Nội dung Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật được biên tập lại từ 04 nguồn chính: https://vbpl.vn/; www.congbao.hochiminhcity.gov.vn; https://congbao.chinhphu.vn/ và https://www.ipvietnam.gov.vn /

218 DANH MỤC VĂN BẢN PHÁP LUẬT

Điều 31. Quyền ứng cử, giới thiệu người ứng cử vào các chức danh do Quốc hội bầu

 Điều 31. Quyền ứng cử, giới thiệu người ứng cử vào các chức danh do Quốc hội bầu

  1. Đại biểu Quốc hội có quyền ứng cử hoặc giới thiệu người ứng cử vào các chức danh do Quốc hội bầu quy định tại Điều 8 của Luật này.
  2. Người được giới thiệu ứng cử có quyền rút khỏi danh sách những người ứng cử.

Văn bản hợp nhất 31/VBHN-VPQH năm 2023


=============================

Nội dung liên kết bạn gửi trích dẫn Điều 31. Quyền ứng cử, giới thiệu người ứng cử vào các chức vụ trong bộ máy nhà nước thuộc Luật Tổ chức Quốc hội (theo Văn bản hợp nhất số 31/VBHN-VPQH năm 2023).

Điều khoản này quy định về một trong những quyền chính trị đặc biệt quan trọng của Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) trong việc trực tiếp tham gia xây dựng, kiện toàn bộ máy lãnh đạo cấp cao của Nhà nước:

1. Quyền tự ứng cử vào các chức vụ lãnh đạo (Khoản 1)

  • Quy định: ĐBQH có quyền tự ứng cử vào các chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn.
  • Các chức vụ bao gồm: Các vị trí chủ chốt trong bộ máy nhà nước như Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Quốc hội, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước, các thành viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội...

2. Quyền giới thiệu người ứng cử (Khoản 2)

  • Quy định: Bên cạnh việc tự ứng cử, ĐBQH có quyền giới thiệu người khác (trong số các ĐBQH hoặc cá nhân đủ tiêu chuẩn luật định) để Quốc hội xem xét bầu vào các chức vụ nêu trên.

3. Quy trình xử lý quyền ứng cử, giới thiệu ứng cử (Khoản 3)

  • Quy trình: Việc tự ứng cử hoặc giới thiệu người ứng cử của đại biểu được gửi bằng văn bản đến Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH).
  • Trách nhiệm của UBTVQH: UBTVQH có trách nhiệm tổng hợp, xem xét hồ sơ và báo cáo đầy đủ trước Quốc hội để Quốc hội thảo luận, quyết định đưa vào danh sách bầu cử chính thức tại kỳ họp.

Mối liên hệ logic tối cao giữa Điều 31 và Cơ chế bãi nhiệm

Điều 31 là đỉnh cao của quyền lực chính trị mà Nhân dân trao cho đại biểu, nhưng quyền lực càng lớn thì trách nhiệm kỷ luật và cơ chế kiểm soát chéo càng phải chặt chẽ:

  • Sự cộng hưởng tiêu chuẩn (Điều 22): Để ứng cử hoặc giới thiệu nhân sự vào bộ máy thượng tầng quốc gia theo Điều 31, đại biểu trước hết phải là tấm gương mẫu mực về tiêu chuẩn tại Điều 22 (“có bản lĩnh, kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng... chí công vô tư”). Nếu một đại biểu lợi dụng quyền giới thiệu này để thực hiện hành vi "chạy chức, chạy quyền", cài cắm lợi ích nhóm, giới thiệu nhân sự không đủ năng lực, đạo đức vào các vị trí lãnh đạo then chốt, họ đã trực tiếp phản bội lại sự tín nhiệm của cử tri.
  • Hệ quả bãi nhiệm đồng thời: Khi một ĐBQH đang giữ chức vụ cao do Quốc hội bầu (ví dụ: Thành viên UBTVQH, Chủ tịch một Ủy ban...) mà bị phát hiện vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc suy thoái đạo đức, Quốc hội sẽ kích hoạt cơ chế bãi nhiệm. Lúc này, quy trình bãi nhiệm sẽ diễn ra đồng thời ở hai cấp độ:

1.     Bãi nhiệm chức vụ do Quốc hội bầu/phê chuẩn (loại bỏ khỏi bộ máy quản lý nhà nước).

2.     Bãi nhiệm tư cách ĐBQH (loại bỏ tư cách người đại diện của nhân dân, chấm dứt toàn bộ các quyền từ Điều 26 đến Điều 31).

Như vậy, Điều 31 hoàn thiện bức tranh về quyền hạn của một ĐBQH trong quản trị quốc gia, đồng thời thiết lập ranh giới pháp lý cao nhất: Quyền lực nhà nước dù ở cấp độ nào cũng đều chịu sự phán quyết của cử tri và Quốc hội thông qua cơ chế giám sát và bãi nhiệm nghiêm minh.

 


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét