Điều 34. Quyền yêu cầu khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật
- Khi phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật, gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, đại biểu Quốc hội có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức hữu quan thi hành những biện pháp cần thiết để kịp thời chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật.
- Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu của đại biểu Quốc hội, cơ quan, tổ chức phải giải quyết và thông báo bằng văn bản cho đại biểu Quốc hội biết. Quá thời hạn này mà cơ quan, tổ chức không trả lời thì đại biểu Quốc hội có quyền yêu cầu người đứng đầu của cơ quan, tổ chức cấp trên xem xét, giải quyết.
【Văn bản hợp nhất 31/VBHN-VPQH năm 2023】
Nội dung
liên kết bạn gửi trích dẫn Điều 34. Quyền yêu cầu khi phát hiện hành vi vi
phạm pháp luật thuộc Luật Tổ chức Quốc hội (theo Văn bản hợp nhất số
31/VBHN-VPQH năm 2023).
Nếu như Điều
32 (Chất vấn) và Điều 33 (Kiến nghị) là những quyền mang tính chiến lược, thường
được thực hiện tại nghị trường hoặc thông qua các văn bản hành chính định kỳ,
thì Điều 34 là quyền hành động khẩn cấp, trực diện và có tính thực chiến cực
kỳ cao của một Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) ngay khi đối mặt với sai phạm trong
thực tế:
1. Quyền
yêu cầu đình chỉ hành vi vi phạm (Khoản 1)
- Tình huống kích hoạt: Khi phát hiện có hành vi vi phạm
pháp luật của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc cá nhân, gây tổn hại đến lợi
ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
- Quyền hạn của đại biểu: ĐBQH có quyền yêu cầu trực
tiếp người có hành vi vi phạm chấm dứt ngay hành vi đó.
- Quyền yêu cầu cơ quan xử lý: Đại biểu có quyền yêu cầu cơ
quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thẩm quyền ra lệnh đình chỉ, xử lý hành
vi vi phạm pháp luật và kịp thời báo cáo kết quả cho đại biểu biết.
2. Trách
nhiệm bắt buộc của chủ thể nhận yêu cầu (Khoản 2)
- Thời hạn phản hồi: Cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá
nhân nhận được yêu cầu của ĐBQH phải có trách nhiệm xem xét, giải quyết và
thông báo bằng văn bản cho đại biểu biết kết quả giải quyết trong
thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu.
- Trường hợp khẩn cấp/Phức tạp: Đối với vụ việc phức tạp cần thời
gian xác minh dài hơn, hoặc trường hợp cơ quan đó không giải quyết/giải
quyết không thỏa đáng, ĐBQH có quyền yêu cầu người đứng đầu cơ quan cấp
trên trực tiếp giải quyết, hoặc báo cáo thẳng lên Ủy ban Thường vụ Quốc hội
(UBTVQH) để giám sát, đôn đốc.
Mối liên
hệ logic tối cao với Tiêu chuẩn đại biểu và Cơ chế bãi nhiệm
Điều 34
chính là "lửa thử vàng" đối với tư cách của một người đại diện cho
nhân dân, tạo mối liên hệ hữu cơ chặt chẽ với cơ chế bãi nhiệm:
- Hiện thực hóa tinh thần
"Kiên quyết đấu tranh chống tiêu cực" (Điều 22): Tiêu chuẩn tại Điều 22 đòi hỏi
đại biểu phải “có bản lĩnh, kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng
phí... và các hành vi vi phạm pháp luật khác”. Điều 34 chính là công cụ
pháp lý tối cao để đại biểu thể hiện bản lĩnh đó. Một đại biểu chứng kiến
sai phạm rõ ràng rành rành của doanh nghiệp (như xả thải hủy hoại môi trường)
hay của quan chức địa phương nhưng lại ngó lơ, "mũ ni che tai"
vì sợ đụng chạm, thì đại biểu đó đã tự đánh mất bản lĩnh, vi phạm nghiêm
trọng Điều 22 và không còn xứng đáng với sự tín nhiệm của cử tri.
- Ngăn ngừa sự thông đồng, lạm dụng
quyền lực: Quyền
yêu cầu tại Điều 34 là con dao hai lưỡi.
- Nếu đại biểu dùng nó để bảo vệ
lẽ phải, họ làm tròn vai trò.
- Ngược lại, nếu đại biểu lợi dụng
quyền này để "dọa dẫm", ép buộc các cơ quan hành pháp,
doanh nghiệp nhằm trục lợi cá nhân, hoặc can thiệp trái pháp luật vào hoạt
động tư pháp (ví dụ: yêu cầu công an dừng kiểm tra một vụ việc để bao che
cho sân sau), hành vi này cấu thành tội lạm dụng chức vụ quyền hạn, vi phạm
pháp luật nghiêm trọng.
Khi một đại biểu biến vũ khí chống vi phạm pháp luật thành công cụ vi phạm pháp luật, hồ sơ sai phạm sẽ lập tức được Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hoàn thiện để trình Quốc hội bỏ phiếu bãi nhiệm tư cách đại biểu ngay lập tức nhằm bảo vệ tính nghiêm minh của hệ thống pháp luật.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét