Điều 31. Việc tổ chức thi hành án của văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên
1. Văn phòng thi hành án dân sự tổ chức thi hành án theo yêu cầu của đương sự đối với những bản án, quyết định quy định tại khoản 1 Điều 32 của Luật này trên địa bàn tỉnh, thành phố nơi văn phòng thi hành án dân sự đặt trụ sở, trừ quy định tại điểm k khoản 1 Điều 32 và khoản 2 Điều 33 của Luật này.
Trường hợp có tranh chấp về thẩm quyền tổ chức thi hành án giữa cơ quan thi hành án dân sự và văn phòng thi hành án dân sự thì Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp quyết định.
2. Việc yêu cầu thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 34 của Luật này.
Trong cùng một bản án, quyết định mà các đương sự yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự, văn phòng thi hành án dân sự khác nhau tổ chức thi hành thì cơ quan thi hành án dân sự và văn phòng thi hành án dân sự có trách nhiệm phối hợp trong quá trình tổ chức thi hành án.
3. Thỏa thuận về việc tổ chức thi hành án giữa người yêu cầu thi hành án và văn phòng thi hành án dân sự được thể hiện dưới hình thức hợp đồng dịch vụ.
Người yêu cầu thi hành án và văn phòng thi hành án dân sự thỏa thuận về thù lao, chi phí thi hành án và các chi phí khác (nếu có).
4. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày ký hợp đồng dịch vụ, Trưởng văn phòng thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án.
Quy định tại Chương III của Luật này được áp dụng trong trường hợp văn phòng thi hành án dân sự tổ chức thi hành án; Trưởng văn phòng thi hành án dân sự thực hiện các trình tự, thủ tục thi hành án như Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự; Thừa hành viên thực hiện các trình tự, thủ tục thi hành án như Chấp hành viên. Trưởng văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên không được áp dụng các quy định liên quan đến ủy thác thi hành án, ủy thác xử lý tài sản, áp dụng biện pháp bảo đảm, áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án và các quy định liên quan đến trường hợp cơ quan thi hành án dân sự chủ động ra quyết định thi hành án.
5. Việc thi hành án của văn phòng thi hành án dân sự chấm dứt và các bên thanh lý hợp đồng dịch vụ trong các trường hợp sau đây:
a) Có căn cứ quy định tại Điều 55 của Luật này;
b) Theo thỏa thuận chấm dứt việc thi hành án giữa văn phòng thi hành án dân sự và người yêu cầu thi hành án;
c) Có căn cứ xác định việc thi hành án chưa có điều kiện thi hành theo quy định tại khoản 1 Điều 38 của Luật này, trừ trường hợp văn phòng thi hành án dân sự và người yêu cầu có thỏa thuận khác;
d) Người yêu cầu có văn bản đề nghị văn phòng thi hành án dân sự chấm dứt việc thi hành án và chuyển cơ quan thi hành án dân sự để áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án;
đ) Người phải thi hành án yêu cầu thi hành án mà không thi hành xong toàn bộ nghĩa vụ theo bản án, quyết định trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày ra quyết định thi hành án, trừ thời gian có tình trạng khẩn cấp, trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng. Sau khi thanh lý hợp đồng, người phải thi hành án không được yêu cầu văn phòng thi hành án dân sự tổ chức thi hành án.
6. Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày thanh lý hợp đồng theo quy định tại điểm d khoản 5 Điều này, Trưởng văn phòng thi hành án dân sự phải thu hồi quyết định thi hành án và chuyển hồ sơ thi hành án cho cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền, trừ trường hợp người yêu cầu không đồng ý. Việc giao, nhận hồ sơ thi hành án được lập thành biên bản.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án và tổ chức thi hành án theo quy định của Luật này.
Kết quả thi hành án do văn phòng thi hành án dân sự thực hiện đúng quy định của pháp luật được công nhận và sử dụng. Văn phòng thi hành án dân sự chịu trách nhiệm đối với các thủ tục đã thực hiện.
7. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày thanh lý hợp đồng dịch vụ theo quy định tại khoản 5 Điều này, văn phòng thi hành án dân sự phải thông báo cho Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền và cơ quan thi hành án dân sự cùng địa bàn tỉnh, thành phố.
8. Kho bạc Nhà nước, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, cơ quan bảo hiểm xã hội, cơ quan đăng ký tài sản, đăng ký giao dịch bảo đảm, cơ quan thuế, cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân và các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan có trách nhiệm thực hiện các quyết định về thi hành án, văn bản, đề nghị của văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên khi tổ chức thi hành án.
9. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
_Xem toàn bộ văn bản>>>>【Luật số 106/2025/QH15 Thi hành án dân sự】
===========================
Cảm ơn bạn
đã cung cấp văn bản gốc Điều 31 Luật Thi hành án dân sự năm 2025 (Luật số
106/2025/QH15). Sự thẳng thắn và chính xác của văn bản luật này đã giúp chúng
ta có câu trả lời rõ ràng nhất, đồng thời sửa đổi hoàn toàn nhận định chưa
chính xác ở lượt phản hồi trước.
Dựa trực tiếp
vào khoản 4 Điều 31, quy định về thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo đảm và
cưỡng chế của Văn phòng thi hành án dân sự / Thừa hành viên được phân định
tuyệt đối như sau:
1. Thẩm
quyền về Biện pháp Bảo đảm và Cưỡng chế
Trái ngược với
suy đoán thông thường về việc xã hội hóa sẽ đi kèm với việc mở rộng quyền hạn,
Luật 2025 đưa ra một ranh giới đỏ rất nghiêm ngặt:
Khoản 4
Điều 31 quy định rõ:
"Trưởng
văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên không được áp dụng các quy
định liên quan đến ủy thác thi hành án, ủy thác xử lý tài sản, áp dụng biện
pháp bảo đảm, áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án và các quy định liên
quan đến trường hợp cơ quan thi hành án dân sự chủ động ra quyết định thi hành
án."
- Văn phòng THADS (Thừa hành
viên): HOÀN
TOÀN KHÔNG CÓ QUYỀN ban hành hay thực hiện bất kỳ biện pháp bảo đảm hoặc
cưỡng chế thi hành án nào.
- Cơ quan THADS (Chấp hành viên): Là chủ thể duy nhất độc quyền
nắm giữ và thực thi các biện pháp mang tính chất quyền lực công này (như
phong tỏa tài khoản, kê biên tài sản, tạm hoãn xuất cảnh...).
2. Quy
trình xử lý khi vụ việc cần Bảo đảm hoặc Cưỡng chế
Vì không có
quyền cưỡng chế hay bảo đảm, nên khi một vụ việc do Văn phòng THADS thụ lý rơi
vào tình trạng người phải thi hành án tẩu tán tài sản hoặc chây lỳ, quy trình sẽ
được xử lý theo khoản 5 và khoản 6 Điều 31:
Quy trình
chuyển giao hồ sơ
- 1.Người
yêu cầu đề nghị chấm dứt hợp đồng:Bước khởi đầu.
- Khi phát hiện cần áp dụng biện pháp bảo đảm hoặc cưỡng chế, người yêu cầu thi hành án gửi văn bản đề nghị Văn phòng THADS chấm dứt việc thi hành án để chuyển sang cơ quan nhà nước (điểm d khoản 5).
- 2.Thu hồi
quyết định và chuyển hồ sơ:Trong 02 ngày làm việc.
- Trưởng văn phòng THADS có nghĩa vụ thu hồi quyết định thi hành án cũ và bàn giao toàn bộ hồ sơ vụ việc cho Cơ quan THADS có thẩm quyền (phải lập biên bản giao nhận) (khoản 6).
- 3.Cơ quan
nhà nước ra quyết định mới:Trong 05 ngày làm việc.
- Sau khi nhận đủ hồ sơ từ văn phòng chuyển sang, Thủ trưởng Cơ quan THADS nhà nước sẽ ra quyết định thi hành án mới và chính thức thụ lý để tổ chức thi hành, áp dụng các biện pháp bảo đảm/cưỡng chế theo luật định (khoản 6).
Bảng tổng
hợp so sánh cập nhật chuẩn xác theo Điều 31
|
Tiêu
chí |
Cơ
quan thi hành án dân sự (Chấp hành viên) |
Văn
phòng thi hành án dân sự (Thừa hành viên) |
|
Cơ sở bắt
đầu |
Ra quyết định
dựa trên Đơn yêu cầu thi hành án thông thường hoặc thuộc trường hợp Cơ
quan nhà nước chủ động ra quyết định. |
Hoạt động
thương lượng, ký kết dựa trên Hợp đồng dịch vụ và thỏa thuận thù lao với
khách hàng (khoản 3 Điều 31 |
|
Biện
pháp bảo đảm |
Đầy đủ
thẩm quyền quyết định
và tổ chức thực hiện nhanh chóng. |
Tuyệt đối
không được áp dụng
(khoản 4 Điều 31 |
|
Biện
pháp cưỡng chế |
Độc quyền
nắm giữ. Được quyền
huy động các lực lượng ban ngành, công an hỗ trợ cưỡng chế. |
Tuyệt đối
không được áp dụng
(khoản 4 Điều 31 |
|
Ủy thác
thi hành án / Xử lý tài sản |
Có quyền ủy thác sang địa bàn khác nếu tài
sản hoặc đương sự di chuyển vị trí. |
Không
được quyền ủy thác
(khoản 4). Chỉ được làm trong phạm vi địa bàn tỉnh/thành phố nơi đặt
trụ sở (khoản 1). |
|
Xử lý
khi không có điều kiện thi hành |
Sẽ ra quyết
định hoãn, tạm đình chỉ hoặc xếp hồ sơ theo dõi. |
Sẽ chấm
dứt việc thi hành án và thanh lý hợp đồng dịch vụ với khách hàng (điểm
c khoản 5). |
Giá trị pháp lý cốt lõi: Dù bị hạn chế về quyền cưỡng chế, nhưng Luật 2025 khẳng định rất rõ tại khoản 6: "Kết quả thi hành án do văn phòng thi hành án dân sự thực hiện đúng quy định của pháp luật được công nhận và sử dụng". Nghĩa là các bước xác minh, thu hồi tài sản tự nguyện trước đó của Thừa hành viên hoàn toàn có giá trị pháp lý tương đương với cơ quan nhà nước.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét