
a) Trường hợp tài sản gắn
liền với đất hình thành sau khi có bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật thì
Chấp hành viên yêu cầu người có tài sản đó tháo dỡ hoặc chuyển tài sản ra khỏi
diện tích đất phải chuyển giao cho người được thi hành án. Nếu người có tài sản
không thực hiện thì Chấp hành viên cưỡng chế tháo dỡ hoặc chuyển tài sản ra khỏi
diện tích đất phải chuyển giao, trừ trường hợp đương sự có thỏa thuận khác. Chi
phí cưỡng chế do người có tài sản chịu.
Trường hợp người có tài sản
gắn liền với đất từ chối nhận tài sản thì Chấp hành viên lập biên bản ghi rõ số
lượng, chủng loại, tình trạng từng loại tài sản, giao tài sản cho tổ chức, cá
nhân có điều kiện bảo quản hoặc bảo quản tại kho của cơ quan thi hành án dân sự
và thông báo địa điểm, thời gian để người có tài sản nhận lại tài sản.
Hết thời hạn thông báo mà
người có tài sản không đến nhận thì tài sản được xử lý theo quy định tại Điều
126 của Luật này;
b) Trường hợp tài sản gắn
liền với đất có trước khi có bản án, quyết định sơ thẩm nhưng bản án, quyết định
được thi hành không tuyên rõ việc xử lý đối với tài sản đó thì cơ quan thi hành
án dân sự yêu cầu Tòa án đã ra bản án, quyết định giải thích rõ việc xử lý đối
với tài sản hoặc đề nghị Tòa án có thẩm quyền xem xét lại nội dung bản án theo
thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm.
3. Việc cưỡng chế giao
quyền sử dụng đất cho người trúng đấu giá hoặc cho người nhận quyền sử dụng đất
để trừ vào số tiền được thi hành án được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều
này.
Mục 10. CƯỠNG CHẾ THI
HÀNH NGHĨA VỤ BUỘC THỰC HIỆN HOẶC KHÔNG ĐƯỢC THỰC HIỆN CÔNG VIỆC NHẤT ĐỊNH
Điều 118. Cưỡng chế thi
hành nghĩa vụ buộc thực hiện công việc nhất định
1. Trường hợp thi hành
nghĩa vụ phải thực hiện công việc nhất định theo bản án, quyết định mà người phải
thi hành án không thực hiện thì Chấp hành viên quyết định phạt tiền và ấn định
thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định phạt tiền để người đó thực
hiện nghĩa vụ thi hành án.
2. Hết thời hạn đã ấn định
mà người phải thi hành án không thực hiện nghĩa vụ thi hành án thì Chấp hành
viên xử lý như sau:
a) Trường hợp công việc
đó có thể giao cho người khác thực hiện thay thì Chấp hành viên giao cho người
có điều kiện thực hiện; chi phí thực hiện do người phải thi hành án chịu;
b) Trường hợp công việc
đó phải do chính người phải thi hành án thực hiện thì Chấp hành viên đề nghị cơ
quan có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hình sự về tội không chấp hành án.
Điều 119. Cưỡng chế thi
hành nghĩa vụ không được thực hiện công việc nhất định
Người phải thi hành án
không tự nguyện chấm dứt việc thực hiện công việc mà theo bản án, quyết định
không được thực hiện thì Chấp hành viên ra quyết định phạt tiền đối với người
đó, trong trường hợp cần thiết có thể yêu cầu họ khôi phục hiện trạng ban đầu.
Trường hợp người đó vẫn không chấm dứt công việc không được làm, không khôi phục
lại hiện trạng ban đầu thì Chấp hành viên đề nghị cơ quan có thẩm quyền truy cứu
trách nhiệm hình sự về tội không chấp hành án.
Điều 120. Cưỡng chế giao
người chưa thành niên cho người được giao nuôi dưỡng theo bản án, quyết định
1. Chấp hành viên ra quyết
định buộc giao người chưa thành niên cho người được giao nuôi dưỡng theo bản
án, quyết định. Trước khi cưỡng chế giao người chưa thành niên cho người được
giao nuôi dưỡng, Chấp hành viên phối hợp với chính quyền địa phương, tổ chức
chính trị - xã hội tại địa phương đó thuyết phục đương sự tự nguyện thi hành
án.
2. Trường hợp người phải
thi hành án hoặc người đang trông giữ người chưa thành niên không giao người
chưa thành niên cho người được giao nuôi dưỡng thì Chấp hành viên ra quyết định
phạt tiền, ấn định thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định phạt tiền
để người đó giao người chưa thành niên cho người được giao nuôi dưỡng. Hết thời
hạn đã ấn định mà người đó không thực hiện thì Chấp hành viên tiến hành cưỡng
chế buộc giao người chưa thành niên hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền truy cứu
trách nhiệm hình sự về tội không chấp hành án.
Điều 121. Cưỡng chế buộc
nhận người lao động trở lại làm việc
1. Trường hợp người sử dụng
lao động không nhận người lao động trở lại làm việc theo bản án, quyết định thì
Chấp hành viên ra quyết định phạt tiền đối với người sử dụng lao động là cá
nhân hoặc người đứng đầu cơ quan, tổ chức sử dụng lao động, đồng thời ấn định
thời hạn 10 ngày, kể từ ngày ra quyết định phạt tiền để người sử dụng lao động
thực hiện việc nhận người lao động trở lại làm việc. Hết thời hạn đã ấn định mà
người sử dụng lao động không thực hiện thì Chấp hành viên đề nghị cơ quan có thẩm
quyền xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự về tội không chấp hành
án.
2. Trường hợp không thể bố
trí người lao động trở lại làm công việc theo nội dung bản án, quyết định thì
người sử dụng lao động phải bố trí công việc khác với mức tiền lương tương
đương theo quy định của pháp luật lao động.
Trường hợp người lao động
không chấp nhận công việc được bố trí và yêu cầu người sử dụng lao động thanh
toán các chế độ theo quy định của pháp luật lao động thì người sử dụng lao động
phải thực hiện việc thanh toán để chấm dứt nghĩa vụ thi hành án.
3. Người sử dụng lao động
phải thanh toán cho người lao động khoản tiền lương trong thời gian chưa bố trí
được công việc theo bản án, quyết định, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án
cho đến khi người lao động được nhận trở lại làm việc hoặc được giải quyết theo
quy định tại khoản 2 Điều này.
Chương V
THI HÀNH ÁN TRONG MỘT SỐ
TRƯỜNG HỢP CỤ THỂ
Mục 1. THI HÀNH KHOẢN TỊCH
THU SUNG QUỸ NHÀ NƯỚC; TIÊU HỦY TÀI SẢN; HOÀN TRẢ TIỀN, TÀI SẢN KÊ BIÊN, TẠM GIỮ
TRONG BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH HÌNH SỰ
Điều 122. Chuyển giao vật
chứng, tài sản tạm giữ kèm theo bản án, quyết định
1. Vật chứng, tài sản tạm
giữ trong bản án, quyết định hình sự do yêu cầu phục vụ việc xét xử mà chưa được
chuyển cho cơ quan thi hành án dân sự trong giai đoạn truy tố, xét xử theo quy
định của Bộ luật Tố tụng hình sự thì phải chuyển giao cho cơ quan thi hành án
dân sự tại thời điểm Tòa án chuyển giao bản án, quyết định.
2. Việc giao, nhận vật chứng,
tài sản tạm giữ được tiến hành tại kho của cơ quan thi hành án dân sự. Bên giao
có trách nhiệm vận chuyển vật chứng, tài sản tạm giữ đến kho của cơ quan thi hành
án dân sự.
Đối với vật chứng, tài sản
tạm giữ không thể vận chuyển, di dời về bảo quản tại kho của cơ quan thi hành
án dân sự thì địa điểm giao nhận vật chứng, tài sản tạm giữ là nơi đang gửi, giữ
hoặc nơi đang có tài sản.
3. Việc tiếp nhận tài sản
phải có sự tham gia đầy đủ của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự hoặc người
được Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ủy quyền, thủ kho, kế toán.
Điều 123. Thủ tục tiếp nhận
vật chứng, tài sản tạm giữ
Việc tiếp nhận vật chứng,
tài sản tạm giữ được tiến hành theo thủ tục sau đây:
1. Thủ kho có trách nhiệm
trực tiếp nhận, kiểm tra hiện trạng vật chứng, tài sản tạm giữ và nhập kho thi
hành án. Việc giao nhận vật chứng, tài sản tạm giữ phải được lập biên bản ghi
rõ giờ, ngày, tháng, năm giao nhận; số lượng, chủng loại, hiện trạng của từng
loại vật chứng, tài sản tạm giữ, có so sánh với biên bản thu giữ ban đầu của cơ
quan Công an hoặc Tòa án. Cơ quan thi hành án dân sự chỉ tiếp nhận tài sản đủ
và đúng với hiện trạng ghi trong biên bản thu giữ ban đầu. Trong trường hợp vật
chứng, tài sản tạm giữ giao, nhận đã bị thay đổi so với biên bản thu giữ ban đầu
thì Thủ trưởng cơ quan bên giao, bên nhận có trách nhiệm kiểm tra, kết luận và
cơ quan thi hành án dân sự chỉ nhận khi đã được các cơ quan có thẩm quyền làm
rõ về những thay đổi đó.
Biên bản giao, nhận vật
chứng, tài sản tạm giữ phải có chữ ký của người đại diện và dấu của cơ quan bên
nhận, chữ ký của người đại diện và dấu của cơ quan bên giao, nếu có.
2. Trường hợp vật chứng,
tài sản tạm giữ được bàn giao dưới hình thức gói niêm phong, cơ quan thi hành
án dân sự chỉ nhận khi có kết quả giám định rõ số lượng, chủng loại, chất lượng
của từng loại vật chứng, tài sản tạm giữ trong gói niêm phong đó của cơ quan có
thẩm quyền. Đối với vật chứng, tài sản tạm giữ là các chất ma túy, cơ quan thi
hành án dân sự chỉ nhận dưới hình thức gói niêm phong kèm theo kết luận giám định
của cơ quan có thẩm quyền.
Khi giao, nhận phải lập
biên bản ghi rõ hiện trạng của vật chứng, tài sản được niêm phong, có chữ ký của
bên giao, bên nhận. Trường hợp niêm phong bị rách hoặc có dấu hiệu khả nghi
trên đó thì cơ quan thi hành án dân sự chỉ tiếp nhận khi có kết luận giám định
của cơ quan có thẩm quyền.
Điều 124. Xử lý vật chứng,
tài sản tạm giữ bị tuyên tịch thu, sung quỹ nhà nước
1. Đối với vật chứng, tài
sản tạm giữ mà bản án, quyết định tuyên tịch thu, sung quỹ nhà nước thì trong
thời hạn 10 ngày, kể từ ngày ra quyết định thi hành án, cơ quan thi hành án dân
sự phải thông báo bằng văn bản và tiến hành giao vật chứng, tài sản tạm giữ đó
cho cơ quan tài chính cùng cấp. Đối với tài sản tịch thu, sung quỹ nhà nước do
cơ quan thi hành án cấp quân khu thi hành thì chuyển cho cơ quan tài chính cấp
tỉnh nơi cơ quan thi hành án cấp quân khu có trụ sở.
Chi phí xử lý vật chứng,
tài sản tạm giữ bị tuyên tịch thu, sung quỹ nhà nước do cơ quan tài chính nơi
nhận vật chứng, tài sản tạm giữ chi trả theo quy định của pháp luật.
2. Khi chuyển giao vật chứng,
tài sản tạm giữ phải kèm theo quyết định thi hành án, bản án, quyết định hoặc bản
sao bản án, quyết định do cơ quan thi hành án dân sự sao y bản chính.
3. Việc chuyển giao vật
chứng, tài sản tạm giữ phải có sự tham gia của Thủ trưởng cơ quan thi hành án
dân sự hoặc người được Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ủy quyền, kế toán,
thủ kho và đại diện cơ quan tài chính. Việc giao, nhận vật chứng, tài sản tạm
giữ được lập biên bản, mô tả cụ thể thực trạng vật chứng, tài sản tạm giữ, có
chữ ký của người đại diện và dấu của cơ quan bên giao, chữ ký của người đại diện
và dấu của cơ quan bên nhận, nếu có.
4. Trường hợp quyết định
tịch thu vật chứng, tài sản tạm giữ đã được thi hành nhưng sau đó phát hiện có
sai lầm và đã được cơ quan có thẩm quyền ra quyết định hủy bỏ quyết định tịch
thu thì cơ quan thi hành án dân sự phối hợp với cơ quan tài chính cùng cấp hoặc
cơ quan tài chính cấp tỉnh nơi cơ quan thi hành án cấp quân khu có trụ sở để
làm thủ tục hoàn trả lại số tiền đã nộp vào ngân sách nhà nước theo quy định của
pháp luật.
Điều 125. Tiêu hủy vật chứng,
tài sản
1. Trong thời hạn 01
tháng, kể từ ngày ra quyết định thi hành án, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân
sự phải ra quyết định thành lập Hội đồng tiêu hủy vật chứng, tài sản thuộc diện
tiêu hủy theo bản án, quyết định, trừ trường hợp pháp luật quy định phải tiêu hủy
ngay.
2. Hội đồng tiêu hủy vật
chứng, tài sản gồm Chấp hành viên là Chủ tịch Hội đồng, đại diện cơ quan tài
chính cùng cấp là thành viên, đại diện cơ quan chuyên môn tham gia Hội đồng khi
cần thiết.
3. Viện kiểm sát cùng cấp
kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc tiêu hủy vật chứng, tài sản.
Điều 126. Trả lại tiền,
tài sản tạm giữ cho đương sự
1. Thủ trưởng cơ quan thi
hành án dân sự ra quyết định trả lại tiền, tài sản tạm giữ trong trường hợp bản
án, quyết định tuyên trả lại tài sản cho đương sự.
Trường hợp người được trả
lại tiền, tài sản tạm giữ đồng thời là người phải thi hành nghĩa vụ trả tiền
không tự nguyện thi hành án thì Chấp hành viên xử lý tiền, tài sản đó để thi
hành án.
2. Sau khi có quyết định
trả lại tiền, tài sản tạm giữ, Chấp hành viên thông báo cho đương sự thời gian,
địa điểm nhận lại tiền, tài sản.
Hết thời hạn 15 ngày, kể
từ ngày được thông báo mà đương sự không đến nhận tiền thì Chấp hành viên gửi số
tiền đó theo hình thức tiết kiệm không kỳ hạn và thông báo cho đương sự.
Hết thời hạn 03 tháng, kể
từ ngày được thông báo nhưng đương sự không đến nhận tài sản mà không có lý do
chính đáng thì Chấp hành viên xử lý tài sản theo quy định tại các điều 98, 99
và 101 của Luật này và gửi số tiền thu được theo hình thức tiết kiệm không kỳ hạn,
đồng thời thông báo cho đương sự.
Hết thời hạn 05 năm, kể từ
ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật mà đương sự vẫn không đến nhận số
tiền đã được gửi tiết kiệm mà không có lý do chính đáng thì cơ quan thi hành án
dân sự làm thủ tục sung quỹ nhà nước.
3. Đối với tài sản không
bán được hoặc bị hư hỏng không còn giá trị sử dụng thì Thủ trưởng cơ quan thi
hành án dân sự phải ra quyết định tiêu hủy và tổ chức tiêu hủy tài sản theo quy
định tại Điều 125 của Luật này.
Đối với giấy tờ liên quan
đến tài sản, nhân thân của đương sự thì hết thời hạn 01 năm, kể từ ngày thông
báo nếu đương sự không đến nhận, Chấp hành viên làm thủ tục chuyển giao cho cơ
quan đã ban hành giấy tờ đó xử lý theo quy định.
4. Trường hợp tài sản trả
lại là tiền Việt Nam, ngoại tệ bị hư hỏng không còn sử dụng được do lỗi của các
cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan thi hành án dân sự trong quá trình bảo quản
và đương sự từ chối nhận thì cơ quan thi hành án dân sự đề nghị Ngân hàng nhà
nước đổi tiền mới có giá trị tương đương để trả cho đương sự.
Đối với tài sản là tiền
Việt Nam, ngoại tệ bị hư hỏng không còn sử dụng được không do lỗi của các cơ
quan tiến hành tố tụng, cơ quan thi hành án dân sự mà đương sự từ chối nhận thì
cơ quan thi hành án dân sự giao cho Ngân hàng nhà nước xử lý theo quy định của
pháp luật.
5. Việc trả lại tiền tạm ứng
án phí theo bản án, quyết định được thực hiện theo quy định tại các khoản 1, 2,
3 và 4 Điều này.
Điều 127. Xử lý tài sản
mà bản án, quyết định tuyên kê biên để bảo đảm thi hành án
Chấp hành viên xử lý theo
quy định tại các điều 98, 99, 100 và 101 của Luật này đối với tài sản mà bản
án, quyết định tuyên kê biên để bảo đảm thi hành án trong trường hợp người phải
thi hành án không tự nguyện thi hành án.
Điều 128. Thu án phí, tiền
phạt và các khoản phải thu khác đối với người phải thi hành án đang chấp hành
hình phạt tù
1. Giám thị trại giam, trại
tạm giam nơi người phải thi hành án đang chấp hành hình phạt tù thu các khoản
tiền, tài sản mà người phải thi hành án, thân nhân của người phải thi hành án nộp
để thi hành án và chuyển cho cơ quan thi hành án dân sự xử lý theo quy định của
pháp luật.
2. Trường hợp người phải
thi hành án chuyển trại giam, trại tạm giam hoặc được đặc xá, được miễn chấp hành
hình phạt tù hoặc chết thì Giám thị trại giam, trại tạm giam nơi người đó chấp
hành hình phạt tù phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan thi hành án dân sự.
Điều 129. Thủ tục trả lại
tiền, tài sản cho người được thi hành án đang chấp hành hình phạt tù
1. Chấp hành viên gửi
thông báo, quyết định về việc nhận lại tiền, tài sản cho người được thi hành án
đang chấp hành hình phạt tù thông qua Giám thị trại giam, trại tạm giam.
Trường hợp người được thi
hành án ủy quyền cho người khác nhận tiền, tài sản thì văn bản ủy quyền phải có
xác nhận của Giám thị trại giam, trại tạm giam. Chấp hành viên trả tiền, tài sản
cho người được ủy quyền.
2. Trường hợp người được
thi hành án có yêu cầu và được nhận tiền, tài sản tại nơi đang chấp hành hình
phạt tù theo quy định của pháp luật thì Chấp hành viên gửi tiền, tài sản cho
người đó thông qua Giám thị trại giam, trại tạm giam. Chi phí cho việc gửi tiền,
tài sản do người được thi hành án chịu. Khi giao tiền, tài sản cho đương sự,
Giám thị trại giam, trại tạm giam lập biên bản và gửi cho cơ quan thi hành án
dân sự.
3. Trường hợp người được
thi hành án đang chấp hành hình phạt tù từ chối nhận lại tiền, tài sản bằng văn
bản có xác nhận của Giám thị trại giam, trại tạm giam thì Chấp hành viên xử lý
tiền, tài sản để sung quỹ nhà nước hoặc tiêu hủy theo quy định của Luật này.
Mục 2. THI HÀNH QUYẾT ĐỊNH
ÁP DỤNG BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI
Điều 130. Thủ tục thi
hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
1. Trong thời hạn 24 giờ,
kể từ khi nhận được quyết định thi hành án, Chấp hành viên phải áp dụng ngay
các biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế sau đây:
a) Biện pháp cưỡng chế
quy định tại các điều 118, 119, 120 và 121 của Luật này để bảo đảm thi hành quyết
định về cấm hoặc buộc đương sự thực hiện hành vi nhất định; giao người chưa
thành niên cho cá nhân hoặc tổ chức trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục;
tạm đình chỉ quyết định sa thải người lao động;
b) Biện pháp cưỡng chế
quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 5 Điều 71 của Luật này để bảo đảm thi hành
quyết định về buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ cấp dưỡng; buộc thực hiện
trước một phần nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khỏe bị xâm phạm;
buộc người sử dụng lao động tạm ứng tiền lương, tiền công, tiền bồi thường, trợ
cấp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp cho người lao động;
c) Biện pháp cưỡng chế
quy định tại Điều 75 của Luật này để đảm bảo thi hành biện pháp khẩn cấp tạm thời
quy định về kê biên tài sản đang tranh chấp.
d) Biện pháp bảo đảm quy
định tại các điều 66, 67, 68 và 69 của Luật này để bảo đảm thi hành quyết định
về cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp; cấm thay đổi
hiện trạng tài sản đang tranh chấp; phong tỏa tài khoản tại ngân hàng, tổ chức
tín dụng khác; phong tỏa tài sản ở nơi gửi giữ; phong tỏa tài sản của người có
nghĩa vụ;
đ) Biện pháp cưỡng chế
quy định tại khoản 3 Điều 71 và các điều 98, 99, 100 và 101 của Luật này để bảo
đảm thi hành quyết định về cho thu hoạch, cho bán hoa màu hoặc sản phẩm hàng
hóa khác.
2. Trường hợp người phải
thi hành án cư trú hoặc có tài sản ở địa phương khác thì tùy từng trường hợp cụ
thể, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định ủy thác cho cơ quan
thi hành án dân sự nơi người đó cư trú hoặc nơi có tài sản tổ chức thi hành quyết
định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.
Điều 131. Thi hành quyết
định thay đổi, áp dụng bổ sung biện pháp khẩn cấp tạm thời
1. Trường hợp nhận được
quyết định thay đổi hoặc áp dụng bổ sung quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp
tạm thời của Tòa án, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra ngay quyết định
thi hành án, đồng thời thu hồi quyết định thi hành án đối với quyết định áp dụng
biện pháp khẩn cấp tạm thời đã bị thay đổi.
2. Trường hợp quyết định
áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời bị thay đổi đã thi hành được một phần hoặc
đã thi hành xong thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự thông báo cho Tòa án
và giải thích cho đương sự quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.
Điều 132. Đình chỉ thi
hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
1. Trường hợp Tòa án hủy
bỏ quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì ngay sau khi nhận được
quyết định của Tòa án, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định đình
chỉ thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.
Trong thời hạn 24 giờ, kể
từ khi có quyết định đình chỉ thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm
thời, Chấp hành viên làm thủ tục giải tỏa kê biên, trả lại tài sản, giải tỏa việc
phong tỏa tài sản hoặc tài khoản của người có nghĩa vụ.
2. Trường hợp quyết định
áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời bị Tòa án hủy bỏ, nhưng cơ quan thi hành án
dân sự đã thi hành được một phần hoặc thi hành xong thì việc giải quyết quyền lợi
của đương sự được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 131 của Luật này.
Điều 133. Chi phí thi
hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án
1. Chí phí thi hành quyết
định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án được tạm ứng từ ngân sách
nhà nước và thực hiện theo quy định tại Điều 73 của Luật này.
Trường hợp người yêu cầu
Tòa án ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng thì người
đó phải thanh toán các chi phí thực tế do việc thi hành quyết định đó. Khoản tiền
đặt trước được đối trừ, tài sản bảo đảm bị xử lý để thanh toán nghĩa vụ.
2. Trường hợp Tòa án tự
mình áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì chi phí thi hành án được thanh
toán từ ngân sách nhà nước.
Mục 3. THI HÀNH QUYẾT ĐỊNH
GIÁM ĐỐC THẨM, TÁI THẨM
Điều 134. Thi hành quyết
định giám đốc thẩm, tái thẩm tuyên giữ nguyên bản án, quyết định đã có hiệu lực
pháp luật
Trường hợp quyết định
giám đốc thẩm, tái thẩm tuyên giữ nguyên bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp
luật mà bản án, quyết định đó chưa thi hành hoặc đã thi hành được một phần thì
Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định tiếp tục thi hành án. Trường
hợp bản án, quyết định đó đã thi hành xong thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án
dân sự thông báo cho Tòa án đã ra quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm, Viện kiểm
sát cùng cấp và đương sự.
Điều 135. Thi hành quyết
định giám đốc thẩm tuyên giữ nguyên bản án, quyết định đúng pháp luật của Tòa
án cấp dưới đã bị hủy hoặc bị sửa
1. Trường hợp quyết định
giám đốc thẩm tuyên giữ nguyên bản án, quyết định đúng pháp luật của Tòa án cấp
dưới đã bị hủy hoặc bị sửa thì việc thi hành được thực hiện theo quyết định
giám đốc thẩm và bản án, quyết định đúng pháp luật của Tòa án cấp dưới đã bị hủy
hoặc bị sửa.
2. Đối với phần bản án,
quyết định của Tòa án cấp dưới không bị hủy, bị sửa mà chưa được thi hành thì
Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định tiếp tục thi hành án; nếu
đã thi hành xong thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự thông báo cho Tòa án
đã ra quyết định giám đốc thẩm, Viện kiểm sát cùng cấp và đương sự.
3. Đối với phần bản án,
quyết định của Tòa án hủy, sửa bản án, quyết định của Tòa án cấp dưới mà đã thi
hành được một phần hoặc đã thi hành xong thì đương sự có thể thỏa thuận với
nhau về việc hoàn trả tài sản, phục hồi lại quyền tài sản.
Trường hợp tài sản thi
hành án là động sản phải đăng ký quyền sở hữu và bất động sản còn nguyên trạng
thì cưỡng chế trả lại tài sản đó cho chủ sở hữu.
Trường hợp tài sản đã được
chuyển dịch hợp pháp cho người thứ ba chiếm hữu ngay tình thông qua bán đấu giá
hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm
quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó người này không phải là chủ sở hữu tài
sản do bản án, quyết định bị hủy, sửa hoặc tài sản thi hành án đã bị thay đổi
hiện trạng thì chủ sở hữu tài sản ban đầu không được lấy lại tài sản nhưng được
bồi hoàn giá trị của tài sản.
Trường hợp có yêu cầu về
bồi thường thiệt hại thì cơ quan ra bản án, quyết định bị hủy, sửa giải quyết
theo quy định của pháp luật.
Điều 136. Thi hành quyết
định giám đốc thẩm, tái thẩm tuyên hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp
luật
1. Trường hợp quyết định
giám đốc thẩm, tái thẩm tuyên hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để
xét xử sơ thẩm lại hoặc xét xử phúc thẩm lại thì việc thi hành án được thực hiện
theo bản án, quyết định sơ thẩm mới có hiệu lực pháp luật hoặc bản án phúc thẩm
mới.
2. Trường hợp quyết định
giám đốc thẩm, tái thẩm tuyên hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của
Tòa án đã xét xử vụ án và đình chỉ giải quyết vụ án mà phần tài sản trong bản
án, quyết định bị hủy đã thi hành được một phần hoặc đã thi hành xong thì thực
hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 135 của Luật này.
Mục 4. THI HÀNH QUYẾT ĐỊNH
VỀ PHÁ SẢN
Điều 137. Tạm đình chỉ,
đình chỉ và khôi phục thi hành án đối với người phải thi hành án là doanh nghiệp,
hợp tác xã bị lâm vào tình trạng phá sản
1. Sau khi nhận được văn
bản của Tòa án thông báo về việc thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, Thủ trưởng
cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định tạm đình chỉ đối với các trường hợp
thi hành về tài sản mà doanh nghiệp, hợp tác xã là người phải thi hành án theo
quy định tại khoản 2 Điều 49 của Luật này.
Sau khi ra quyết định tạm
đình chỉ thi hành án, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự thông báo cho Tòa
án đang giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản về kết quả thi hành án đối với
doanh nghiệp, hợp tác xã bị lâm vào tình trạng phá sản.
2.[69] Thủ trưởng cơ quan
thi hành án dân sự ra quyết định đình chỉ việc thi hành án về tài sản mà doanh
nghiệp, hợp tác xã là người phải thi hành án lâm vào tình trạng phá sản ngay
sau khi nhận được quyết định của Tòa án về việc mở thủ tục phá sản.
Việc tiếp tục thi hành
nghĩa vụ về tài sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã là người phải thi hành án
trong trường hợp này thực hiện theo quy định của Luật Phá sản. Thủ trưởng cơ
quan thi hành án dân sự có trách nhiệm chỉ đạo Chấp hành viên bàn giao cho Tòa
án các tài liệu thi hành án có liên quan đến việc tiếp tục thi hành nghĩa vụ về
tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã bị lâm vào tình trạng phá sản.
3. Trong thời hạn 05 ngày
làm việc, kể từ ngày ra quyết định đình chỉ tiến hành thủ tục phá sản hoặc đình
chỉ thủ tục phục hồi kinh doanh, Thẩm phán tiến hành thủ tục phá sản phải gửi
quyết định đó kèm theo toàn bộ hồ sơ liên quan đến việc thi hành án cho cơ quan
thi hành án dân sự đã ra quyết định đình chỉ việc thi hành án về tài sản mà
doanh nghiệp, hợp tác xã là người phải thi hành án lâm vào tình trạng phá sản.
Trong thời hạn 05 ngày
làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định đình chỉ tiến hành thủ tục phá sản hoặc
đình chỉ thủ tục phục hồi kinh doanh, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra
quyết định thu hồi quyết định đình chỉ thi hành án và tiếp tục thi hành án đối
với phần nghĩa vụ về tài sản còn phải thi hành đã đình chỉ đối với doanh nghiệp,
hợp tác xã và phân công Chấp hành viên tổ chức thi hành vụ việc theo quy định của
Luật này.
Điều 138.[70] (được bãi bỏ)
Điều 139.[71] (được bãi bỏ)
Chương VI
KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VÀ
KHÁNG NGHỊ VỀ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
Mục 1. KHIẾU NẠI VÀ GIẢI
QUYẾT KHIẾU NẠI VỀ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
Điều 140. Quyền khiếu nại
về thi hành án
1. Đương sự, người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền khiếu nại đối với quyết định, hành vi của Thủ
trưởng cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên nếu có căn cứ cho rằng quyết
định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
2. Thời hiệu khiếu nại đối
với quyết định, hành vi của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành
viên như sau:
a) Đối với quyết định,
hành vi về thi hành án trước khi áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế
là 15 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc biết được hành vi đó;
b) Đối với quyết định về
áp dụng biện pháp phong tỏa tài khoản là 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được
quyết định;
Đối với quyết định, hành
vi về áp dụng biện pháp bảo đảm khác là 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định
hoặc biết được hành vi đó;
c) Đối với quyết định,
hành vi về áp dụng biện pháp cưỡng chế là 30 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định
hoặc biết được hành vi đó;
d) Đối với quyết định,
hành vi sau khi áp dụng biện pháp cưỡng chế là 30 ngày, kể từ ngày nhận được
quyết định hoặc biết được hành vi đó.
Trường hợp do trở ngại
khách quan hoặc do sự kiện bất khả kháng mà người khiếu nại không thực hiện được
quyền khiếu nại theo đúng thời hạn thì thời gian có trở ngại khách quan hoặc sự
kiện bất khả kháng không tính vào thời hạn khiếu nại.
Lần khiếu nại tiếp theo,
thời hiệu là 15 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại của
người có thẩm quyền.
Điều 141. Những trường hợp
khiếu nại không được thụ lý giải quyết
1. Quyết định, hành vi bị
khiếu nại không liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khiếu
nại.
2. Người khiếu nại không
có năng lực hành vi dân sự đầy đủ mà không có người đại diện hợp pháp, trừ trường
hợp pháp luật có quy định khác.
3. Người đại diện không
có giấy tờ chứng minh về việc đại diện hợp pháp của mình.
4. Thời hiệu khiếu nại đã
hết.
5. Việc khiếu nại đã có
quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực thi hành, trừ trường hợp quy định tại
điểm b khoản 4 và điểm b khoản 7 Điều 142 của Luật này.
Điều 142. Thẩm quyền giải
quyết khiếu nại về thi hành án
1. Thủ trưởng cơ quan thi
hành án dân sự cấp huyện giải quyết khiếu nại đối với quyết định, hành vi trái
pháp luật của Chấp hành viên thuộc quyền quản lý của cơ quan thi hành án dân sự
cấp huyện.
2. Thủ trưởng cơ quan thi
hành án dân sự cấp tỉnh giải quyết đối với các khiếu nại sau đây:
a) Khiếu nại quyết định,
hành vi trái pháp luật của Chấp hành viên thuộc quyền quản lý của cơ quan thi
hành án dân sự cấp tỉnh;
b) Khiếu nại quyết định,
hành vi trái pháp luật của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện;
c) Khiếu nại đối với quyết
định giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện.
Quyết định giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh
có hiệu lực thi hành.
3. Thủ trưởng cơ quan quản
lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp giải quyết đối với các khiếu nại sau
đây:
a) Khiếu nại quyết định,
hành vi trái pháp luật của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh;
b) Khiếu nại đối với quyết
định giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh.
Quyết định giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án dân
sự thuộc Bộ Tư pháp có hiệu lực thi hành.
4. Bộ trưởng Bộ Tư pháp
giải quyết các khiếu nại sau đây:
a) Khiếu nại đối với quyết
định giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc
Bộ Tư pháp quy định tại điểm a khoản 3 Điều này. Quyết định giải quyết khiếu nại
của Bộ trưởng Bộ Tư pháp có hiệu lực thi hành;
b) Trường hợp cần thiết,
Bộ trưởng Bộ Tư pháp có quyền xem xét lại quyết định giải quyết khiếu nại đã có
hiệu lực thi hành quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này.
5. Thủ trưởng cơ quan thi
hành án cấp quân khu giải quyết khiếu nại đối với quyết định, hành vi trái pháp
luật của Chấp hành viên cơ quan thi hành án cấp quân khu.
6. Thủ trưởng cơ quan quản
lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng giải quyết các khiếu nại sau đây:
a) Khiếu nại đối với quyết
định, hành vi trái pháp luật của Thủ trưởng cơ quan thi hành án cấp quân khu;
b) Khiếu nại đối với quyết
định giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng cơ quan thi hành án cấp quân khu. Quyết
định giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ
Quốc phòng có hiệu lực thi hành.
7. Bộ trưởng Bộ Quốc
phòng giải quyết các khiếu nại sau đây:
a) Khiếu nại đối với quyết
định giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ
Quốc phòng. Quyết định giải quyết khiếu nại của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng có hiệu
lực thi hành;
b) Trường hợp cần thiết,
Bộ trưởng Bộ Quốc phòng có quyền xem xét lại quyết định giải quyết khiếu nại của
Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng được quy định tại điểm
b khoản 6 Điều này.
Điều 143. Quyền và nghĩa
vụ của người khiếu nại
1. Người khiếu nại có các
quyền sau đây:
a) Tự mình khiếu nại hoặc
thông qua người đại diện hợp pháp để khiếu nại;
b) Nhờ luật sư giúp đỡ về
pháp luật trong quá trình khiếu nại;
c) Được nhận quyết định
giải quyết khiếu nại;
d) Được biết các bằng chứng
để làm căn cứ giải quyết khiếu nại; đưa ra bằng chứng về việc khiếu nại và giải
trình ý kiến của mình về bằng chứng đó;
đ) Được khôi phục quyền,
lợi ích hợp pháp đã bị xâm phạm và được bồi thường thiệt hại, nếu có;
e) Được khiếu nại tiếp nếu
không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu của người có thẩm quyền
giải quyết khiếu nại;
g) Rút khiếu nại trong bất
kỳ giai đoạn nào của quá trình giải quyết khiếu nại.
2. Người khiếu nại có các
nghĩa vụ sau đây:
a) Khiếu nại đến đúng người
có thẩm quyền giải quyết;
b) Trình bày trung thực sự
việc, cung cấp thông tin, tài liệu cho người giải quyết khiếu nại; chịu trách
nhiệm trước pháp luật về nội dung trình bày và việc cung cấp thông tin, tài liệu
đó;
c) Chấp hành nghiêm chỉnh
quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực thi hành và quyết định của Bộ trưởng
Bộ Tư pháp, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định tại điểm b khoản 4 và điểm b khoản
7 Điều 142 của Luật này.
Điều 144. Quyền và nghĩa
vụ của người bị khiếu nại
1. Người bị khiếu nại có
các quyền sau đây:
a) Được biết các căn cứ
khiếu nại của người khiếu nại; đưa ra bằng chứng về tính hợp pháp của quyết định,
hành vi bị khiếu nại;
b) Được nhận quyết định
giải quyết khiếu nại.
2. Người bị khiếu nại có
các nghĩa vụ sau đây:
a) Giải trình về quyết định,
hành vi bị khiếu nại, cung cấp các thông tin, tài liệu liên quan khi người có
thẩm quyền giải quyết khiếu nại yêu cầu;
b) Chấp hành nghiêm chỉnh
quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực thi hành và quyết định của Bộ
trưởng Bộ Tư pháp, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định tại điểm b khoản 4 và điểm
b khoản 7 Điều 142 của Luật này;
c) Bồi thường, bồi hoàn,
khắc phục hậu quả do quyết định, hành vi trái pháp luật của mình gây ra theo
quy định của pháp luật.
Điều 145. Quyền và nghĩa
vụ của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại
1. Người có thẩm quyền giải
quyết khiếu nại có các quyền sau đây:
a) Yêu cầu người khiếu nại,
người bị khiếu nại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cung cấp thông tin,
tài liệu liên quan đến việc khiếu nại;
b) Tạm dừng việc thực hiện
quyết định, hành vi bị khiếu nại hoặc yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tạm ngừng
việc thi hành án trong thời hạn giải quyết khiếu nại theo quy định của Luật
này, nếu xét thấy việc thi hành án sẽ ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của
đương sự hoặc ảnh hưởng đến việc giải quyết khiếu nại.
2. Người có thẩm quyền giải
quyết khiếu nại có các nghĩa vụ sau đây:
a) Tiếp nhận, giải quyết
khiếu nại đối với quyết định, hành vi bị khiếu nại;
b) Thông báo bằng văn bản
về việc thụ lý để giải quyết, gửi quyết định giải quyết cho người khiếu nại;
c) Chịu trách nhiệm trước
pháp luật về việc giải quyết khiếu nại của mình.
Điều 146. Thời hạn giải
quyết khiếu nại
1. Đối với quyết định,
hành vi quy định tại điểm a khoản 2 Điều 140 của Luật này thì thời hạn giải quyết
khiếu nại lần đầu là 15 ngày, lần hai là 30 ngày, kể từ ngày thụ lý đơn khiếu nại.
2. Đối với quyết định,
hành vi quy định tại điểm b khoản 2 Điều 140 của Luật này thì thời hạn giải quyết
khiếu nại là 05 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý đơn khiếu nại.
3. Đối với quyết định,
hành vi quy định tại điểm c khoản 2 Điều 140 của Luật này thì thời hạn giải quyết
khiếu nại lần đầu là 30 ngày, lần hai là 45 ngày, kể từ ngày thụ lý đơn khiếu nại.
Trường hợp cần thiết, đối
với những vụ việc có tính chất phức tạp thì thời hạn giải quyết khiếu nại có thể
kéo dài nhưng không quá 30 ngày, kể từ ngày hết thời hạn giải quyết khiếu nại.
4. Đối với quyết định,
hành vi quy định tại điểm d khoản 2 Điều 140 của Luật này thì thời hạn giải quyết
khiếu nại lần đầu là 15 ngày, lần hai là 30 ngày, kể từ ngày thụ lý đơn khiếu nại.
5.[72] Trường hợp ở vùng
sâu, vùng xa, đường sá xa xôi, đi lại khó khăn, vụ việc có tính chất phức tạp
thì thời hạn giải quyết khiếu nại có thể kéo dài nhưng không quá 30 ngày, kể từ
ngày hết thời hạn giải quyết khiếu nại.
Điều 147. Hình thức khiếu
nại
Người khiếu nại thực hiện
việc khiếu nại bằng một trong các hình thức sau đây:
1. Gửi đơn khiếu nại đến
cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại. Đơn của người khiếu nại phải ghi rõ
ngày, tháng, năm khiếu nại; họ, tên, địa chỉ của người khiếu nại; họ, tên, địa
chỉ của người bị khiếu nại; nội dung khiếu nại, lý do khiếu nại và yêu cầu giải
quyết. Đơn khiếu nại phải do người khiếu nại ký tên hoặc điểm chỉ.
2. Trình bày trực tiếp nội
dung khiếu nại tại cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại. Người có trách
nhiệm tiếp nhận việc khiếu nại phải hướng dẫn người khiếu nại viết thành đơn hoặc
ghi lại nội dung theo quy định tại khoản 1 Điều này, có chữ ký hoặc điểm chỉ của
người khiếu nại.
3. Khiếu nại thông qua
người đại diện. Người đại diện phải có giấy tờ chứng minh tính hợp pháp của việc
đại diện và việc khiếu nại phải thực hiện theo đúng thủ tục quy định tại khoản
1 và khoản 2 Điều này.
Điều 148. Thụ lý đơn khiếu
nại
Trong thời hạn 05 ngày
làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết và
không thuộc trường hợp quy định tại Điều 141 của Luật này, người có thẩm quyền
giải quyết khiếu nại lần đầu phải thụ lý để giải quyết và thông báo bằng văn bản
cho người khiếu nại biết. Trường hợp người có thẩm quyền không thụ lý đơn khiếu
nại để giải quyết thì phải thông báo và nêu rõ lý do.
Điều 149. Hồ sơ giải quyết
khiếu nại
1. Việc giải quyết khiếu
nại phải được lập thành hồ sơ. Hồ sơ giải quyết khiếu nại gồm có:
a) Đơn khiếu nại hoặc văn
bản ghi nội dung khiếu nại;
b) Văn bản giải trình của
người bị khiếu nại;
c) Biên bản thẩm tra, xác
minh, kết luận, kết quả giám định;
d) Quyết định giải quyết
khiếu nại;
đ) Tài liệu khác có liên
quan.
2. Hồ sơ giải quyết khiếu
nại phải được đánh số bút lục và được lưu giữ theo quy định của pháp luật.
Điều 150. Trình tự giải
quyết khiếu nại lần đầu
Sau khi thụ lý đơn khiếu
nại, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại tiến hành xác minh, yêu cầu người
bị khiếu nại giải trình, trong trường hợp cần thiết, có thể trưng cầu giám định
hoặc tổ chức đối thoại để làm rõ nội dung khiếu nại, yêu cầu của người khiếu nại
và hướng giải quyết khiếu nại.
Người có thẩm quyền giải
quyết khiếu nại phải ra quyết định giải quyết khiếu nại đối với khiếu nại thuộc
thẩm quyền.
Điều 151. Nội dung quyết
định giải quyết khiếu nại lần đầu
1. Ngày, tháng, năm ra
quyết định.
2. Họ, tên, địa chỉ của
người khiếu nại, người bị khiếu nại.
3. Nội dung khiếu nại.
4. Kết quả xác minh nội
dung khiếu nại;
5. Căn cứ pháp luật để giải
quyết khiếu nại.
6. Kết luận nội dung khiếu
nại là đúng, đúng một phần hoặc sai toàn bộ.
7. Giữ nguyên, sửa đổi, hủy
bỏ hoặc yêu cầu sửa đổi, hủy bỏ một phần quyết định, hành vi bị khiếu nại hoặc
buộc chấm dứt việc thực hiện quyết định, hành vi bị khiếu nại.
8. Việc bồi thường thiệt
hại, khắc phục hậu quả do quyết định, hành vi trái pháp luật gây ra.
9. Hướng dẫn quyền khiếu
nại lần hai của đương sự.
Điều 152. Thủ tục giải
quyết khiếu nại lần hai
1. Trường hợp tiếp tục
khiếu nại thì người khiếu nại phải gửi đơn kèm theo bản sao quyết định giải quyết
khiếu nại lần đầu và tài liệu liên quan cho người có thẩm quyền giải quyết khiếu
nại lần hai.
2. Trong quá trình giải
quyết khiếu nại lần hai, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại có các quyền
được quy định tại Điều 145 của Luật này và có quyền yêu cầu người giải quyết
khiếu nại lần đầu, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp thông tin,
tài liệu và những bằng chứng liên quan đến nội dung khiếu nại; triệu tập người
bị khiếu nại, người khiếu nại để tổ chức đối thoại khi cần thiết; xác minh;
trưng cầu giám định, tiến hành các biện pháp khác theo quy định của pháp luật để
giải quyết khiếu nại. Cơ quan, tổ chức, cá nhân khi nhận được yêu cầu phải thực
hiện đúng các yêu cầu đó.
Người có thẩm quyền giải
quyết khiếu nại lần hai phải ra quyết định giải quyết khiếu nại.
Điều 153. Nội dung quyết
định giải quyết khiếu nại lần hai
1. Ngày, tháng, năm ra
quyết định.
2. Họ, tên, địa chỉ của
người khiếu nại, người bị khiếu nại.
3. Nội dung khiếu nại.
4. Kết quả xác minh nội
dung khiếu nại.
5. Căn cứ pháp luật để giải
quyết khiếu nại.
6. Kết luận về nội dung
khiếu nại và việc giải quyết của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu.
7. Giữ nguyên, sửa đổi, hủy
bỏ hoặc yêu cầu sửa đổi, hủy bỏ một phần quyết định, hành vi bị khiếu nại hoặc
buộc chấm dứt thực hiện quyết định, hành vi bị khiếu nại.
8. Việc bồi thường thiệt
hại, khắc phục hậu quả do quyết định, hành vi trái pháp luật gây ra.
Mục 2. TỐ CÁO VÀ GIẢI QUYẾT
TỐ CÁO TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
Điều 154. Người có quyền
tố cáo
Công dân có quyền tố cáo
với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về hành vi vi phạm pháp luật của Thủ
trưởng cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên và công chức khác làm công
tác thi hành án dân sự gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của
Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức.
Điều 155. Quyền và nghĩa
vụ của người tố cáo
1. Người tố cáo có các
quyền sau đây:
a) Gửi đơn hoặc trực tiếp
tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền;
b) Yêu cầu giữ bí mật họ,
tên, địa chỉ, bút tích của mình;
c) Yêu cầu được thông báo
kết quả giải quyết tố cáo;
d) Yêu cầu cơ quan, tổ chức,
cá nhân có thẩm quyền bảo vệ khi bị đe dọa, trù dập, trả thù.
2. Người tố cáo có các
nghĩa vụ sau đây:
a) Trình bày trung thực,
cung cấp tài liệu liên quan đến nội dung tố cáo;
b) Nêu rõ họ, tên, địa chỉ
của mình;
c) Chịu trách nhiệm trước
pháp luật về việc tố cáo sai sự thật.
Điều 156. Quyền và nghĩa
vụ của người bị tố cáo
1. Người bị tố cáo có các
quyền sau đây:
a) Được thông báo về nội
dung tố cáo;
b) Đưa ra bằng chứng để
chứng minh nội dung tố cáo là không đúng sự thật;
c) Được khôi phục quyền
và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; được phục hồi danh dự, được bồi thường thiệt hại
do việc tố cáo không đúng gây ra;
d) Yêu cầu cơ quan, tổ chức,
cá nhân có thẩm quyền xử lý người tố cáo sai sự thật.
2. Người bị tố cáo có các
nghĩa vụ sau đây:
a) Giải trình về hành vi
bị tố cáo; cung cấp thông tin, tài liệu liên quan khi cơ quan, tổ chức, cá nhân
có thẩm quyền yêu cầu;
b) Chấp hành nghiêm chỉnh
quyết định xử lý của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền;
c) Bồi thường thiệt hại,
khắc phục hậu quả do hành vi trái pháp luật của mình gây ra theo quy định của
pháp luật.
Điều 157. Thẩm quyền, thời
hạn và thủ tục giải quyết tố cáo
1. Tố cáo hành vi vi phạm
pháp luật mà người bị tố cáo thuộc thẩm quyền quản lý của cơ quan, tổ chức nào
thì người đứng đầu cơ quan, tổ chức đó có trách nhiệm giải quyết.
2. Trường hợp người bị tố
cáo là Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án
dân sự cấp trên trực tiếp hoặc Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án dân sự
thuộc Bộ Tư pháp có trách nhiệm giải quyết.
Trường hợp người bị tố
cáo là Thủ trưởng cơ quan thi hành án cấp quân khu thì Thủ trưởng cơ quan quản
lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng có trách nhiệm giải quyết.
Thời hạn giải quyết tố
cáo là 60 ngày, kể từ ngày thụ lý; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải
quyết tố cáo có thể dài hơn, nhưng không quá 90 ngày.
3. Tố cáo về hành vi vi
phạm pháp luật có dấu hiệu tội phạm được giải quyết theo quy định của Bộ luật Tố
tụng hình sự.
4. Thủ tục giải quyết tố
cáo được thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo.
Điều 158. Trách nhiệm của
người có thẩm quyền giải quyết tố cáo
1. Cơ quan, tổ chức, cá
nhân có thẩm quyền trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tiếp
nhận và giải quyết kịp thời, đúng pháp luật; xử lý nghiêm minh người vi phạm;
áp dụng biện pháp cần thiết nhằm ngăn chặn thiệt hại có thể xảy ra; bảo đảm cho
quyết định giải quyết được thi hành nghiêm chỉnh và chịu trách nhiệm trước pháp
luật về quyết định của mình.
2. Người có thẩm quyền giải
quyết tố cáo mà không giải quyết, thiếu trách nhiệm trong việc giải quyết, giải
quyết trái pháp luật thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật
hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo
quy định của pháp luật.
Điều 159. Kiểm sát việc
tuân theo pháp luật trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án dân
sự
Viện kiểm sát kiểm sát việc
tuân theo pháp luật trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án dân
sự theo quy định của pháp luật. Viện kiểm sát có quyền yêu cầu, kiến nghị đối với
cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp và cấp dưới, cơ quan, tổ chức và cá nhân có
trách nhiệm để bảo đảm việc giải quyết khiếu nại, tố cáo có căn cứ, đúng pháp
luật.
Mục 3. KHÁNG NGHỊ VÀ GIẢI
QUYẾT KHÁNG NGHỊ VỀ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
Điều 160. Quyền kháng nghị
của Viện kiểm sát
1. Viện kiểm sát kháng
nghị đối với quyết định, hành vi của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, Chấp
hành viên cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp và cấp dưới theo quy định của Luật
Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân.
2. Thời hạn kháng nghị của
Viện kiểm sát cùng cấp là 15 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 30
ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc phát hiện hành vi vi phạm.
Điều 161. Trả lời kháng
nghị của Viện kiểm sát
1.[73] Thủ trưởng cơ quan
thi hành án dân sự có trách nhiệm trả lời kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân
đối với quyết định, hành vi về thi hành án của mình hoặc của Chấp hành viên thuộc
quyền quản lý trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được kháng nghị.
Trường hợp chấp nhận
kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thì trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ
ngày có văn bản trả lời kháng nghị, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải
thực hiện kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân.
2. Trường hợp Thủ trưởng
cơ quan thi hành án dân sự không nhất trí với kháng nghị của Viện kiểm sát thì
giải quyết như sau:
a)[74] Thủ trưởng cơ quan
thi hành án dân sự cấp huyện nơi có quyết định, hành vi bị kháng nghị phải báo
cáo với Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh và Viện trưởng Viện kiểm
sát nhân dân cấp tỉnh. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh phải xem
xét, trả lời trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được báo cáo; văn bản trả
lời của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh có hiệu lực thi hành;
b) Thủ trưởng cơ quan thi
hành án dân sự cấp tỉnh có quyết định, hành vi bị kháng nghị phải báo cáo với
Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp và Viện kiểm sát
nhân dân tối cao. Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư
pháp xem xét và trả lời trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được báo cáo.
Văn bản trả lời của Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư
pháp có hiệu lực thi hành;
c) Thủ trưởng cơ quan thi
hành án cấp quân khu có quyết định, hành vi bị kháng nghị phải báo cáo với Thủ
trưởng cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng và Viện kiểm sát quân sự
trung ương. Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng phải xem
xét và trả lời trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được báo cáo. Văn bản trả
lời của Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng có hiệu lực
thi hành.
3.[75] Trường hợp xét thấy
văn bản trả lời kháng nghị được quy định tại khoản 2 Điều này không có căn cứ
thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao yêu cầu Bộ trưởng Bộ Tư pháp xem
xét lại văn bản trả lời đã có hiệu lực thi hành của Thủ trưởng cơ quan thi hành
án dân sự cấp tỉnh, Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư
pháp; Bộ trưởng Bộ Quốc phòng xem xét lại văn bản trả lời đã có hiệu lực thi
hành của Thủ trưởng cơ quan thi hành án cấp quân khu, Thủ trưởng cơ quan quản
lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng. Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Bộ trưởng Bộ Quốc
phòng có trách nhiệm xem xét và trả lời bằng văn bản cho Viện trưởng Viện kiểm
sát nhân dân tối cao trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu.
Chương VII
XỬ LÝ VI PHẠM
Điều 162. Hành vi vi phạm
hành chính trong thi hành án dân sự
1. Đã nhận giấy báo, giấy
triệu tập lần thứ hai nhưng không có mặt để thực hiện việc thi hành án mà không
có lý do chính đáng.
2. Cố tình không thực hiện
quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án hoặc bản án, quyết định
phải thi hành ngay.
3. Không thực hiện công
việc phải làm hoặc không chấm dứt thực hiện công việc không được làm theo bản
án, quyết định.
4. Có điều kiện thi hành
án nhưng cố tình trì hoãn việc thực hiện nghĩa vụ thi hành án.
5. Tẩu tán hoặc làm hư hỏng
tài sản để không thực hiện nghĩa vụ thi hành án hoặc để trốn tránh việc kê biên
tài sản.
6. Không thực hiện yêu cầu
của Chấp hành viên về việc cung cấp thông tin, giao giấy tờ liên quan đến tài sản
bị xử lý để thi hành án mà không có lý do chính đáng.
7. Sử dụng trái phép,
tiêu dùng, chuyển nhượng, đánh tráo, cất giấu hoặc thay đổi tình trạng tài sản
đã kê biên nhưng chưa tới mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
8. Chống đối, cản trở hay
xúi giục người khác chống đối, cản trở; có lời nói, hành động lăng mạ, xúc phạm
người thi hành công vụ trong thi hành án; gây rối trật tự nơi thi hành án hoặc
có hành vi vi phạm khác gây trở ngại cho hoạt động thi hành án dân sự nhưng
chưa tới mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
9. Phá hủy niêm phong hoặc
hủy hoại tài sản đã kê biên nhưng chưa tới mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
10. Không chấp hành quyết
định của Chấp hành viên về việc khấu trừ tài khoản, trừ vào thu nhập, thu hồi
giấy tờ có giá của người phải thi hành án.
Điều 163. Thẩm quyền xử
phạt vi phạm hành chính
1. Những người sau đây có
quyền xử phạt vi phạm hành chính trong thi hành án dân sự:
a) Chấp hành viên đang giải
quyết việc thi hành án;
b)[76] (được bãi bỏ)
c) Thủ trưởng cơ quan thi
hành án dân sự cấp huyện;
d) Thủ trưởng cơ quan thi
hành án dân sự cấp tỉnh, Thủ trưởng cơ quan thi hành án cấp quân khu.
đ)[77] Thủ trưởng cơ quan
quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp; Thủ trưởng cơ quan quản lý thi
hành án thuộc Bộ Quốc phòng.
2. Mức xử phạt vi phạm
hành chính trong thi hành án dân sự theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm
hành chính.
Điều 164. Xử phạt vi phạm
và giải quyết khiếu nại, tố cáo về xử phạt vi phạm hành chính trong thi hành án
dân sự
1. Nguyên tắc xử phạt, thời
hiệu xử phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và trình tự, thủ tục xử phạt cụ thể
thực hiện theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.
2. Việc khiếu nại, tố cáo
và giải quyết khiếu nại, tố cáo trong xử phạt vi phạm hành chính về thi hành án
dân sự thực hiện theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có
liên quan.
Điều 165. Xử lý vi phạm
1. Người phải thi hành án
cố ý không chấp hành bản án, quyết định; không tự nguyện thi hành các quyết định
về thi hành án thì tùy theo tính chất và mức độ vi phạm mà bị xử phạt vi phạm
hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
2. Cơ quan, tổ chức, cá
nhân không thực hiện các quyết định về thi hành án thì tùy theo tính chất và mức
độ vi phạm mà bị xử phạt vi phạm hành chính, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường;
nếu là cá nhân thì còn có thể bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm
hình sự.
3. Người lợi dụng chức vụ,
quyền hạn cố ý cản trở việc thi hành án hoặc ép buộc Chấp hành viên thi hành án
trái pháp luật; phá hủy niêm phong, tiêu dùng, chuyển nhượng, đánh tráo, cất giấu,
hủy hoại vật chứng, tài sản tạm giữ, tài sản bị kê biên thì tùy theo tính chất,
mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu
gây thiệt hại thì phải bồi thường.
4. Thủ trưởng cơ quan thi
hành án dân sự cố ý không ra quyết định thi hành án hoặc ra quyết định về thi
hành án trái pháp luật; Chấp hành viên không thi hành đúng bản án, quyết định,
trì hoãn việc thi hành án, áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án trái pháp luật;
vi phạm quy chế đạo đức của Chấp hành viên thì bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu
trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của
pháp luật.
Chương VIII
NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA
CƠ QUAN, TỔ CHỨC TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
Điều 166. Nhiệm vụ, quyền
hạn của Chính phủ trong thi hành án dân sự
1. Thống nhất quản lý nhà
nước về thi hành án dân sự trong phạm vi cả nước.
2. Chỉ đạo các cơ quan của
Chính phủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong thi hành án dân sự.
3. Phối hợp với Tòa án
nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong thi hành án dân sự.
4. Định kỳ hàng năm báo
cáo Quốc hội về công tác thi hành án dân sự.
Điều 167. Nhiệm vụ, quyền
hạn của Bộ Tư pháp trong thi hành án dân sự
1. Bộ Tư pháp chịu trách
nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về thi hành án dân sự, có các
nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Ban hành hoặc trình cơ
quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật về thi hành án dân sự;
b) Xây dựng và tổ chức thực
hiện chính sách, kế hoạch về thi hành án dân sự;
c) Phổ biến, giáo dục
pháp luật về thi hành án dân sự;
d) Quản lý hệ thống tổ chức,
biên chế và hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự; quyết định thành lập, giải
thể các cơ quan thi hành án dân sự; đào tạo, bổ nhiệm, miễn nhiệm Chấp hành
viên, Thẩm tra viên;
đ) Hướng dẫn, chỉ đạo, bồi
dưỡng nghiệp vụ cho Chấp hành viên, Thẩm tra viên và công chức khác làm công
tác thi hành án dân sự;
e)[78] Thanh tra việc sử
dụng ngân sách, việc tuyển dụng, sử dụng, quản lý, thực hiện chế độ chính sách
đối với công chức, viên chức, người lao động trong hệ thống tổ chức thi hành án
dân sự; kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, khen thưởng, xử lý vi phạm
trong công tác thi hành án dân sự;
g) Quyết định kế hoạch
phân bổ kinh phí, bảo đảm cơ sở vật chất, phương tiện hoạt động của cơ quan thi
hành án dân sự;
h) Hợp tác quốc tế trong
lĩnh vực thi hành án dân sự;
i) Tổng kết công tác thi
hành án dân sự;
k) Ban hành và thực hiện
chế độ thống kê về thi hành án dân sự;
l) Báo cáo Chính phủ về
công tác thi hành án dân sự.
2. Cơ quan quản lý thi
hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp giúp Bộ trưởng Bộ Tư pháp quản lý nhà nước về
công tác thi hành án dân sự và thực hiện quản lý chuyên ngành về thi hành án
dân sự theo quy định của Chính phủ.
Điều 168. Nhiệm vụ, quyền
hạn của Bộ Quốc phòng trong thi hành án dân sự
1. Phối hợp với Bộ Tư
pháp quản lý nhà nước về thi hành án dân sự trong quân đội:
a) Ban hành hoặc trình cấp
có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật về thi hành án dân sự trong
quân đội;
b) Bổ nhiệm, miễn nhiệm
Chấp hành viên; đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ thi hành án dân sự cho Chấp hành
viên, Thẩm tra viên và nhân viên làm công tác thi hành án dân sự trong quân đội;
c) Tổng kết, báo cáo
Chính phủ về công tác thi hành án dân sự;
2. Thực hiện các nhiệm vụ
sau đây:
a) Hướng dẫn, chỉ đạo
nghiệp vụ thi hành án cho cơ quan thi hành án cấp quân khu; phổ biến, giáo dục
pháp luật về thi hành án dân sự trong quân đội;
b) Quản lý hệ thống tổ chức,
biên chế; quyết định thành lập, giải thể các cơ quan thi hành án trong quân đội;
bổ nhiệm, miễn nhiệm Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan thi hành án cấp quân
khu; khen thưởng, kỷ luật đối với quân nhân làm công tác thi hành án trong quân
đội;
c)[79] Thanh tra việc sử
dụng ngân sách, việc thực hiện chế độ chính sách và bố trí, sử dụng cán bộ thi
hành án; kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, khen thưởng, xử lý vi phạm về
thi hành án trong quân đội;
d) Quản lý, lập kế hoạch
phân bổ kinh phí, bảo đảm cơ sở vật chất, phương tiện hoạt động thi hành án
trong quân đội.
3. Cơ quan quản lý thi
hành án thuộc Bộ Quốc phòng giúp Bộ trưởng Bộ Quốc phòng thực hiện nhiệm vụ,
quyền hạn quy định tại Điều này theo quy định của Chính phủ.
Điều 169. Nhiệm vụ, quyền
hạn của Bộ Công an trong thi hành án dân sự
1. Phối hợp với Bộ Tư
pháp trong việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật về thi hành án dân sự.
2. Chỉ đạo cơ quan Công
an bảo vệ cưỡng chế thi hành án, phối hợp bảo vệ kho vật chứng của cơ quan thi
hành án dân sự trong trường hợp cần thiết.
3. Chỉ đạo trại giam, trại
tạm giam nơi người phải thi hành án đang chấp hành hình phạt tù thu các khoản
tiền, tài sản mà người phải thi hành án, thân nhân của người phải thi hành án nộp
để thi hành án.
4. Chỉ đạo cơ quan Công
an có thẩm quyền phối hợp với cơ quan thi hành án dân sự đề nghị Tòa án xét,
quyết định miễn, giảm hình phạt cho những người phải thi hành án có đủ điều kiện
theo quy định của pháp luật.
5. Phối hợp với Bộ Tư
pháp trong việc tổng kết công tác thi hành án dân sự.
Điều 170. Nhiệm vụ, quyền
hạn của Tòa án trong thi hành án dân sự[80]
1. Nhiệm vụ, quyền hạn của
Tòa án nhân dân tối cao:
a) Phối hợp với Bộ Tư
pháp trong việc ban hành văn bản pháp luật về thi hành án dân sự;
b) Yêu cầu cơ quan thi
hành án dân sự báo cáo kết quả thi hành bản án, quyết định trong trường hợp cần
thiết;
c) Giải quyết yêu cầu, kiến
nghị và chỉ đạo Tòa án các cấp giải quyết yêu cầu, kiến nghị của cơ quan thi
hành án dân sự trong thời hạn theo quy định của pháp luật;
d) Chỉ đạo Tòa án các cấp
phối hợp với các cơ quan liên quan trong thi hành án dân sự;
đ) Phối hợp với Bộ Tư
pháp trong việc tổng kết công tác thi hành án dân sự.
2. Nhiệm vụ, quyền hạn của
Tòa án nhân dân cấp cao, Tòa án quân sự trung ương:
a) Yêu cầu cơ quan thi
hành án dân sự báo cáo kết quả thi hành bản án, quyết định trong trường hợp cần
thiết;
b) Trả lời kiến nghị của
cơ quan thi hành án dân sự về việc xem xét lại bản án, quyết định của Tòa án
theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày nhận được
kiến nghị;
c) Xem xét theo thủ tục
tái thẩm quyết định miễn, giảm thi hành án theo quy định của pháp luật.
3. Nhiệm vụ, quyền hạn của
Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Tòa án nhân dân quận,
huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương, Tòa án quân sự quân khu và
tương đương:
a) Chuyển giao bản án,
quyết định, tài liệu và vật chứng có liên quan cho cơ quan thi hành án dân sự
theo quy định của Luật này;
b) Xem xét, quyết định việc
miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước; giải
quyết kháng nghị về quyết định miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản
thu nộp ngân sách nhà nước theo quy định của Luật này;
c) Thụ lý và kịp thời giải
quyết yêu cầu của cơ quan thi hành án dân sự, đương sự về việc xác định quyền sở
hữu, phân chia tài sản hoặc giải quyết tranh chấp về quyền sở hữu, sử dụng tài
sản; hủy giấy tờ, giao dịch phát sinh trong quá trình thi hành án thuộc thẩm
quyền của Tòa án;
d) Giải quyết kiến nghị,
yêu cầu của cơ quan thi hành án dân sự và theo dõi kết quả xử lý sau khi Tòa án
trả lời.
4. Khi xét xử lại vụ án
mà bản án, quyết định đã bị hủy một phần hoặc toàn bộ theo quyết định giám đốc
thẩm, tái thẩm, Tòa án phải giải quyết vấn đề tài sản, nghĩa vụ đã được thi
hành theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật nhưng bị hủy.
Điều 171. Nhiệm vụ, quyền
hạn của Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong thi hành án dân sự
1. Phối hợp với Bộ Tư
pháp trong việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật về thi hành án dân sự.
2. Kiểm sát và chỉ đạo Viện
kiểm sát các cấp thực hiện việc kiểm sát thi hành án dân sự theo quy định của
pháp luật.
3. Phối hợp với Bộ Tư
pháp trong việc tổng kết công tác thi hành án dân sự.
Điều 172. Nhiệm vụ, quyền
hạn của Tư lệnh quân khu và tương đương trong thi hành án dân sự
1. Chỉ đạo việc tổ chức
phối hợp với các cơ quan có liên quan trong việc thi hành các vụ án lớn, phức tạp,
có ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn quân
khu và tương đương theo đề nghị của Thủ trưởng cơ quan thi hành án cấp quân
khu.
2. Yêu cầu cơ quan thi
hành án cấp quân khu báo cáo công tác, kiểm tra, thanh tra công tác thi hành án
trên địa bàn quân khu và tương đương.
3. Có ý kiến bằng văn bản
về việc bổ nhiệm, miễn nhiệm Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan thi hành án cấp
quân khu.
4. Quyết định khen thưởng
hoặc đề nghị cấp có thẩm quyền khen thưởng tập thể, cá nhân có thành tích trong
công tác thi hành án dân sự.
Điều 173. Nhiệm vụ, quyền
hạn của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong thi hành án dân sự[81]
1. Chỉ đạo việc tổ chức
phối hợp các cơ quan có liên quan trong thi hành án dân sự trên địa bàn; giải
quyết kịp thời những vướng mắc, khó khăn phát sinh trong việc phối hợp giữa các
cơ quan có liên quan trong thi hành án dân sự.
2. Chỉ đạo việc tổ chức
cưỡng chế thi hành các vụ án lớn, phức tạp, có ảnh hưởng đến an ninh chính trị,
trật tự an toàn xã hội ở địa phương theo đề nghị của Thủ trưởng cơ quan thi
hành án dân sự cấp tỉnh.
3. Có ý kiến bằng văn bản
về việc bổ nhiệm, miễn nhiệm Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan thi hành án dân
sự cấp tỉnh.
4. Yêu cầu cơ quan thi
hành án dân sự cấp tỉnh báo cáo công tác thi hành án dân sự ở địa phương; cho ý
kiến đối với báo cáo của cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh trước khi trình Hội
đồng nhân dân cùng cấp.
5. Yêu cầu cơ quan thi
hành án dân sự cấp tỉnh kiểm tra công tác thi hành án ở địa phương; đề nghị cơ
quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp kiểm tra công tác thi hành án
dân sự ở địa phương.
6. Quyết định khen thưởng
hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền khen thưởng tập thể, cá nhân có thành tích
trong công tác thi hành án dân sự.
7. Kiến nghị cơ quan, tổ
chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý kịp thời vi phạm pháp luật về thi hành án dân
sự.
Điều 174. Nhiệm vụ, quyền
hạn của Ủy ban nhân dân cấp huyện trong thi hành án dân sự[82]
1. Chỉ đạo việc tổ chức
phối hợp các cơ quan có liên quan trong thi hành án dân sự trên địa bàn; giải
quyết kịp thời những vướng mắc, khó khăn phát sinh trong việc phối hợp giữa các
cơ quan có liên quan trong thi hành án dân sự.
2. Chỉ đạo việc tổ chức
cưỡng chế thi hành các vụ án lớn, phức tạp, có ảnh hưởng đến an ninh chính trị,
trật tự an toàn xã hội ở địa phương theo đề nghị của Thủ trưởng cơ quan thi
hành án dân sự cấp huyện.
3. Có ý kiến bằng văn bản
về việc bổ nhiệm, miễn nhiệm Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan thi hành án dân
sự cấp huyện.
4. Yêu cầu cơ quan thi
hành án dân sự cấp huyện tự kiểm tra, đề nghị Thủ trưởng cơ quan thi hành án
dân sự cấp tỉnh kiểm tra công tác thi hành án dân sự ở địa phương.
5. Yêu cầu cơ quan thi
hành án dân sự cấp huyện báo cáo công tác thi hành án dân sự ở địa phương; cho
ý kiến đối với báo cáo của cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện trước khi trình
Hội đồng nhân dân theo quy định của pháp luật.
6. Quyết định khen thưởng
hoặc có ý kiến đề nghị cơ quan có thẩm quyền khen thưởng tập thể, cá nhân có
thành tích trong công tác thi hành án dân sự.
7. Kiến nghị cơ quan, tổ
chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý kịp thời vi phạm pháp luật về thi hành án dân
sự.
Điều 175. Nhiệm vụ, quyền
hạn của Ủy ban nhân dân cấp xã trong thi hành án dân sự
Chủ tịch Ủy ban nhân dân
cấp xã trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình phối hợp với Chấp hành viên
và cơ quan thi hành án dân sự trong việc thông báo thi hành án, xác minh điều
kiện thi hành án, áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án và
các nhiệm vụ khác về thi hành án dân sự trên địa bàn.
Điều 176. Trách nhiệm của
Kho bạc nhà nước, ngân hàng và tổ chức tín dụng khác trong thi hành án dân sự
1. Cung cấp đúng, đầy đủ,
kịp thời thông tin, số liệu về tài khoản của người phải thi hành án theo yêu cầu
của Chấp hành viên, cơ quan thi hành án dân sự.
2. Thực hiện nghiêm chỉnh,
kịp thời yêu cầu của Chấp hành viên về phong tỏa tài khoản, phong tỏa tài sản;
khấu trừ tiền trong tài khoản; giải tỏa việc phong tỏa tài khoản, phong tỏa tài
sản của người phải thi hành án.
3. Thực hiện đầy đủ yêu cầu
khác của Chấp hành viên, cơ quan thi hành án dân sự theo quy định của Luật này.
Điều 177. Trách nhiệm của
Bảo hiểm xã hội trong thi hành án dân sự
1. Cung cấp đúng, đầy đủ,
kịp thời thông tin, số liệu về các khoản thu nhập của người phải thi hành án
đang được chi trả qua Bảo hiểm xã hội theo yêu cầu của Chấp hành viên, cơ quan
thi hành án dân sự.
2. Thực hiện nghiêm chỉnh,
kịp thời yêu cầu của Chấp hành viên về khấu trừ thu nhập của người phải thi
hành án để thi hành án.
3. Thực hiện đầy đủ yêu cầu
khác của Chấp hành viên, cơ quan thi hành án dân sự theo quy định của Luật này.
Điều 178. Trách nhiệm của
cơ quan đăng ký tài sản, đăng ký giao dịch bảo đảm trong thi hành án dân sự
1. Tạm dừng hoặc dừng việc
thực hiện các yêu cầu liên quan đến các giao dịch đối với tài sản của người phải
thi hành án đăng ký tại cơ quan đăng ký tài sản, đăng ký giao dịch bảo đảm ngay
sau khi nhận được yêu cầu của Chấp hành viên, cơ quan thi hành án dân sự.
2. Thực hiện việc đăng ký
quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất cho người mua được tài sản, người được
thi hành án nhận tài sản để trừ vào số tiền được thi hành án.
3. Thu hồi, sửa đổi, hủy
các giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng đất, giấy tờ đăng ký giao dịch
bảo đảm đã cấp cho người phải thi hành án; thực hiện việc cấp mới các giấy tờ
theo quy định của pháp luật.
Điều 179. Trách nhiệm của
cơ quan ra bản án, quyết định trong thi hành án
1. Bảo đảm bản án, quyết
định đã tuyên chính xác, rõ ràng, cụ thể, phù hợp với thực tế.
2. Có văn bản giải thích
những nội dung mà bản án, quyết định tuyên chưa rõ trong thời hạn 15 ngày, kể từ
ngày nhận được yêu cầu của đương sự hoặc của cơ quan thi hành án dân sự.
Trường hợp vụ việc phức tạp
thì thời hạn trả lời không quá 30 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu.
3.[83] (được bãi bỏ)
4.[84] (được bãi bỏ)
Điều 180. Nhiệm vụ, quyền
hạn của cơ quan, tổ chức được giao theo dõi, quản lý người đang chấp hành án
hình sự
Cơ quan, tổ chức được
giao theo dõi, quản lý người đang chấp hành án hình sự theo quy định của Bộ luật
Tố tụng hình sự trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối
hợp với cơ quan thi hành án dân sự về các việc sau đây:
1. Giáo dục người đang chấp
hành án hình sự thực hiện nghiêm túc nghĩa vụ dân sự theo bản án, quyết định của
Tòa án;
2. Cung cấp cho cơ quan
thi hành án dân sự thông tin liên quan về người phải thi hành nghĩa vụ về dân sự
đang chấp hành án hình sự; thực hiện việc thông báo giấy tờ về thi hành án dân
sự cho người phải thi hành án đang chấp hành án hình sự;
3. Phối hợp với cơ quan
thi hành án dân sự thu tiền thi hành án theo quy định của Luật này;
4. Kịp thời thông báo cho
cơ quan thi hành án dân sự về nơi cư trú của người bị kết án đã chấp hành xong
hình phạt tù, được đặc xá, được miễn chấp hành hình phạt tù.
Chương IX
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH[85]
Điều 181. Tương trợ tư
pháp về dân sự trong thi hành án
1. Việc yêu cầu nước
ngoài tương trợ tư pháp về dân sự trong thi hành án, việc tiếp nhận và xử lý ủy
thác tư pháp về thi hành án của nước ngoài trong quá trình thi hành án được thực
hiện theo quy định của pháp luật về tương trợ tư pháp.
2. Cơ quan thi hành án
dân sự có yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp về dân sự trong thi hành án phải
lập hồ sơ ủy thác tư pháp theo quy định của pháp luật về tương trợ tư pháp.
Điều 182. Hiệu lực thi
hành
Luật này có hiệu lực thi
hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2009.
Pháp lệnh Thi hành án dân
sự năm 2004 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực.
Điều 183. Quy định chi tiết
và hướng dẫn thi hành
Chính phủ, Tòa án nhân
dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của
mình quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành các điều, khoản được giao trong Luật;
hướng dẫn những nội dung cần thiết khác của Luật này để đáp ứng yêu cầu quản lý
nhà nước./.
XÁC THỰC VĂN BẢN HỢP NHẤT
CHỦ NHIỆM
Nguyễn Hạnh Phúc
[1] Luật số 64/2014/QH13
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự có căn cứ ban hành như
sau:
“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Quốc hội ban hành Luật sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự số 26/2008/QH12.”.
Luật Cạnh tranh số
23/2018/QH14 có căn cứ ban hành như sau:
“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Quốc hội ban hành Luật Cạnh
tranh.”.
Luật số 67/2020/QH14 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính có căn cứ ban hành
như sau:
“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Quốc hội ban hành Luật sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13 đã
được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 54/2014/QH13 và Luật số
18/2017/QH14.”.
[2] Điều này được sửa đổi,
bổ sung theo quy định tại khoản 1 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2015.
[3] Cụm từ “quyết định xử
lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh” được thay thế bằng
cụm từ “quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc
gia, Hội đồng xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh, quyết định giải quyết khiếu nại
quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia,
Hội đồng giải quyết khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh” theo quy định
tại điểm a khoản 1 Điều 116 của Luật Cạnh tranh số 23/2018/QH14, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2019.
[4] Điểm này được sửa đổi,
bổ sung lần thứ nhất theo quy định tại khoản 2 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2015 như sau:
“Quyết định xử lý vụ việc
cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh mà sau 30 ngày, kể từ ngày có
hiệu lực pháp luật đương sự không tự nguyện thi hành, không khởi kiện tại Tòa
án;”
Điểm này được sửa đổi, bổ
sung lần thứ hai theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 116 của Luật Cạnh tranh
số 23/2018/QH14, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2019.
[5] Điểm này được sửa đổi,
bổ sung theo quy định tại khoản 2 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2015.
[6] Điểm này được bổ sung
theo quy định tại khoản 2 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2015.
[7] Khoản này được bổ
sung theo quy định tại khoản 3 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2015.
[8] Điều này được sửa đổi,
bổ sung theo quy định tại khoản 4 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2015.
[9] Điều này được bổ sung
theo quy định tại khoản 5 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2015.
[10] Điều này được bổ
sung theo quy định tại khoản 5 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2015.
[11] Khoản này được sửa đổi,
bổ sung theo quy định tại khoản 6 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2015.
[12] Khoản này được sửa đổi,
bổ sung theo quy định tại khoản 7 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2015.
[13] Khoản này được sửa đổi,
bổ sung theo quy định tại khoản 8 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2015.
[14] Khoản này được sửa đổi,
bổ sung theo quy định tại khoản 9 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2015.
[15] Khoản này được sửa đổi,
bổ sung theo quy định tại khoản 10 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2015.
[16] Khoản này được sửa đổi,
bổ sung theo quy định tại khoản 10 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2015.
[17] Khoản này được sửa đổi,
bổ sung theo quy định tại khoản 10 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2015.
[18] Cụm từ “Hội đồng xử
lý vụ việc cạnh tranh” được thay thế bằng cụm từ “Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh
Quốc gia, Hội đồng xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh, Hội đồng giải quyết khiếu
nại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều
116 của Luật Cạnh tranh số 23/2018/QH14, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2019.
[19] Cụm từ “Hội đồng xử
lý vụ việc cạnh tranh” được thay thế bằng cụm từ “Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh
Quốc gia, Hội đồng xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh, Hội đồng giải quyết khiếu
nại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều
116 của Luật Cạnh tranh số 23/2018/QH14, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2019.
[20] Khoản này được sửa đổi,
bổ sung theo quy định tại khoản 11 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2015.
[21] Khoản này được sửa đổi,
bổ sung theo quy định tại khoản 11 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2015.
[22] Khoản này được sửa đổi,
bổ sung theo quy định tại khoản 11 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2015.
[23] Điều này được sửa đổi,
bổ sung theo quy định tại khoản 12 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2015.
[24] Điều này được sửa đổi,
bổ sung theo quy định tại khoản 13 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2015.
[25] Điều này được bãi bỏ
theo quy định tại khoản 49 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2015.
[26] Điều này được bãi bỏ
theo quy định tại khoản 49 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2015.
[27] Điều này được bãi bỏ
theo quy định tại khoản 49 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2015.
[28] Cụm từ “Tòa án cấp
huyện” được thay bằng cụm từ “Tòa án nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố
thuộc tỉnh và tương đương” theo quy định tại khoản 48 Điều 1 của Luật số
64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
[29] Cụm từ “Tòa án cấp tỉnh”
được thay bằng cụm từ “Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương”
theo quy định tại khoản 48 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2015.
[30] Cụm từ “Tòa án cấp
huyện” được thay bằng cụm từ “Tòa án nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố
thuộc tỉnh và tương đương” theo quy định tại khoản 48 Điều 1 của Luật số
64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
[31] Điểm này được sửa đổi,
bổ sung theo quy định tại khoản 14 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2015.
[32] Khoản này được sửa đổi,
bổ sung theo quy định tại khoản 14 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2015.
[33] Cụm từ “quyết định xử
lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh” được thay thế bằng
cụm từ “quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc
gia, Hội đồng xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh, quyết định giải quyết khiếu nại
quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia,
Hội đồng giải quyết khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh” theo quy định
tại điểm a khoản 1 Điều 116 của Luật Cạnh tranh số 23/2018/QH14, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2019.
[34] Điểm này được sửa đổi,
bổ sung theo quy định tại khoản 14 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2015.
[35] Điều này được sửa đổi,
bổ sung theo quy định tại khoản 15 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2015.
[36] Điều này được sửa đổi,
bổ sung theo quy định tại khoản 16 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2015.
[37] Điều này được sửa đổi,
bổ sung theo quy định tại khoản 17 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2015.
[38] Điều này được bổ
sung theo quy định tại khoản 18 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2015.
[39] Điều này được sửa đổi,
bổ sung theo quy định tại khoản 19 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2015.
[40] Điều này được sửa đổi,
bổ sung theo quy định tại khoản 20 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2015.
[41] Khoản này được sửa đổi,
bổ sung theo quy định tại khoản 21 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2015.
[42] Khoản này được sửa đổi,
bổ sung theo quy định tại khoản 22 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2015.
[43] Điều này được bãi bỏ
theo quy định tại khoản 49 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2015.
[44] Điều này được sửa đổi,
bổ sung theo quy định tại khoản 23 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2015.
[45] Điểm này được sửa đổi,
bổ sung theo quy định tại khoản 24 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2015.
[46] Điểm này được sửa đổi,
bổ sung theo quy định tại khoản 24 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2015.
[47] Cụm từ “quyết định xử
lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh” được thay thế bằng
cụm từ “quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc
gia, Hội đồng xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh, quyết định giải quyết khiếu nại
quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia,
Hội đồng giải quyết khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh” theo quy định
tại điểm a khoản 1 Điều 116 của Luật Cạnh tranh số 23/2018/QH14, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2019.
[48] Điều này được sửa đổi,
bổ sung theo quy định tại khoản 25 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2015.
[49] Cụm từ “Tòa án cấp
huyện” được thay bằng cụm từ “Tòa án nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố
thuộc tỉnh và tương đương” theo quy định tại khoản 48 Điều 1 của Luật số
64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
[50] Điều này được sửa đổi,
bổ sung theo quy định tại khoản 26 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2015.
[51] Điều này được sửa đổi,
bổ sung theo quy định tại khoản 27 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2015.
[52] Điều này được sửa đổi,
bổ sung theo quy định tại khoản 28 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2015.
[53] Điều này được sửa đổi,
bổ sung theo quy định tại khoản 29 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2015.
[54] Điểm này được sửa đổi,
bổ sung theo quy định tại khoản 30 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2015.
[55] Điểm này được sửa đổi,
bổ sung theo quy định tại khoản 30 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2015.
[56] Điều này được sửa đổi,
bổ sung theo quy định tại khoản 31 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2015.
[57] Điều này được sửa đổi,
bổ sung theo quy định tại khoản 32 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2015.
[58] Điểm này được sửa đổi,
bổ sung theo quy định tại khoản 33 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2015.
[59] Khoản này được bổ
sung theo quy định tại khoản 33 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2015.
[60] Điều này được sửa đổi,
bổ sung theo quy định tại khoản 34 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2015.
[61] Điều này được sửa đổi,
bổ sung theo quy định tại khoản 35 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2015.
[62] Điều này được sửa đổi,
bổ sung theo quy định tại khoản 36 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2015.
[63] Khoản này được sửa đổi,
bổ sung theo quy định tại khoản 37 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2015.
[64] Khoản này được sửa đổi,
bổ sung theo quy định tại khoản 37 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2015.
[65] Khoản này được sửa đổi,
bổ sung theo quy định tại khoản 37 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2015.
[66] Khoản này được sửa đổi,
bổ sung theo quy định tại khoản 37 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2015.
[67] Điểm này được sửa đổi,
bổ sung theo quy định tại khoản 38 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2015.
[68] Điều này được sửa đổi,
bổ sung theo quy định tại khoản 39 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2015.
[69] Khoản này được sửa đổi,
bổ sung theo quy định tại khoản 40 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2015.
[70] Điều này được bãi bỏ
theo quy định tại khoản 49 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2015.
[71] Điều này được bãi bỏ
theo quy định tại khoản 49 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2015.
[72] Khoản này được bổ
sung theo quy định tại khoản 41 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2015.
[73] Khoản này được sửa đổi,
bổ sung theo quy định tại khoản 42 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2015.
[74] Điểm này được sửa đổi,
bổ sung theo quy định tại khoản 42 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2015.
[75] Khoản này được sửa đổi,
bổ sung theo quy định tại khoản 42 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2015.
[76] Điểm này được bãi bỏ
theo quy định tại khoản 49 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2015.
[77] Điểm này được bổ
sung theo quy định tại Điều 2 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm
2022.
[78] Điểm này được sửa đổi,
bổ sung theo quy định tại khoản 43 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2015.
[79] Điểm này được sửa đổi,
bổ sung theo quy định tại khoản 44 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2015.
[80] Điều này được sửa đổi,
bổ sung theo quy định tại khoản 45 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2015.
[81] Điều này được sửa đổi,
bổ sung theo quy định tại khoản 46 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2015.
[82] Điều này được sửa đổi,
bổ sung theo quy định tại khoản 47 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2015.
[83] Khoản này được bãi bỏ
theo quy định tại khoản 49 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2015.
[84] Khoản này được bãi bỏ
theo quy định tại khoản 49 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2015.
[85] Điều 2 và Điều 3 của
Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự,
có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015 quy định như sau:
“Điều 2
1. Đối với các việc thi
hành án đã được thi hành xong trước thời điểm Luật này có hiệu lực mà sau khi
Luật này có hiệu lực đương sự còn khiếu nại thì áp dụng quy định của Luật Thi
hành án dân sự số 26/2008/QH12 để giải quyết.
Đối với các việc thi hành
án đến thời điểm Luật này có hiệu lực mà chưa được thi hành hoặc chưa thi hành
xong thì áp dụng các quy định của Luật này để thi hành; các quyết định, hành vi
của cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên đã được thực hiện theo quy định
của Luật Thi hành án dân sự số 26/2008/QH12 có giá trị thi hành.
2. Đối với trường hợp đã
trả đơn yêu cầu thi hành án trước ngày Luật này có hiệu lực thì cơ quan thi
hành án dân sự ra quyết định thi hành án khi đương sự yêu cầu theo quy định của
Luật này.
3. Người có đủ điều kiện
quy định tại khoản 1 và điểm a khoản 2 hoặc điểm a khoản 3 Điều 18 của Luật Thi
hành án dân sự số 26/2008/QH12, cam kết tình nguyện làm việc từ 05 năm trở lên ở
biên giới, hải đảo, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thì được
tuyển chọn, bổ nhiệm làm Chấp hành viên sơ cấp hoặc Chấp hành viên trung cấp
không qua thi tuyển.
Thời hạn thực hiện việc bổ
nhiệm Chấp hành viên không qua thi tuyển theo quy định tại khoản này là 05 năm,
kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành.
Chính phủ quy định danh
sách các cơ quan thi hành án dân sự thuộc địa bàn được tuyển chọn, bổ nhiệm Chấp
hành viên không qua thi tuyển theo quy định tại khoản này.
4. Đối với người phải thi
hành án là người bị kết án thuộc trường hợp quy định tại điểm c mục 3 Nghị quyết
số 32/1999/QH10 của Quốc hội và điểm đ khoản 2 Điều 1 Nghị quyết số
33/2009/QH12 của Quốc hội thì được miễn nghĩa vụ thi hành án phí trong bản án
hình sự mà người đó phải chấp hành.
Điều 3
1. Luật này có hiệu lực
thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
2. Chính phủ, Tòa án nhân
dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp trong phạm vi nhiệm vụ,
quyền hạn của mình quy định chi tiết thi hành các điều, khoản được giao trong
Luật này.”.
Điều 117 và Điều 118 của
Luật Cạnh tranh số 23/2018/QH14, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2019 quy
định như sau:
“Điều 117. Hiệu lực thi
hành
1. Luật này có hiệu lực
thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2019.
2. Luật Cạnh tranh số
27/2004/QH11 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành.
Điều 118. Điều khoản chuyển
tiếp
Kể từ ngày Luật này có hiệu
lực thi hành, hành vi vi phạm pháp luật về cạnh tranh theo quy định của Luật Cạnh
tranh số 27/2004/QH11 được tiếp tục xem xét, giải quyết như sau:
1. Hành vi vi phạm đang bị
điều tra, xử lý mà được xác định không vi phạm quy định của Luật này thì được
đình chỉ điều tra, xử lý;
2. Hành vi vi phạm đang bị
điều tra, xử lý, giải quyết khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh mà vẫn
bị xác định vi phạm quy định của Luật này thì tiếp tục bị điều tra, xử lý, giải
quyết khiếu nại theo quy định của Luật này. Trường hợp hình thức xử lý hoặc mức
phạt tiền đối với hành vi vi phạm theo quy định của Luật này cao hơn quy định của
Luật Cạnh tranh số 27/2004/QH11 thì áp dụng quy định của Luật Cạnh tranh số 27/2004/QH11.”.
Điều 3 của Luật số
67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022 quy định như sau:
“Điều 3. Hiệu lực thi
hành
Luật này có hiệu lực thi
hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.”.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét