Điều 35. Quyền yêu cầu cung cấp thông tin
- Khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu, đại biểu Quốc hội có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân đó.
- Người đứng đầu cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có trách nhiệm trả lời những vấn đề mà đại biểu Quốc hội yêu cầu theo quy định của pháp luật.
【Văn bản hợp nhất 31/VBHN-VPQH năm 2023】
Nội dung
liên kết bạn gửi trích dẫn Điều 35. Quyền yêu cầu cung cấp thông tin thuộc
Luật Tổ chức Quốc hội (theo Văn bản hợp nhất số 31/VBHN-VPQH năm 2023).
Nếu như Điều
34 trao cho Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) quyền hành động khẩn cấp khi phát hiện sai
phạm, thì Điều 35 cung cấp nguồn nhiên liệu thông tin – vũ khí nền tảng
để đại biểu có đủ chứng cứ, dữ liệu thực hiện tất cả các quyền giám sát khác
như chất vấn, kiến nghị hay trình dự án luật. Điều khoản này quy định:
1. Phạm
vi quyền yêu cầu cung cấp thông tin (Khoản 1)
- Quyền hạn của đại biểu: ĐBQH có quyền yêu cầu cơ quan,
tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nhiệm vụ của
cơ quan, tổ chức, cá nhân đó.
- Ngoại trừ: Quyền này không áp dụng đối với
các tài liệu thuộc danh mục bí mật nhà nước theo quy định tối cao của pháp
luật nhằm bảo đảm an ninh quốc gia.
2. Trách
nhiệm bắt buộc và thời hạn giải quyết của các chủ thể (Khoản 2)
Người đứng đầu
cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân nhận được yêu cầu của ĐBQH phải thực hiện nghĩa vụ:
- Thời hạn thông thường: Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn
của mình, phải trực tiếp ký văn bản trả lời, cung cấp thông tin, tài liệu
cho đại biểu trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được
yêu cầu.
- Thời hạn khi có lý do đặc biệt: Trường hợp thông tin, tài liệu
yêu cầu quá phức tạp, khối lượng lớn cần thời gian tập hợp, xử lý thì phải
trả lời bằng văn bản nêu rõ lý do và gia hạn, nhưng thời gian gia hạn tối
đa không quá 20 ngày.
Mối liên
hệ logic hệ thống và Cơ chế bãi nhiệm
Điều 35 là bản
lề bảo đảm tính minh bạch trong hoạt động của bộ máy nhà nước, có mối liên hệ mật
thiết với tiêu chuẩn tư cách đại biểu:
- Công cụ bảo vệ tiêu chuẩn
"Năng lực và Uy tín" (Điều 22): Để đại biểu không rơi vào trạng
thái "nghị trường hóa", phát biểu cảm tính hay chất vấn thiếu
căn cứ, Điều 35 ép buộc các cơ quan hành pháp phải minh bạch số liệu. Một
đại biểu thực sự có trách nhiệm trước cử tri sẽ dùng Điều 35 để thu thập dữ
liệu gốc (ví dụ: số liệu thu chi ngân sách địa phương, tiến độ giải ngân dự
án công...). Nếu đại biểu không sử dụng quyền này, thờ ơ trước các điểm
nóng thông tin, họ sẽ không đủ năng lực thực hiện chức năng giám sát, dẫn
đến xói mòn lòng tin của Nhân dân.
- Lằn ranh đỏ chống lạm dụng quyền
lực trục lợi:
Điều 35 là một quyền hạn rất mạnh. Đại biểu có quyền tiếp cận các hồ sơ nội
bộ, tài liệu thanh tra, kiểm tra của các cơ quan, doanh nghiệp.
- Nếu đại biểu dùng thông tin này
để phục vụ quốc kế dân sinh, họ hoàn thành xuất sắc vai trò.
- Ngược lại, nếu đại biểu lạm dụng
Điều 35 để tống tiền, ép buộc, sách nhiễu doanh nghiệp, hoặc thu
thập thông tin thương mại mật nhằm tuồn cho doanh nghiệp "sân
sau" trục lợi, hành vi này cấu thành sự suy thoái nghiêm trọng về đạo
đức, vi phạm tư cách đại biểu mẫu mực quy định tại Điều 22.
Khi một đại biểu biến quyền tiếp cận thông tin thành công cụ trục lợi bất chính, cơ quan chức năng sẽ lập hồ sơ vi phạm pháp luật nghiêm trọng, chuyển đến Ủy ban Thường vụ Quốc hội để tổ chức cho Quốc hội bỏ phiếu bãi nhiệm, tước bỏ ngay lập tức tư cách đại biểu trước thời hạn.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét