Điều 43. Đoàn đại biểu Quốc hội
1. Đoàn đại biểu Quốc hội là tổ chức của các đại biểu Quốc hội được bầu tại một tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hoặc được chuyển đến công tác tại tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
2. Đoàn đại biểu Quốc hội có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Tổ chức để các đại biểu Quốc hội tiếp công dân; phối hợp với Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc ở địa phương tổ chức, bảo đảm các điều kiện để đại biểu Quốc hội tiếp xúc cử tri với các hình thức phù hợp;
b) Tổ chức để các đại biểu Quốc hội thảo luận về dự án luật, pháp lệnh và các dự án khác, dự kiến chương trình kỳ họp Quốc hội theo yêu cầu của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
c) Tổ chức hoạt động giám sát của Đoàn đại biểu Quốc hội và tổ chức để các đại biểu Quốc hội trong Đoàn thực hiện nhiệm vụ giám sát tại địa phương; tham gia và phối hợp với Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội trong các hoạt động giám sát tại địa phương; theo dõi, đôn đốc việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân mà đại biểu Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội đã chuyển đến cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thẩm quyền giải quyết; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan cung cấp thông tin, báo cáo về những vấn đề mà Đoàn đại biểu Quốc hội quan tâm;
d) Báo cáo với Ủy ban thường vụ Quốc hội về tình hình hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội;
đ)[11] Chỉ đạo hoạt động của bộ máy tham mưu, giúp việc phục vụ hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội.
3. Đoàn đại biểu Quốc hội có Trưởng đoàn hoặc Phó Trưởng đoàn là đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách. Trưởng đoàn và Phó Trưởng đoàn do Đoàn đại biểu Quốc hội bầu trong số các đại biểu Quốc hội của Đoàn và được Ủy ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn.
Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội tổ chức và điều hành các hoạt động của Đoàn.
Phó Trưởng đoàn giúp Trưởng đoàn thực hiện nhiệm vụ theo sự phân công của Trưởng đoàn. Khi Trưởng đoàn vắng mặt thì Phó Trưởng đoàn được Trưởng đoàn ủy nhiệm thực hiện nhiệm vụ của Trưởng đoàn.
3a.[12] Số lượng và danh sách đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tại Đoàn đại biểu Quốc hội do Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định, phê chuẩn.
Cơ quan có thẩm quyền quản lý cán bộ ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương theo phân cấp chịu trách nhiệm quản lý công tác cán bộ đối với đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tại địa phương mình theo quy định của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
4.[13] Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân cấp tỉnh là cơ quan tham mưu, giúp việc, phục vụ hoạt động của các đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội tại địa phương.
Chính quyền địa phương ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm bố trí trụ sở làm việc cho Đoàn đại biểu Quốc hội, tổ chức và bảo đảm kinh phí hoạt động cho Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân cấp tỉnh theo quy định của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
【Văn bản hợp nhất 31/VBHN-VPQH năm 2023】
=============================
Nội dung liên kết bạn gửi trích dẫn Điều 43. Đoàn đại biểu Quốc hội thuộc Luật Tổ chức Quốc hội (theo Văn bản hợp nhất số 31/VBHN-VPQH năm 2023).
Đến điều khoản
này, cấu trúc của Luật Tổ chức Quốc hội đã chính thức bước sang một phần mới: Dịch
chuyển từ quy chế pháp lý của cá nhân từng Đại biểu sang quy chế tổ chức
và vận hành của Đoàn đại biểu Quốc hội (Đoàn ĐBQH) – một tổ chức trung
gian có tính chất liên kết các đại biểu được bầu ở cùng một địa phương.
Cụ thể, Điều
43 quy định về địa vị pháp lý, thành phần cấu tạo và phương thức hoạt động của
Đoàn ĐBQH như sau:
1. Địa vị
pháp lý của Đoàn đại biểu Quốc hội (Khoản 1)
- Quy định: Các đại biểu Quốc hội được bầu ở
một tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc được chuyển đến sinh hoạt tại
tỉnh, thành phố đó hợp thành Đoàn đại biểu Quốc hội.
- Ý nghĩa: Đoàn ĐBQH không phải là một cấp
cơ quan quyền lực nhà nước độc lập, mà là hình thức tổ chức hoạt động của
các ĐBQH tại địa phương, là cầu nối hành chính và chính trị giữa Quốc hội ở
trung ương với cử tri và chính quyền ở địa phương.
2. Tổ chức
bộ máy lãnh đạo của Đoàn (Khoản 2 & Khoản 3)
Để vận hành
và điều phối các hoạt động chung, Đoàn ĐBQH có cơ cấu lãnh đạo riêng:
- Trưởng đoàn và Phó Trưởng đoàn: Đoàn ĐBQH bầu Trưởng đoàn, có
thể bầu Phó Trưởng đoàn trong số các đại biểu của Đoàn và trình Ủy ban Thường
vụ Quốc hội (UBTVQH) phê chuẩn.
- Yêu cầu chuyên trách: Trong hai vị trí Trưởng đoàn hoặc
Phó Trưởng đoàn, phải có ít nhất một người hoạt động chuyên trách để
điều hành công việc thường xuyên của Đoàn.
3. Nhiệm
vụ và quyền hạn cốt lõi của Đoàn ĐBQH (Khoản 4)
Đoàn ĐBQH tổ
chức thực hiện các hoạt động mang tính tập thể, hỗ trợ cho các đại biểu thành
viên:
- Tổ chức để các ĐBQH tiếp xúc cử
tri, tiếp công dân, tiếp nhận, chuyển và đôn đốc việc giải quyết đơn thư
khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân.
- Tổ chức để các ĐBQH thảo luận về
các dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết và các vấn đề quan trọng
khác trước khi đưa ra kỳ họp Quốc hội.
- Tổ chức hoạt động giám sát của
Đoàn và tham gia các hoạt động giám sát của Quốc hội, UBTVQH, Hội đồng Dân
tộc và các Ủy ban của Quốc hội tại địa phương.
Mối liên
hệ logic hệ thống và ý nghĩa đối với Cơ chế bãi nhiệm
Dưới góc độ
nghiên cứu cao học, Điều 43 giữ vai trò là "bộ lọc và tổ chức tiền
phương" có ảnh hưởng trực tiếp đến quy trình thu thập thông tin và
kích hoạt cơ chế bãi nhiệm:
- Nơi phát hiện và tổng hợp dấu hiệu
"Không còn xứng đáng": Đoàn ĐBQH là cơ quan sâu sát nhất với hoạt động thường
ngày của đại biểu tại địa phương. Thông qua việc tổ chức tiếp xúc cử tri,
tiếp dân tập thể, Đoàn ĐBQH sẽ là nơi đầu tiên ghi nhận các phản ánh, khiếu
nại của người dân về tư cách, hành vi vi phạm đạo đức, pháp luật của đại
biểu thuộc Đoàn mình. Trưởng đoàn ĐBQH có trách nhiệm báo cáo với UBTVQH về
các biểu hiện lệch chuẩn này.
- Hệ quả đối với tổ chức Đoàn khi
có đại biểu bị bãi nhiệm:
- Khi một ĐBQH bị Quốc hội bãi
nhiệm (Điều 40) hoặc đương nhiên mất quyền (Điều 39), tư cách
thành viên của họ trong Đoàn ĐBQH địa phương cũng chấm dứt ngay lập tức.
- Nếu người bị bãi nhiệm hoặc mất
quyền lại chính là Trưởng đoàn hoặc Phó Trưởng đoàn ĐBQH,
Đoàn ĐBQH tại địa phương đó phải tổ chức họp để bầu nhân sự thay thế
trong số các đại biểu còn lại, sau đó trình UBTVQH phê chuẩn để bảo đảm bộ
máy điều hành công vụ tại địa phương không bị gián đoạn.
- Cơ chế bảo đảm tính tập thể và khách quan: Việc Luật quy định Đoàn ĐBQH phải có lãnh đạo phê chuẩn bởi UBTVQH (Khoản 2) và có trách nhiệm tổ chức thảo luận tập thể (Khoản 4) giúp ngăn ngừa việc một cá nhân đại biểu tự ý nhân danh tập thể Đoàn để thực hiện các hành vi trục lợi, áp đặt hoặc can thiệp sai pháp luật vào chính quyền địa phương – một trong những nguy cơ vi phạm dẫn đến chế tài bãi nhiệm.
Nội dung
liên kết bạn gửi trích dẫn Điều 43. Đoàn đại biểu Quốc hội thuộc Luật Tổ
chức Quốc hội (theo Văn bản hợp nhất số 31/VBHN-VPQH năm 2023).
Đến điều khoản
này, cấu trúc của Luật Tổ chức Quốc hội đã chính thức bước sang một phần mới: Dịch
chuyển từ quy chế pháp lý của cá nhân từng Đại biểu sang quy chế tổ chức
và vận hành của Đoàn đại biểu Quốc hội (Đoàn ĐBQH) – một tổ chức trung
gian có tính chất liên kết các đại biểu được bầu ở cùng một địa phương.
Cụ thể, Điều
43 quy định về địa vị pháp lý, thành phần cấu tạo và phương thức hoạt động của
Đoàn ĐBQH như sau:
1. Địa vị
pháp lý của Đoàn đại biểu Quốc hội (Khoản 1)
- Quy định: Các đại biểu Quốc hội được bầu ở
một tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc được chuyển đến sinh hoạt tại
tỉnh, thành phố đó hợp thành Đoàn đại biểu Quốc hội.
- Ý nghĩa: Đoàn ĐBQH không phải là một cấp
cơ quan quyền lực nhà nước độc lập, mà là hình thức tổ chức hoạt động của
các ĐBQH tại địa phương, là cầu nối hành chính và chính trị giữa Quốc hội ở
trung ương với cử tri và chính quyền ở địa phương.
2. Tổ chức
bộ máy lãnh đạo của Đoàn (Khoản 2 & Khoản 3)
Để vận hành
và điều phối các hoạt động chung, Đoàn ĐBQH có cơ cấu lãnh đạo riêng:
- Trưởng đoàn và Phó Trưởng đoàn: Đoàn ĐBQH bầu Trưởng đoàn, có
thể bầu Phó Trưởng đoàn trong số các đại biểu của Đoàn và trình Ủy ban Thường
vụ Quốc hội (UBTVQH) phê chuẩn.
- Yêu cầu chuyên trách: Trong hai vị trí Trưởng đoàn hoặc
Phó Trưởng đoàn, phải có ít nhất một người hoạt động chuyên trách để
điều hành công việc thường xuyên của Đoàn.
3. Nhiệm
vụ và quyền hạn cốt lõi của Đoàn ĐBQH (Khoản 4)
Đoàn ĐBQH tổ
chức thực hiện các hoạt động mang tính tập thể, hỗ trợ cho các đại biểu thành
viên:
- Tổ chức để các ĐBQH tiếp xúc cử
tri, tiếp công dân, tiếp nhận, chuyển và đôn đốc việc giải quyết đơn thư
khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân.
- Tổ chức để các ĐBQH thảo luận về
các dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết và các vấn đề quan trọng
khác trước khi đưa ra kỳ họp Quốc hội.
- Tổ chức hoạt động giám sát của
Đoàn và tham gia các hoạt động giám sát của Quốc hội, UBTVQH, Hội đồng Dân
tộc và các Ủy ban của Quốc hội tại địa phương.
Mối liên
hệ logic hệ thống và ý nghĩa đối với Cơ chế bãi nhiệm
Dưới góc độ
nghiên cứu cao học, Điều 43 giữ vai trò là "bộ lọc và tổ chức tiền
phương" có ảnh hưởng trực tiếp đến quy trình thu thập thông tin và
kích hoạt cơ chế bãi nhiệm:
- Nơi phát hiện và tổng hợp dấu hiệu
"Không còn xứng đáng": Đoàn ĐBQH là cơ quan sâu sát nhất với hoạt động thường
ngày của đại biểu tại địa phương. Thông qua việc tổ chức tiếp xúc cử tri,
tiếp dân tập thể, Đoàn ĐBQH sẽ là nơi đầu tiên ghi nhận các phản ánh, khiếu
nại của người dân về tư cách, hành vi vi phạm đạo đức, pháp luật của đại
biểu thuộc Đoàn mình. Trưởng đoàn ĐBQH có trách nhiệm báo cáo với UBTVQH về
các biểu hiện lệch chuẩn này.
- Hệ quả đối với tổ chức Đoàn khi
có đại biểu bị bãi nhiệm:
- Khi một ĐBQH bị Quốc hội bãi
nhiệm (Điều 40) hoặc đương nhiên mất quyền (Điều 39), tư cách
thành viên của họ trong Đoàn ĐBQH địa phương cũng chấm dứt ngay lập tức.
- Nếu người bị bãi nhiệm hoặc mất
quyền lại chính là Trưởng đoàn hoặc Phó Trưởng đoàn ĐBQH,
Đoàn ĐBQH tại địa phương đó phải tổ chức họp để bầu nhân sự thay thế
trong số các đại biểu còn lại, sau đó trình UBTVQH phê chuẩn để bảo đảm bộ
máy điều hành công vụ tại địa phương không bị gián đoạn.
- Cơ chế bảo đảm tính tập thể và
khách quan: Việc
Luật quy định Đoàn ĐBQH phải có lãnh đạo phê chuẩn bởi UBTVQH (Khoản 2) và
có trách nhiệm tổ chức thảo luận tập thể (Khoản 4) giúp ngăn ngừa việc một
cá nhân đại biểu tự ý nhân danh tập thể Đoàn để thực hiện các hành vi trục
lợi, áp đặt hoặc can thiệp sai pháp luật vào chính quyền địa phương – một
trong những nguy cơ vi phạm dẫn đến chế tài bãi nhiệm.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét