Nội dung Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật được biên tập lại từ 04 nguồn chính: https://vbpl.vn/; www.congbao.hochiminhcity.gov.vn; https://congbao.chinhphu.vn/ và https://www.ipvietnam.gov.vn /

218 DANH MỤC VĂN BẢN PHÁP LUẬT

Điều 27. Trách nhiệm với cử tri

 Điều 27. Trách nhiệm với cử tri

  1. Đại biểu Quốc hội liên hệ chặt chẽ với cử tri, chịu sự giám sát của cử tri, thường xuyên tiếp xúc với cử tri, tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng của cử tri; thu thập và phản ánh trung thực ý kiến, kiến nghị của cử tri với Quốc hội, các cơ quan, tổ chức hữu quan; phổ biến và vận động Nhân dân thực hiện Hiến pháp và pháp luật.
  2. Đại biểu Quốc hội tiếp xúc cử tri[7] theo chương trình tiếp xúc cử tri của Đoàn đại biểu Quốc hội. Đại biểu Quốc hội tiếp xúc cử tri ở nơi cư trú, nơi làm việc; tiếp xúc cử tri theo chuyên đề, lĩnh vực, đối tượng, địa bàn mà đại biểu quan tâm. Trong quá trình tiếp xúc cử tri, đại biểu Quốc hội có trách nhiệm báo cáo với cử tri về hoạt động của đại biểu và Quốc hội; cử tri hoặc đại diện cử tri[8] có thể góp ý kiến với đại biểu Quốc hội tại hội nghị cử tri do Đoàn đại biểu Quốc hội phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và chính quyền địa phương tổ chức trong trường hợp cần thiết.

Văn bản hợp nhất 31/VBHN-VPQH năm 2023


=============================

Nội dung liên kết bạn gửi trích dẫn Điều 27. Trách nhiệm với cử tri thuộc Luật Tổ chức Quốc hội (theo Văn bản hợp nhất số 31/VBHN-VPQH năm 2023).

Điều khoản này quy định bản chất cốt lõi về mối quan hệ giữa Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và cử tri – những người trực tiếp bầu ra đại biểu, thiết lập nền tảng pháp lý tối cao cho nguyên tắc kiểm soát quyền lực từ nhân dân:

1. Trách nhiệm giữ liên hệ và giám sát (Khoản 1)

  • Mối quan hệ: ĐBQH phải liên hệ chặt chẽ với cử tri, thường xuyên tiếp xúc với cử tri để tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng chính đáng của họ.
  • Cơ chế kiểm soát: Đại biểu chịu sự giám sát của cử tri.
  • Nghĩa vụ truyền tải: Có trách nhiệm thu thập, tổng hợp và phản ánh một cách trung thực ý kiến, kiến nghị của cử tri đến Quốc hội và các cơ quan, tổ chức hữu quan để giải quyết.
  • Nghĩa vụ tuyên truyền: Phổ biến và vận động Nhân dân thực hiện nghiêm túc Hiến pháp và pháp luật.

2. Phương thức tiếp xúc cử tri và báo cáo (Khoản 2)

  • Kênh tiếp xúc chính thống: Thực hiện theo chương trình tiếp xúc cử tri của Đoàn đại biểu Quốc hội định kỳ (trước và sau mỗi kỳ họp).
  • Mở rộng địa bàn tiếp xúc: Đại biểu có thể tiếp xúc cử tri tại nơi cư trú, nơi làm việc hoặc theo chuyên đề, lĩnh vực, đối tượng, địa bàn cụ thể mà đại biểu quan tâm.
  • Nghĩa vụ báo cáo công tác: Trong các hội nghị tiếp xúc, ĐBQH có trách nhiệm báo cáo với cử tri về hoạt động của bản thân đại biểu và của Quốc hội.
  • Cơ chế phản hồi ngược: Cử tri hoặc đại diện cử tri có quyền trực tiếp góp ý kiến, chất vấn đại biểu tại các hội nghị cử tri do Đoàn ĐBQH phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và chính quyền địa phương tổ chức.

Mối liên hệ đặc biệt mật thiết với Cơ chế bãi nhiệm:

Điều 27 chính là sợi dây xích pháp lý trực tiếp nhất liên kết hành vi của đại biểu với cơ chế bãi nhiệm đại biểu khi "không còn xứng đáng":

  • Làm rõ khái niệm "Không còn xứng đáng": Cụm từ "Không còn xứng đáng với sự tín nhiệm của Nhân dân" (căn cứ bãi nhiệm) được định hình bằng chính các nghĩa vụ tại Điều 27. Nếu đại biểu không tiếp xúc cử tri, không lắng nghe, né tránh việc chịu sự giám sát của cử tri, hoặc không phản ánh trung thực tiếng nói của cử tri... thì họ đã trực tiếp vi phạm Điều 27.
  • Cơ sở để cử tri kiến nghị bãi nhiệm: Chính vì đại biểu "chịu sự giám sát của cử tri" (Khoản 1), cử tri thông qua Ban công tác Mặt trận và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp hoàn toàn có quyền thu thập thông tin, phát hiện các sai phạm hoặc biểu hiện "xa dân", suy thoái đạo đức của đại biểu. Đây là nguồn thông tin căn bản để Mặt trận Tổ quốc tập hợp, làm cơ sở kiến nghị lên Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét bãi nhiệm tư cách đại biểu.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét