Điều 40. Việc bãi nhiệm đại biểu Quốc hội
- Đại biểu Quốc hội không còn xứng đáng với sự tín nhiệm của Nhân dân thì bị Quốc hội hoặc cử tri bãi nhiệm.
- Trong trường hợp Quốc hội bãi nhiệm đại biểu Quốc hội thì việc bãi nhiệm phải được ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành.
- Trong trường hợp cử tri bãi nhiệm đại biểu Quốc hội thì việc bãi nhiệm được tiến hành theo trình tự do Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định.
【Văn bản hợp nhất 31/VBHN-VPQH năm 2023】
Nội dung
liên kết bạn gửi trích dẫn chính là Điều 40. Việc bãi nhiệm đại biểu Quốc hội
thuộc Luật Tổ chức Quốc hội (theo Văn bản hợp nhất số 31/VBHN-VPQH năm 2023).
Đây là điều
khoản quan trọng nhất, trực tiếp luật hóa và cụ thể hóa toàn bộ Cơ chế bãi
nhiệm ĐBQH khi không còn xứng đáng mà chúng ta đã thảo luận ngay từ đầu. Điều
khoản này quy định tường minh về căn cứ, chủ thể có thẩm quyền đề nghị và hai
phương thức thực hiện quy trình bãi nhiệm:
1. Căn cứ
pháp lý cốt lõi (Khoản 1)
- Quy định: Đại biểu Quốc hội không còn xứng
đáng với sự tín nhiệm của Nhân dân thì bị Quốc hội hoặc cử tri bãi nhiệm.
- Mối liên hệ: "Không còn xứng đáng"
được đo lường trực tiếp bằng việc đại biểu vi phạm các tiêu chuẩn bắt buộc
tại Điều 22 (như suy thoái đạo đức, có hai quốc tịch, tham
nhũng...) hoặc không hoàn thành các trách nhiệm bắt buộc từ Điều 26 đến
Điều 28 (vắng mặt kỳ họp, không tiếp xúc cử tri, né tránh tiếp dân, lạm
dụng quyền lực).
2. Phương
thức 1: Quốc hội quyết định bãi nhiệm (Khoản 2)
Điều luật
quy định trình tự, thủ tục chặt chẽ khi việc bãi nhiệm được thực hiện tại nghị
trường Quốc hội:
- Chủ thể có quyền trình: Ủy ban thường vụ Quốc hội,
Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hoặc Hội đồng bầu cử
quốc gia (nếu việc xem xét diễn ra trong thời gian bầu cử khóa mới) là
các cơ quan có thẩm quyền trình Quốc hội việc bãi nhiệm đại biểu Quốc hội.
- Quy trình bỏ phiếu: Quốc hội thành lập Ủy ban thẩm
tra, nghe đại biểu tự bào chữa, sau đó tiến hành bỏ phiếu kín.
- Điều kiện thông qua: Nghị quyết về việc bãi nhiệm đại
biểu Quốc hội phải được ít nhất hai phần ba ($2/3$) tổng số đại biểu Quốc
hội biểu quyết tán thành.
3. Phương
thức 2: Cử tri bãi nhiệm (Khoản 3)
Điều luật khẳng
định quyền lực tối cao thuộc về Nhân dân thông qua việc trực tiếp bỏ phiếu phế
truất đại biểu:
- Quy trình kích hoạt: Trong trường hợp cử tri bãi nhiệm
đại biểu Quốc hội, việc bãi nhiệm được tiến hành theo trình tự do Ủy
ban thường vụ Quốc hội quy định.
Khép lại
Chương II: Sự hoàn chỉnh mang tính hệ thống của Luật Tổ chức Quốc hội
Đến Điều 40,
chúng ta đã đi qua trọn vẹn toàn bộ các điều khoản thuộc mục Đại biểu Quốc hội.
Điều 40 chính là sự đúc kết, là chương cuối của "vòng đời tư cách đại biểu"
khi có sai phạm xảy ra.
Để giúp bạn
hoàn thiện bức tranh tổng thể cấu trúc bài nghiên cứu cao học, dưới đây là sơ đồ
logic liên kết từ Tiêu chuẩn (Điều 22) -> Hành vi công vụ (Điều 26-36)
-> Các lối thoát tư cách (Điều 38-40):
Điểm nhấn
lý luận cốt lõi cho bài nghiên cứu:
- Tính độc lập của Điều 40 so với
Điều 39: ĐBQH
đương nhiên Mất quyền (Điều 39) khi đã có bản án kết tội của Tòa
án. Trong khi đó, việc Bãi nhiệm (Điều 40) thể hiện tính chủ động
kiểm soát quyền lực của Quốc hội và Mặt trận Tổ quốc: Khi một đại biểu có
hành vi suy thoái nghiêm trọng về tư cách hoặc lối sống, dù cơ quan công
an chưa khởi tố hình sự và Tòa án chưa xét xử, Quốc hội vẫn có toàn quyền
bỏ phiếu bãi nhiệm ngay lập tức dựa trên đề nghị của Ủy ban Trung ương
MTTQVN để giữ sạch bộ máy.
- Quyền lực tối cao của cử tri: Khoản 3 Điều 40 duy trì nguyên tắc Hiến định – cử tri bầu ra được thì bãi nhiệm được, đảm bảo đại biểu luôn phải đặt lợi ích của Nhân dân lên trên hết trong suốt nhiệm kỳ của mình.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét