|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI
CAO Số: 196/TANDTC-PC một số vướng mắc
trong công tác xét xử |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ
NGHĨA VIỆT NAM Hà Nội, ngày 03
tháng 10 năm 2023 |
|
Kính gửi: |
- Các Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự; |
Ngày 24/4/2023, Hội
đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã tổ chức Hội nghị trực tuyến giải đáp
một số vướng mắc trong công tác xét xử của các Tòa án. Trên cơ sở các vướng mắc
và giải đáp của Hội đồng Thẩm phán, Tòa án nhân dân tối cao thông báo kết quả
giải đáp một số vướng mắc như sau:
1. Các đối tượng có hành vi lấn chiếm đất và đã xây dựng nhà,
công trình, vật kiến trúc trái phép trên đất lấn chiếm. Sau đó, có một số đối
tượng khác đến tiếp tục lấn chiếm trên những phần đất này và có hành vi đập phá
nhà, công trình, vật kiến trúc đã xây dựng trái phép nêu trên. Hành vi đập phá
nhà, công trình, vật kiến trúc xây dựng trái phép của các đối tượng trên có cấu
thành tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản theo quy định tại Điều 178 của Bộ luật Hình
sự không?
Khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định: “Người
nào hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000
đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong
các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ...”
Các đối tượng xây dựng
nhà, công trình, vật kiến trúc trái phép trên diện tích đất do Nhà nước quản lý
là hành vi vi phạm pháp luật được quy định trong Luật Đất đai năm 2013, Luật
Xây dựng năm 2014 và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Việc xử lý
hành vi vi phạm pháp luật đó như thế nào và bằng biện pháp gì là thuộc thẩm
quyền của cơ quan Nhà nước. Việc các đối tượng khác đến tiếp tục lấn chiếm trên
những phần đất này và có hành vi đập phá nhà, công trình, vật kiến trúc đã xây
dựng trái phép nêu trên thì phạm tội “Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản”
được quy định tại Điều 178 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa
đổi, bổ sung năm 2017) nếu có đủ các yếu tố cấu thành tội phạm.
Điều 341 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về
Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu hoặc
tài liệu giả của cơ quan, tổ chức. Đây là hai tội danh độc lập được quy định
trong cùng một điều luật. Nếu các hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành hai
tội này thì bị cáo phải bị truy tố, xét xử với hai tội danh độc lập, sau đó
tổng hợp hình phạt.
Trường hợp bị cáo
không phải là người trực tiếp làm giả giấy đi đường mà chỉ có hành vi nhờ người
khác làm giả giấy đi đường, sau đó sử dụng giấy đi đường để thực hiện hành vi
trái pháp luật. Trường hợp này, bị cáo phạm tội “Sử dụng con dấu hoặc tài
liệu giả của cơ quan, tổ chức” nếu có đủ yếu tố cấu thành tội phạm, mà
không cấu thành tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”.
3. Người phạm tội giả chữ ký của người sử dụng đất để thực hiện
thủ tục xin cấp lại, cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sau đó dùng
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đó thực hiện hành vi phạm tội. Trường hợp
này, khi xét xử thì xử lý giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đó như thế nào? Hủy
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Điều 34 của Bộ luật Tố
tụng dân sự năm 2015 hay tịch thu, tiêu hủy
theo Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015?
Theo Giải đáp số
02/GĐ-TANDTC ngày 19/9/2016 của Tòa án nhân dân tối cao thì giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất là quyết định hành chính, nếu thuộc một trong các trường hợp
quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính năm
2015 thì là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính.
Tại khoản
1 Điều 34 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định: “Khi giải
quyết vụ việc dân sự, Tòa án có quyền hủy quyết định cá biệt trái pháp luật của
cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của
đương sự trong vụ việc dân sự mà Tòa án có nhiệm vụ giải quyết.”
Như vậy, giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất là quyết định hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm
quyền ban hành, chỉ có thể bị hủy bỏ khi là đối tượng khởi kiện vụ án hành
chính hoặc khi Tòa án giải quyết vụ việc dân sự hoặc bị thu hồi bởi chính cơ
quan có thẩm quyền cấp theo quy định tại Điều 106 của Luật
Đất đai năm 2013. Do đó, trường hợp người phạm tội giả chữ ký của người sử
dụng đất để thực hiện thủ tục xin cấp lại, cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, sau đó dùng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này vào việc thực hiện
hành vi phạm tội thì khi xét xử, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản
3 Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 để kiến nghị cơ quan
nhà nước có thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đó (bản chất
là thu hồi giá trị pháp lý của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) mà không tịch
thu, tiêu hủy theo Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự
năm 2015. Còn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà các cơ quan tiến hành tố
tụng thu giữ được trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là tài liệu của vụ
án và phải được lưu trong hồ sơ vụ án.
Khách thể của tội
“Trốn thuế” là xâm phạm đến chế độ quản lý thuế của Nhà nước trên tất cả các
lĩnh vực, cụ thể là ngân sách nhà nước bị thiệt hại do không thu được thuế, còn
khách thể của tội “Buôn lậu” là xâm phạm trật tự quản lý việc xuất khẩu, nhập khẩu
hàng hóa, tiền tệ, kim khí quý, đá quý... Mặc dù, trong trường hợp này, khi
nhập khẩu hàng hóa thì thủ tục kê khai hải quan là đúng quy định của pháp luật.
Nhưng sau khi nhập khẩu, hàng hóa vẫn đang chịu sự kiểm tra, giám sát của cơ
quan hải quan theo quy định tại khoản 1 Điều 51 của Luật
Hải quan năm 2014, cơ quan thuế chưa quản lý. Việc bị cáo không tiến hành
sản xuất để xuất khẩu theo quy định mà tự ý chuyển tiêu thụ nội địa, không thực
hiện các thủ tục khai báo hải quan là vi phạm trình tự, thủ tục hải quan được
quy định tại khoản 5 Điều 25 Văn bản hợp nhất Nghị định
quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Hải quan về thủ tục hải quan, kiểm
tra, giám sát, kiểm soát hải quan số 24/VBHN-BTC ngày 11/7/2018 và quy
định tại điểm b, c khoản 1 Điều 21 Văn bản hợp nhất Thông
tư quy định về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan, thuế xuất khẩu,
thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu số
25/VBHN-BTC ngày 06/9/2018 của Bộ Tài chính. Như vậy, hành vi của bị
cáo phạm tội “Buôn lậu” quy định tại Điều 188 của Bộ luật
Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Bị cáo là người được
giao thực hiện nhiệm vụ thu tiền của khách, có trách nhiệm và trực tiếp quản lý
tiền cước điện thoại, tiền cước viễn thông thu được. Bị cáo đã lợi dụng nhiệm
vụ được giao, sau khi thu được tiền của khách hàng, bị cáo không nộp về công ty
mà chiếm đoạt số tiền này. Như vậy, căn cứ quy định tại khoản
2 Điều 352, Điều 353 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung
năm 2017) và hướng dẫn tại khoản 5 Điều 2 Nghị quyết số
03/2020/NQ-HĐTP ngày 30/12/2020 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân
tối cao thì hành vi của bị cáo phạm tội “Tham ô tài sản”.
6. Chủ thể của tội “Cố ý công bố thông tin sai lệch hoặc che
giấu thông tin trong hoạt động chứng khoán” quy định tại Điều 209 của Bộ luật
Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
có bao gồm đối tượng là người thực hiện giao dịch mua, bán chứng khoán không?
Tại khoản 1 Điều 209 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi,
bổ sung năm 2017) quy định: “Người nào cố ý công bố thông tin sai lệch hoặc
che giấu thông tin trong hoạt động chào bán, niêm yết, giao dịch, hoạt động
kinh doanh chứng khoán, tổ chức thị trường, đăng ký, lưu ký, bù trừ hoặc thanh
toán chứng khoán thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì...”.
Như vậy, chủ thể của
tội phạm này là những người có trách nhiệm trong việc công bố thông tin về
chứng khoán hoặc pháp nhân thương mại có trách nhiệm công bố thông tin về chứng
khoán. Do đó, những người tham gia giao dịch mua, bán chứng khoán không phải là
chủ thể của tội phạm này.
Bị cáo thực hiện hành
vi gian dối để chiếm đoạt tiền của bị hại. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử
không xem xét, xử lý hành vi vi phạm của Công chứng viên, nếu không có chứng cứ
chứng minh Công chứng viên đồng phạm với bị cáo cũng như sử dụng số tiền bị cáo
chiếm đoạt và Văn phòng Công chứng đã thực hiện công chứng theo quy định pháp
luật, không thể biết được thủ đoạn gian dối của bị cáo để chiếm đoạt tiền của
bị hại. Do đó, không thể buộc trách nhiệm liên đới của Công chứng viên phải bồi
thường cho bị hại mà chỉ buộc bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường (hoàn trả)
số tiền đã chiếm đoạt của bị hại.
8. Nguyễn Văn A là người có quyền sử dụng thửa đất thổ cư tại
phường X, quận Y, thành phố H. Năm 2017, A chuyển nhượng thửa đất trên cho anh
Trần Văn B với giá 5 tỷ đồng, hợp đồng chuyển nhượng được công chứng theo đúng
quy định của pháp luật, A đã nhận đủ tiền theo hợp đồng. Do bận công tác, anh B
chưa nhận giấy tờ và nhờ A làm giúp thủ tục sang tên. Năm 2018, A lợi dụng việc
anh B đi công tác xa, chủ động tìm gặp và bán thửa đất trên cho anh Hoàng Văn C
với giá 3,5 tỷ đồng. Sau khi chuyển tiền cho A, anh C đã làm thủ tục cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất. Khi anh C triển khai xây dựng công trình trên đất
thì anh B phát hiện và làm đơn tố giác đến cơ quan điều tra. A bị truy cứu
trách nhiệm hình sự về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại Điều 174 của Bộ luật
Hình sự; giá trị thửa đất được định giá là 4
tỷ đồng. Trường hợp này, việc xác định bị hại và tài sản chiếm đoạt là như thế
nào?
Nguyễn Văn A phạm tội
“Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại Điều 174
của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Bị hại là
anh Hoàng Văn C vì hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa A và anh B
được xác lập trước và hợp pháp theo quy định tại Điều 117
và Điều 401 của Bộ luật Dân sự năm 2015 (Hợp đồng đã được công chứng,
chứng thực, anh B đã thực hiện xong nghĩa vụ trả tiền, A đã nhận đủ tiền). Việc
A tiếp tục bán đất cho anh C là dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tiền của
anh C. Do đó, tài sản bị chiếm đoạt là 3,5 tỷ đồng mà A đã nhận của anh C.
9. Bị cáo, bị hại, đương sự ở nước ngoài hoặc tài sản có liên
quan đến vụ án ở nước ngoài theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 268
của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 được xác
định như thế nào?
Theo quy định
tại điểm b khoản 2 Điều 268 của Bộ luật Tố tụng hình sự
năm 2015 thì Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án quân sự cấp quân khu
xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự có bị cáo, bị hại, đương sự ở nước ngoài
hoặc tài sản có liên quan đến vụ án ở nước ngoài. “Ở nước ngoài” được hiểu là
tại thời điểm cơ quan có thẩm quyền giải quyết vụ án thì bị cáo, bị hại, đương
sự không có mặt trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Để xác
định “bị cáo, bị hại, đương sự hoặc tài sản liên quan đến vụ án ở nước ngoài”
thì phải căn cứ vào vị trí địa lý của họ tại thời điểm giải quyết vụ án, cụ thể
là1:
- Bị cáo, bị hại,
đương sự là người nước ngoài định cư, không định cư, làm ăn, học tập, công tác
ở Việt Nam không có mặt tại Việt Nam vào thời điểm cơ quan có thẩm quyền giải
quyết vụ án;
- Bị cáo, bị hại,
đương sự là người Việt Nam định cư, làm ăn, học tập, công tác ở nước ngoài
không có mặt tại Việt Nam vào thời điểm cơ quan có thẩm quyền giải quyết vụ án;
- Bị cáo, bị hại,
đương sự là người Việt Nam định cư, làm ăn, học tập, công tác ở Việt Nam nhưng
đang ở nước ngoài vào thời điểm cơ quan có thẩm quyền giải quyết vụ án;
- Cơ quan, tổ chức
không phân biệt là cơ quan, tổ chức nước ngoài hay cơ quan, tổ chức Việt Nam mà
không có trụ sở, chi nhánh, văn phòng đại diện tại Việt Nam vào thời điểm cơ
quan có thẩm quyền giải quyết vụ án;
- Tài sản ở nước ngoài
là tài sản được xác định theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 ở ngoài biên
giới lãnh thổ của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam vào thời điểm cơ quan
có thẩm quyền giải quyết vụ án.
Người bị kết án phạt
tù có nơi cư trú tại thị trấn P, huyện B, tỉnh L. Tòa án tỉnh H xét xử sơ thẩm.
Khi Tòa án tỉnh L nhận ủy thác thi hành án thực hiện thủ tục xác minh thi hành
án thì cơ quan Công an thị trấn P xác định người bị kết án phạt tù đã bỏ trốn,
không biết đi đâu. Trong trường hợp này, Tòa án nào có trách nhiệm phải ra
quyết định thi hành án, cơ quan thi hành án hình sự nào có thẩm quyền ra quyết
định truy nã?
Căn cứ khoản 3 Điều 364 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy
định: “Trường hợp người bị kết án phạt tù đang tại ngoại mà bỏ trốn thì
Chánh án Tòa án đã ra quyết định thi hành án yêu cầu cơ quan thi hành án hình
sự Công an cấp tỉnh nơi người bị kết án phạt tù đang tại ngoại ra quyết định
truy nã”;
Tham khảo hướng dẫn
tại tiết d2 điểm d tiểu mục 2.1 mục 2 phần I Nghị quyết số
02/2007/NQ-HĐTP ngày 02/10/2007 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân
tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ năm “Thi hành bản án
và quyết định của Tòa án” của Bộ luật Tố tụng hình sự thì “Trường hợp Tòa án
được ủy thác không biết địa chỉ của người bị kết án thì thông báo bằng văn bản
cho Tòa án đã ủy thác biết để Tòa án đã ủy thác thực hiện việc ra quyết định
thi hành án…”
Như vậy, trường hợp
này Tòa án tỉnh H ra quyết định thi hành án và yêu cầu cơ quan thi hành án hình
sự Công an tỉnh L (nơi bị cáo cư trú) ra quyết định truy nã.
III. DÂN SỰ, TỐ TỤNG DÂN SỰ, KINH DOANH THƯƠNG MẠI, HÔN NHÂN VÀ
GIA ĐÌNH
Trong trường hợp này,
cần xác định đề nghị hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là yêu cầu của đương
sự, nhưng không phải là yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập.
Khi giải quyết vụ việc dân sự liên quan đến việc hủy Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất thì phải được Tòa án xem xét giải quyết trong cùng một vụ việc dân sự
theo quy định tại Điều 34 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Khoản 1 Điều 5 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định:
“Đương sự có quyền
quyết định việc khởi kiện, yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân
sự. Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu
cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó”.
Như vậy, đối với
trường hợp nêu trên, trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án phải hỏi đương sự
để làm rõ yêu cầu của từng đương sự. Nếu B, C không có yêu cầu về quyền sử dụng
đất và tài sản gắn liền với đất thì Tòa án phải nhận định vấn đề này trong bản
án và chỉ cần tuyên trong bản án là không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của A về
tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất. Do B, C không yêu cầu
giải quyết về quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất nên sẽ được giải
quyết bằng một vụ án khác nếu có yêu cầu.
Khoản 4 Điều 34 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định:
“Thẩm quyền của cấp
Tòa án giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp có xem xét việc hủy quyết
định cá biệt quy định tại khoản 1 Điều này được xác định theo quy định tương
ứng của Luật Tố tụng hành chính về thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện,
Tòa án nhân dân cấp tỉnh”.
Khoản 1 Điều 31 của Luật Tố tụng hành chính năm 2015 quy định Tòa án cấp huyện giải quyết
theo thủ tục sơ thẩm những khiếu kiện sau đây:
“Khiếu kiện quyết định
hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước từ cấp huyện trở
xuống trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Tòa án hoặc của người có thẩm
quyền trong cơ quan hành chính nhà nước đó, trừ quyết định hành chính, hành vi
hành chính của Ủy ban nhân dân cấp huyện, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện”.
Khoản 4 Điều 32 của Luật Tố tụng hành chính năm 2015 quy định Tòa án cấp tỉnh giải quyết theo
thủ tục sơ thẩm những khiếu kiện sau đây:
“Khiếu kiện quyết định
hành chính, hành vi hành chính của Ủy ban nhân dân cấp huyện, Chủ tịch Ủy ban
nhân dân cấp huyện trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Tòa án”.
Điểm 7, mục IV Công văn số 02/TANDTC-PC ngày 02/8/2021 hướng dẫn: “...Trường hợp đương sự
khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế, không yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất; căn cứ quy định tại khoản 5 Điều 26 và khoản
1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải
quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện.
Trường hợp đương sự
yêu cầu chia di sản thừa kế đồng thời yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất; căn cứ Điều 34 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì
vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp tỉnh”.
Theo các quy định của
pháp luật và hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao nêu trên thì khi giải quyết
tranh chấp quyền sử dụng đất có yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
hoặc Tòa án xét thấy cần phải hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì thuộc
thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh.
Khoản 1 Điều 42 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định về nhập vụ án dân sự như sau:
“Tòa án nhập hai hoặc
nhiều vụ án mà Tòa án đó đã thụ lý riêng biệt thành một vụ án để giải quyết nêu
việc nhập và việc giải quyết trong cùng một vụ án bảo đảm đúng pháp luật.
Đối với vụ án có nhiều
người có cùng yêu cầu khởi kiện đối với cùng một cá nhân hoặc cùng một cơ quan,
tổ chức thì Tòa án có thể nhập các yêu cầu của họ để giải quyết trong cùng một
vụ án.”
Như vậy, pháp luật chỉ
quy định việc nhập hai hoặc nhiều vụ án mà Tòa án đó đã thụ lý riêng biệt thành
một vụ án để giải quyết, mà không quy định về trường hợp nhập các vụ án do các
Tòa án khác nhau thụ lý giải quyết.
Trường hợp này, các
Tòa án thụ lý giải quyết các vụ án đều có liên quan đến tài sản thế chấp, mà
việc xác định ai là người có quyền sở hữu, sử dụng hợp pháp tài sản này là căn
cứ quan trọng để Tòa án giải quyết các vụ án. Do đó, Tòa án đang giải quyết vụ
án tranh chấp hợp đồng tín dụng phải tạm đình chỉ giải quyết vụ án theo điểm d khoản 1 Điều 214 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để
chờ kết quả giải quyết vụ án tranh chấp quyền sở hữu, sử dụng đối với tài sản
thế chấp nêu trên. Khi có kết quả giải quyết vụ án này, Tòa án tiếp tục giải
quyết vụ án chấp hợp đồng tín dụng theo quy định pháp luật.
Khoản 1, 2 Điều 12 của Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định về người đại diện theo pháp
luật của doanh nghiệp như sau:
“1. Người đại diện
theo pháp luật của doanh nghiệp là cá nhân đại diện cho doanh nghiệp thực hiện
các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch của doanh nghiệp, đại diện cho
doanh nghiệp với tư cách người yêu cầu giải quyết việc dân sự, nguyên đơn, bị
đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước Trọng tài, Tòa án và các
quyền, nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.
2. Công ty trách nhiệm
hữu hạn và công ty cổ phần có thể có một hoặc nhiều người đại diện theo pháp
luật. Điều lệ công ty quy định cụ thể số lượng, chức danh quản lý và quyền,
nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp. Nếu công ty có nhiều
hơn một người đại diện theo pháp luật thì Điều lệ công ty quy định cụ thể
quyền, nghĩa vụ của từng người đại diện theo pháp luật. Trường hợp việc phân
chia quyền, nghĩa vụ của từng người đại diện theo pháp luật chưa được quy định
rõ trong Điều lệ công ty thì mỗi người đại diện theo pháp luật của công ty đều
là đại diện đủ thẩm quyền của doanh nghiệp trước bên thứ ba; tất cả người đại
diện theo pháp luật phải chịu trách nhiệm liên đới đối với thiệt hại gây ra cho
doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về dân sự và quy định khác của pháp
luật có liên quan.”
Như vậy, theo các quy
định pháp luật nêu trên, trường hợp doanh nghiệp là Công ty trách nhiệm hữu hạn
hay Công ty cổ phần có nhiều người đại diện theo pháp luật nhưng Điều lệ của
doanh nghiệp không phân công trách nhiệm, quyền hạn cụ thể của những người đại
diện theo pháp luật này và không có văn bản ủy quyền, thỏa thuận cho ai là
người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp thì Tòa án căn cứ khoản 2 Điều 12 của Luật Doanh nghiệp năm 2020 để xác
định tất cả những người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là người đại
diện theo pháp luật của doanh nghiệp để tham gia tố tụng trong quá trình giải
quyết vụ án.
6. Theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng và Mục 3 Điều 6 Quyết định
1160/2004/QĐ-NHNN thì “Chủ sở hữu tiền gửi
tiết kiệm là người đứng tên trên thẻ tiết kiệm”, nên người đứng tên trên thẻ
tiết kiệm (sổ tiết kiệm) có toàn quyền quyết định đối với số tiền trong thẻ
tiết kiệm do mình đứng tên. Trường hợp số tiền tiết kiệm là tài sản chung vợ
chồng, người chồng hoặc người vợ đứng tên chủ thẻ tiết kiệm thế chấp sổ tiết
kiệm để vay tiền Ngân hàng và người không đứng tên không biết thì hợp đồng thế
chấp sổ tiết kiệm này có hiệu lực hay không?
Khoản 1 Điều 32 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:
“Trong giao dịch với
người thứ ba ngay tình thì vợ, chồng là người đứng tên tài khoản ngân hàng, tài
khoản chứng khoán được coi là người có quyền xác lập, thực hiện giao dịch liên
quan đến tài sản đó.”
Điều 8 Nghị định số 126/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014 quy định chi tiết một số
điều và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân và gia đình quy định:
“Người thứ ba xác lập,
thực hiện giao dịch với vợ, chồng liên quan đến tài khoản ngân hàng, tài khoản
chứng khoán, động sản khác mà theo quy định của pháp luật không phải đăng ký
quyền sở hữu thì bị coi là không ngay tình trong những trường hợp sau đây:
1. Đã được vợ, chồng
cung cấp thông tin theo quy định tại Điều 16 của Nghị định này2 mà vẫn xác lập, thực hiện giao dịch trái
với những thông tin đó;
2. Vợ chồng đã công
khai thỏa thuận theo quy định của pháp luật có liên quan về việc chiếm hữu, sử
dụng, định đoạt tài sản và người thứ ba biết hoặc phải biết nhưng vẫn xác lập,
thực hiện giao dịch trái với thỏa thuận của vợ chồng”.
Căn cứ các quy định
nêu trên, trường hợp người chồng hoặc người vợ đứng tên chủ tài khoản tiền gửi
tại ngân hàng (đứng tên chủ thẻ, sổ tiết kiệm) được coi là người có quyền xác
lập, thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản đó nên hợp đồng thế chấp sổ tiết
kiệm có hiệu lực pháp luật, trừ trường hợp giao dịch với người thứ ba không
ngay tình theo quy định tại Điều 8 Nghị định số
126/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014 nêu trên.
Đây là vụ án tranh
chấp hợp đồng tín dụng, bên vay thế chấp tài sản để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ,
Ngân hàng yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ nếu bên vay không trả
nợ. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án phải xem xét hiệu lực của hợp đồng thế chấp
tài sản này. Nếu hợp đồng thế chấp tài sản tuân thủ đúng quy định pháp luật thì
Tòa án phải công nhận hợp đồng thế chấp tài sản có hiệu lực và xử tài sản thế
chấp theo quy định pháp luật; nếu hợp đồng thế chấp tài sản vi phạm các điều
kiện có hiệu lực của hợp đồng theo quy định pháp luật thì Tòa án phải tuyên bố
hợp đồng thế chấp tài sản vô hiệu mà không phụ thuộc vào việc đương sự có yêu
cầu tuyên bố hợp đồng thế chấp vô hiệu hay không.
Theo khoản 2 Điều 5 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021
của Chính phủ quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ
quy định:
“Một nghĩa vụ có thể
được bảo đảm thực hiện bằng nhiều tài sản. Phạm vi bảo đảm thực hiện nghĩa vụ
của từng tài sản trong số các tài sản bảo đảm được xác định theo thỏa thuận của
bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm. Trường hợp không có thỏa thuận thì bất kì tài
sản nào trong số đó được dùng để bảo đảm thực hiện toàn bộ nghĩa vụ”.
Khoản 1 Điều 52 Nghị định nêu trên quy định:
“... Trường hợp một
nghĩa vụ được bảo đảm bằng nhiều tài sản mà các bên không có thỏa thuận về việc
lựa chọn tài sản bảo đảm để xử lý và pháp luật liên quan không có quy định khác
thì bên nhận bảo đảm có quyền lựa chọn tài sản bảo đảm để xử lý hoặc xử lý tất
cả các tài sản bảo đảm”.
Như vậy, trong trường
hợp các bên không có thỏa thuận về phạm vi bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của từng
tài sản và việc lựa chọn tài sản bảo đảm để xử lý thì bất kỳ tài sản nào trong
số tài sản bảo đảm của B, C, D, E đều được dùng để bảo đảm thực hiện toàn bộ
nghĩa vụ; Ngân hàng có quyền lựa chọn tài sản bảo đảm để xử lý hoặc xử lý tất
cả các tài sản bảo đảm. Trường hợp này, Ngân hàng có yêu cầu nếu A không trả nợ
thì xử lý tài sản bảo đảm của B, C, D, E để thu hồi nợ. Do vậy, Tòa án phải xác
định yêu cầu của Ngân hàng là xử lý tất cả các tài sản bảo đảm và mỗi tài sản
đều được dùng để bảo đảm thực hiện toàn bộ nghĩa vụ để giải quyết theo quy định
pháp luật.
Theo khoản 1 Điều 188 của Luật Đất đai năm 2013 quy định:
“Người sử dụng đất
được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại,
thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất
khi có các điều kiện sau đây:
a) Có Giấy chứng nhận,
trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 186 và
trường hợp nhận thừa kế quy định tại khoản 1 Điều 168 của Luật này;
b) Đất không có tranh
chấp;
c) Quyền sử dụng đất
không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;
d) Trong thời hạn sử
dụng đất.”
Như vậy, tại thời điểm
ký kết hợp đồng thế chấp, nếu tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất nông nghiệp
đã hết thời hạn sử dụng ghi trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và chưa được
cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép tiếp tục sử dụng đất thì không đủ điều
kiện để giao kết hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất. Trường hợp này, Toà án
xác định hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất vô hiệu và giải quyết hậu quả của
hợp đồng vô hiệu khi có yêu cầu.
Trường hợp khi ký kết
hợp đồng thế chấp, quyền sử dụng đất nông nghiệp vẫn còn thời hạn sử dụng nhưng
khi giải quyết tranh chấp thì hết thời hạn sử dụng ghi trên Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, Tòa án cần có văn bản đề nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
cho biết quyền sử dụng đất đã thế chấp này có được gia hạn hay không. Nếu quyền
sử dụng đất được gia hạn mà không phải làm thủ tục điều chỉnh thời hạn sử dụng
đất theo quy định tại khoản 2 Điều 74 Nghị định số
43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành
một số điều của Luật Đất đai3 thì Tòa án công
nhận hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tiếp tục xử lý tài sản thế chấp
theo quy định pháp luật. Nếu quyền sử dụng đất không thuộc trường hợp được gia
hạn thì Tòa án xác định hợp đồng không thể thực hiện được do đối tượng của hợp
đồng không còn và tuyên bố chấm dứt hợp đồng thế chấp theo khoản
5 Điều 422 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Khi tiến hành xem xét,
thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp mà Tòa án không xác định được vị trí
đất thế chấp theo hợp đồng thì Tòa án cần có văn bản đề nghị cơ quan Nhà nước
có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bên thế chấp trả lời về
vị trí đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp để làm căn cứ xác định
vị trí đất thế chấp. Trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền trả lời không
xác định được vị trí đất thế chấp thì Tòa án tuyên hợp đồng thế chấp vô hiệu do
không xác định được đối tượng của hợp đồng theo Điều 408
của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp Tòa án xác
định hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp tài sản tuân thủ đầy đủ quy định
pháp luật trong quá trình ký kết, hợp đồng có hiệu lực pháp luật thì việc không
xác định được ô tô là tài sản thế chấp ở đâu tại thời điểm tranh chấp không làm
vô hiệu hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp. Do đó, khi đến hạn thực hiện
nghĩa vụ mà bên vay không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì Tòa
án tuyên phát mại tài sản thế chấp theo quy định tại khoản
1 Điều 299 và Điều 303 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
12. Đương sự có yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
“Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ” theo quy định tại Điều 126 của Bộ luật
Tố tụng dân sự, nhưng đây là tài sản duy nhất
của người có nghĩa vụ và có giá trị cao hơn nghĩa vụ phải thực hiện thì theo
quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 12 của Nghị quyết
số 02/2020/NQ-HĐTP ngày 24/9/2020 của
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì Tòa án không được áp dụng biện
pháp khẩn cấp tạm thời này. Do đó, trong trường hợp này để tránh việc người có
nghĩa vụ tẩu tán tài sản, trốn tránh nghĩa vụ trả nợ và bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của bên có quyền thì xử lý như thế nào?
Trường hợp đương sự có
yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời “Phong toả tài sản của người có
nghĩa vụ” theo quy định tại Điều 126 của Bộ luật Tố tụng
dân sự, nhưng đây là tài sản duy nhất của người có nghĩa vụ và có giá trị
cao hơn nghĩa vụ phải thực hiện thì theo quy định tại khoản
2, khoản 3 Điều 12 Nghị quyết số 02/2020/NQ-HĐTP ngày 24/9/2020 của
Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao thì Tòa án không được áp dụng biện
pháp khẩn cấp tạm thời này, nhưng phải giải thích cho người yêu cầu biết để họ
có thể làm đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời khác. Nếu họ vẫn giữ
nguyên đơn yêu cầu, Tòa án căn cứ vào khoản 4 Điều 133 của
Bộ luật Tố tụng dân sự không chấp nhận đơn yêu cầu áp dụng biện pháp
khẩn cấp tạm thời của họ.
Trường hợp này cần xác
định hợp đồng đặt cọc là hợp đồng độc lập, có hiệu lực nhằm bảo đảm giao kết
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa các bên. Việc người nhận đặt cọc
không trả nợ Ngân hàng dẫn đến việc không thể ký kết hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất như đã thỏa thuận là vi phạm thỏa thuận của hợp đồng đặt cọc,
cần xác định đây là lỗi của bên nhận đặt cọc.
Khoản 1 Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:
“Việc ly hôn giữa công
dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau thường trú ở
Việt Nam được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam theo quy định
của Luật này”.
“9. Cư trú là việc
người nước ngoài thường trú hoặc tạm trú tại Việt Nam ...
13. Thẻ tạm trú là
loại giấy tờ do cơ quan quản lý xuất nhập cảnh hoặc cơ quan có thẩm quyền của
Bộ Ngoại giao cấp cho người nước ngoài được phép cư trú có thời hạn tại Việt
Nam và có giá trị thay thị thực.
14. Thẻ thường trú là
loại giấy tờ do cơ quan quản lý xuất nhập cảnh cấp cho người nước ngoài được
phép cư trú không thời hạn tại Việt Nam và có giá trị thay thị thực”.
Điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định: “Vụ việc ly hôn mà nguyên
đơn hoặc bị đơn là công dân Việt Nam hoặc các đương sự là người nước ngoài cư
trú, làm ăn, sinh sống lâu dài tại Việt Nam” là trường hợp Tòa án Việt Nam
có thẩm quyền giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài.
Trường hợp này, vợ,
chồng là người nước ngoài chưa được cấp thẻ thường trú tại Việt Nam, căn cứ vào
các quy định nêu trên thì yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn không thuộc thẩm
quyền giải quyết của Tòa án Việt Nam.
Theo Điều 130 của Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Giao
dịch dân sự vô hiệu từng phần khi một phần nội dung của giao dịch dân sự vô
hiệu nhưng không ảnh hưởng đến hiệu lực của phần còn lại của giao dịch”.
Khoản 1, 2 Điều 213 của Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:
“1. Sở hữu chung của
vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia.
2. Vợ chồng cùng nhau
tạo lập, phát triển khối tài sản chung; có quyền ngang nhau trong việc chiếm
hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung”.
Khoản 1 Điều 29 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:
“Vợ, chồng bình đẳng
với nhau về quyền, nghĩa vụ trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt
tài sản chung; không phân biệt giữa lao động trong gia đình và lao động có thu
nhập”.
Điều 35 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:
“1. Việc chiếm hữu, sử
dụng, định đoạt tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận.
2. Việc định đoạt tài
sản chung phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng trong những trường
hợp sau đây:
a) Bất động sản;
…”.
Theo các quy định trên
thì việc định đoạt tài sản chung của vợ chồng là bất động sản phải do hai vợ
chồng thỏa thuận hoặc phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng. Do đó,
trong trường hợp vợ chồng không có thỏa thuận định đoạt tài sản chung hoặc không
có văn bản thỏa thuận phân chia tài sản; chỉ có một bên vợ hoặc chồng tham gia
ký kết hợp đồng tặng cho, chuyển nhượng, thế chấp... bên còn lại không tham gia
ký kết, không đồng ý thì hợp đồng đó vô hiệu toàn bộ.
Tuy nhiên, trường hợp
nhà đất là tài sản chung của vợ chồng mà chỉ có một người đứng tên ký hợp đồng
chuyển nhượng nhà đất đó cho người khác người còn lại không ký tên trong hợp
đồng; nếu có đủ căn cứ xác định bên chuyển nhượng đã nhận đủ số tiền theo thỏa
thuận, người không ký tên trong hợp đồng biết và cùng sử dụng tiền chuyển
nhượng nhà đất; bên nhận chuyển nhượng nhà đất đã nhận và quản lý, sử dụng nhà
đất đó công khai; người không ký tên trong hợp đồng biết mà không có ý kiến
phản đối gì thì phải xác định là người đó đồng ý với việc chuyển nhượng nhà đất
(theo Án lệ số 04/2016/AL ngày 06/4/2016 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân
tối cao).
Khoản 2 Điều 101 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:
“Tòa án có thẩm quyền
giải quyết việc xác định cha, mẹ, con trong trường hợp có tranh chấp hoặc người
được yêu cầu xác định là cha, mẹ, con đã chết và trường hợp quy định tại Điều
92 của Luật này”.
Khoản 10 Điều 29 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định: “Yêu cầu xác định cha, mẹ
cho con hoặc con cho cha, mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia
đình” là yêu cầu về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của
Tòa án.
Như vậy, theo quy định
nêu trên thì yêu cầu Tòa án xác nhận cha cho con của bà M thuộc thẩm quyền giải
quyết của Tòa án.
Theo hướng dẫn
tại điểm 1 mục I Công văn 02/GĐ-TANDTC ngày 19/9/2016 của
Tòa án nhân dân tối cao giải đáp một số vấn đề về tố tụng hành chính, tố tụng
dân sự thì Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là quyết định hành chính.
Theo quy định
tại điểm b khoản 2 Điều 193 của Luật Tố tụng hành chính
năm 2015 thì Hội đồng xét xử sơ thẩm có thẩm quyền “Chấp nhận một
phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện, tuyên hủy một phần hoặc toàn bộ quyết định
hành chính trái pháp luật và quyết định giải quyết khiếu nại có liên quan (nếu
có); ...”
Như vậy, theo các quy
định nêu trên thì khi xét xử Hội đồng xét xử có quyền tuyên hủy một phần quyết
định hành chính. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án có yêu cầu hủy
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì tùy từng trường hợp cụ thể mà Tòa án xem
xét, quyết định, cụ thể như sau:
- Trường hợp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ cấp chung cho một thửa đất mà có sai sót thì
Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện và tuyên hủy toàn bộ Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất.
- Trường hợp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất cấp chung cho nhiều thửa đất riêng biệt; trình tự,
thủ tục, thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không đúng quy định
của pháp luật thì Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện và tuyên hủy toàn bộ Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Trường hợp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất cấp chung cho nhiều thửa đất riêng biệt; trình tự,
thủ tục, thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là đúng quy định của
pháp luật, nhưng có sai sót đối với một hoặc một số thửa đất về diện tích, tứ
cận hay loại đất và phần này độc lập, không ảnh hưởng đến phần còn lại thì Tòa
án chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện, tuyên hủy một phần giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất (đối với thửa đất hoặc những thửa đất có sai sót); buộc Ủy
ban nhân dân cấp có thẩm quyền thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo đúng quy định
của pháp luật đất đai. Tại phần nhận định của bản án, Hội đồng xét xử phải phân
tích, đánh giá, xác định rõ phần nào đúng, phần nào sai trong Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất.
Theo quy định
tại điểm b khoản 1 Điều 100 của Luật Đất đai năm 2013 thì
hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định mà có giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp thì được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với
đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.
Theo quy định
tại khoản 1 Điều 203 của Luật Đất đai năm 2013, tranh
chấp đất đai mà đương sự có giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ
quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất
thì do Tòa án nhân dân giải quyết.
Theo quy định
tại khoản 2 Điều 203 của Luật Đất đai năm 2013, tranh
chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các
loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này thì đương sự được lựa chọn giải
quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền hoặc tại Tòa án nhân
dân.
Khoản 1 Điều 75, khoản 1 Điều 79, khoản 1 Điều 80 của Luật Đất
đai năm 2013 đều quy định các
trường hợp bồi thường về đất khi nhà nước thu hồi đối với đất đủ điều kiện để
cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Như vậy, Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất tạm thời là quyết định hành chính do cơ quan nhà nước có
thẩm quyền ban hành, làm phát sinh, thay đổi, hạn chế, chấm dứt quyền, lợi ích
hợp pháp của hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất, nên theo quy định tại khoản 3 Điều 3 của Luật Tố tụng hành chính năm 2015 thì
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời là quyết định hành chính, thuộc đối
tượng khởi kiện vụ án hành chính (nếu còn thời hiệu khởi kiện vụ án hành
chính).
Khoản 10 Điều 3 của Luật Tố tụng hành chính năm 2015 quy định: “Người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan” là cơ quan, tổ chức, cá nhân tuy không khởi kiện, không bị
kiện, nhưng việc giải quyết vụ án hành chính có liên quan đến quyền lợi, nghĩa
vụ của họ nên họ tự mình hoặc đương sự khác đề nghị và được Tòa án chấp nhận
hoặc được Tòa án đưa vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan.
Trường hợp vụ án hành
chính có yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà Giấy này đang thế
chấp tại Ngân hàng thì phải đưa Ngân hàng tham gia tố tụng với tư cách người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Trong vụ án hành chính, Tòa án không có quyền
hủy hoặc công nhận hợp đồng thế chấp, nhưng có quyền xem xét, đánh giá hợp đồng
thế chấp để hủy hoặc không hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
4. Ông A và bà B tranh chấp quyền sử dụng đất đối với diện tích
đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Chủ tịch Ủy ban nhân dân
huyện C ban hành Quyết định X để giải quyết tranh chấp giữa ông A và bà B. Hết
thời hiệu khởi kiện vụ án hành chính đối với Quyết định X, bà B khởi kiện vụ án
dân sự tranh chấp quyền sử dụng đất với ông A (cùng thửa đất đã được Chủ tịch
Ủy ban nhân dân huyện C giải quyết tranh chấp bằng quyết định X) đồng thời yêu
cầu Tòa án hủy quyết định X. Trường hợp này Tòa án có được thụ lý vụ án dân sự
và xem xét việc hủy quyết định X theo Điều 34 của Bộ luật Tố
tụng dân sự năm 2015 hay không?
Theo quy định
tại Điều 203 của Luật Đất đai năm 2013 về thẩm
quyền giải quyết tranh chấp đất đai thì tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy
chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật
này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải
quyết; Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có
một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này thì đương sự được
lựa chọn giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền hoặc tại
Tòa án nhân dân.
Trường hợp nêu trên
việc tranh chấp quyền sử dụng đất giữa ông A và bà B đã được giải quyết bằng
quyết định có hiệu lực pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền (Chủ tịch
Ủy ban nhân dân huyện C), trong thời hạn luật định bà B không khiếu nại, không khởi
kiện vụ án hành chính đối với quyết định X. Do vậy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 192 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015,
Thẩm phán trả lại đơn khởi kiện cho bà B. Trường hợp sau khi thụ lý vụ án dân
sự, Tòa án mới biết sự việc đã được giải quyết bằng quyết định X của Chủ tịch
Ủy ban nhân dân huyện C thì Tòa án căn cứ vào điểm g khoản
1 Điều 217 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để ra quyết định đình
chỉ giải quyết vụ án.
Khoản 1, khoản 2 Điều 3 của Luật Tố tụng hành chính năm 2015 quy định:
“1. Quyết định hành
chính là văn bản do cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức được giao
thực hiện quản lý hành chính nhà nước ban hành hoặc người có thẩm quyền trong
cơ quan, tổ chức đó ban hành quyết định về vấn đề cụ thể trong hoạt động quản
lý hành chính được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể.
2. Quyết định hành
chính bị kiện là quyết định quy định tại khoản 1 Điều này mà quyết định đó làm
phát sinh, thay đổi, hạn chế, chấm dứt quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ
chức, cá nhân hoặc có nội dung làm phát sinh nghĩa vụ, ảnh hưởng đến quyền, lợi
ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân”.
Như vậy, đối với quyết
định phê duyệt giá đất cần phải chia thành hai trường hợp:
- Trường hợp quyết
định phê duyệt giá đất tổng thể cho toàn bộ dự án mà không có danh sách các hộ
gia đình, cá nhân bị thu hồi đất kèm theo, thì đây là quyết định hành chính
nhưng chưa làm phát sinh, thay đổi, hạn chế, chấm dứt quyền, lợi ích hợp pháp
của tổ chức, cá nhân nên căn cứ vào khoản 2 Điều 3 của
Luật Tố tụng hành chính năm 2015 quyết định này không phải là đối
tượng khởi kiện vụ án hành chính.
- Trường hợp quyết
định phê duyệt giá đất tổng thể cho toàn bộ dự án mà có danh sách các hộ gia
đình, cá nhân bị thu hồi đất kèm theo thì quyết định này làm phát sinh, thay
đổi, hạn chế, chấm dứt quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân nên theo
quy định tại khoản 2 Điều 3 của Luật Tố tụng hành chính
năm 2015, quyết định này là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính.
Theo quy định
tại điểm c khoản 2 Điều 83 của Luật Đất đai năm 2013 về
hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất thì nhà nước hỗ trợ tái định cư đối với trường
hợp thu hồi đất ở của hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài
mà phải di chuyển chỗ ở.
Như vậy, khi nhà nước
thu hồi đất ở thì tùy từng trường hợp cụ thể để xem xét hỗ trợ tái định cư.
Theo quy định
tại khoản 1, khoản 2 Điều 3 của Luật Tố tụng hành chính
năm 2015 thì quyết định phê duyệt bồi thường, hỗ trợ tái định cư cho
gia đình ông A là quyết định hành chính và quyết định này ảnh hưởng đến quyền,
lợi ích hợp pháp của ông A nên ông A có quyền khởi kiện một phần hoặc toàn bộ
quyết định hành chính này.
Ngày 25/11/2015, Quốc
hội nước CHXHCN Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 10 đã thông qua Luật Tố tụng
hành chính năm 2015. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016.
Ngày 13/4/2018, Bộ
trưởng Bộ Tài chính ban hành Quyết định số 520/QĐ-BTC duyệt kế hoạch triển
khai, sắp xếp, sáp nhập Chi cục thuế các quận, huyện, thị xã, thành phố thành
Chi cục thuế khu vực thuộc Cục thuế tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
Như vậy, việc thành
lập Chi cục thuế khu vực có sau khi Luật Tố tụng hành chính năm 2015 có hiệu
lực pháp luật nên chưa có quy định liên quan đến thẩm quyền giải quyết đối với
thông báo nộp thuế của Chi cục thuế khu vực.
Tuy nhiên, đây là loại
việc đã thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện và để thuận tiện cho cá
nhân, tổ chức thực hiện quyền khởi kiện của mình thì Tòa án có thể vận dụng quy
định tại khoản 1 Điều 31 của Luật Tố tụng hành chính năm
2015 để xác định Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết vụ
án. Cụ thể là:
Trường hợp nếu người
khởi kiện nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện A thì Tòa án nhân dân
huyện A thụ lý giải quyết; trường hợp người khởi kiện nộp đơn khởi kiện tại Tòa
án nhân dân huyện B thì Tòa án nhân dân huyện B cũng có thẩm quyền giải quyết
vì Tòa án nhân dân huyện A và Tòa án nhân dân huyện B đều nằm trong địa bàn của
Chi cục thuế khu vực. Tòa án đã thụ lý yêu cầu người khởi kiện cam kết không
khởi kiện tại Tòa án khác.
Trường hợp Tòa án nhân
dân cấp tỉnh đã thụ lý, giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện nêu trên thì Tòa
án nhân dân cấp tỉnh tiếp tục giải quyết vụ án.
V. HÒA GIẢI, ĐỐI THOẠI TẠI TÒA ÁN
Khoản 2 Điều 32 của Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án quy định:
“Thời hạn chuẩn bị ra
quyết định công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành là 15 ngày kể từ
ngày Tòa án nhận được biên bản và tài liệu kèm theo. Trong thời hạn này, Thẩm
phán được Chánh án Tòa án phân công xem xét ra quyết định có các quyền sau đây:
a) Yêu cầu một hoặc
các bên trình bày ý kiến về kết quả hòa giải thành, đối thoại thành đã được ghi
tại biên bản;
b) Yêu cầu cơ quan, tổ
chức, cá nhân có thẩm quyền cung cấp cho Tòa án tài liệu làm cơ sở cho việc ra
quyết định, nếu xét thấy cần thiết. Cơ quan, tổ chức, cá nhân được Tòa án yêu
cầu có trách nhiệm trả lời Tòa án trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày
nhận được yêu cầu của Tòa án”.
Do vậy, trong thời hạn
chuẩn bị ra quyết định công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành, Thẩm
phán phải chủ động theo dõi, đôn đốc cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài
liệu cho Tòa án. Hết thời hạn 15 ngày thì Thẩm phán căn cứ vào các tài liệu đã
có để ra một trong các quyết định quy định tại khoản 3
Điều 32 của Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án.
2. Trường hợp vụ việc đủ điều kiện để hòa giải, đối thoại theo
quy định tại điểm b khoản 2 Điều 2 Thông tư số 03/2020/TT-TANDTC ngày 16/11/2020 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy
định chi tiết khoản 1, 2 và 3 Điều 16 của Luật Hòa
giải, đối thoại tại Tòa án nhưng đơn khởi
kiện, đơn yêu cầu không có đủ các nội dung quy định tại Điều
189 và Điều 362 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 118
của Luật Tố tụng hành chính thì Tòa
án có ra thông báo yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện trước khi thực hiện
thủ tục thông báo cho người khởi kiện, người yêu cầu biết về quyền được lựa
chọn hòa giải, đối thoại và lựa chọn Hòa giải viên theo quy định tại Luật Hòa
giải, đối thoại tại Tòa án hay không? Thời hạn nhận đơn và xử lý đơn theo quy
định của các luật tố tụng hay Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án?
Điều 2 Thông tư số 03/2020/TT-TANDTC ngày 16/11/2020 của Chánh án Tòa án nhân
dân tối cao quy định chi tiết khoản 1, 2 và 3 Điều 16 của
Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án như sau:
“1. Khi nhận được đơn
khởi kiện vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương
mại, lao động; đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn; đơn khởi kiện vụ án
hành chính kèm theo tài liệu, chứng cứ theo quy định tại Điều
190 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 119 của Luật Tố
tụng hành chính, Tòa án ghi vào sổ nhận đơn, xác nhận việc nhận đơn theo
quy định tại khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 1 Điều 121 của Luật Tố tụng hành chính.
2. Trong thời hạn 02
ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, đơn yêu cầu theo quy định tại
khoản 1 Điều này, bộ phận tiếp nhận đơn xem xét đơn và báo cáo để Chánh án xử
lý đơn như sau:
a) Phân công Thẩm phán
xem xét, giải quyết đơn khởi kiện, đơn yêu cầu theo quy định của Bộ luật Tố
tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính nếu vụ việc dân sự, khiếu kiện hành chính
thuộc trường hợp quy định tại các khoản 1, 2, 4, 5, 6 và 7
Điều 19 của Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; các điểm
a, b, c, đ và g khoản 1 Điều 192 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điểm a, b, c, d, đ và e khoản 1 Điều 123, điểm g khoản 1 Điều 143
của Luật Tố tụng hành chính;
b) Thực hiện thủ tục
thông báo cho người khởi kiện, người yêu cầu biết về quyền được lựa chọn hòa
giải, đối thoại và lựa chọn Hòa giải viên theo quy định tại Điều 3 của Thông tư
này nếu không thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 2 Điều này”.
Như vậy, sau khi nhận
đơn khởi kiện, đơn yêu cầu theo quy định tại khoản 1 Điều
2 Thông tư số 03/2020/TT-TANDTC thì bộ phận tiếp nhận đơn xem xét đơn
và báo cáo để Chánh án Tòa án thực hiện thủ tục thông báo cho người khởi kiện,
người yêu cầu biết về quyền được lựa chọn hòa giải, đối thoại và lựa chọn Hòa
giải viên theo quy định tại Điều 3 của Thông tư này nếu không thuộc trường hợp
quy định tại điểm a khoản 2 Điều 2 của Thông tư này. Tòa án không phải ra thông
báo sửa đổi, bổ sung đơn đối với trường hợp không có đủ các nội dung quy định
tại Điều 189 và Điều 362 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 118 của Luật Tố tụng hành chính. Việc sửa đổi, bổ sung
đơn có thể được tiến hành trong quá trình Hòa giải viên tiến hành hòa giải, đối
thoại.
Thời hạn nhận đơn và
xử lý đơn khởi kiện, đơn yêu cầu trong trường hợp này được thực theo quy định
tại Điều 16 của Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án và Điều 2 Thông tư số 03/2020/TT-TANDTC.
Tòa án xem xét công
nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành khi có yêu cầu của các bên theo
quy định tại khoản 1 Điều 32 của Luật Hòa giải, đối thoại
tại Tòa án. Trường hợp các bên không yêu cầu Tòa án công nhận kết quả hòa
giải thành, đối thoại thành thì kết quả hòa giải thành, đối thoại thành không
có giá trị cưỡng chế thi hành đối với các bên.
Do vậy, tại phiên họp
ghi nhận kết quả hòa giải, đối thoại, Hòa giải viên cần giải thích cho các bên
về giá trị của quyết định công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành để
các bên cân nhắc về việc yêu cầu Tòa án công nhận kết quả hòa giải thành, đối
thoại thành.
Điều 32 của Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án quy định như sau:
“2. Thời hạn chuẩn bị
ra quyết định công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành là 15 ngày kể
từ ngày Tòa án nhận được biên bản và tài liệu kèm theo. Trong thời hạn này,
Thẩm phán được Chánh án Tòa án phân công xem xét ra quyết định có các quyền sau
đây:
a) Yêu cầu một hoặc
các bên trình bày ý kiến về kết quả hòa giải thành, đối thoại thành đã được ghi
tại biên bản;
b) Yêu cầu cơ quan, tổ
chức, cá nhân có thẩm quyền cung cấp cho Tòa án tài liệu làm cơ sở cho việc ra
quyết định, nếu xét thấy cần thiết. Cơ quan, tổ chức, cá nhân được Tòa án yêu
cầu có trách nhiệm trả lời Tòa án trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày
nhận được yêu cầu của Tòa án.
3. Hết thời hạn quy
định tại khoản 2 Điều này, Thẩm phán phải ra một trong các quyết định sau đây:
a) Trường hợp có đủ
điều kiện quy định tại Điều 33 của Luật này thì Thẩm phán ra quyết định công
nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành;
b) Trường hợp không có
đủ điều kiện quy định tại Điều 33 của Luật này thì Thẩm phán ra quyết định
không công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành và nêu rõ lý do. Thẩm
phán chuyển quyết định, biên bản và tài liệu kèm theo cho Tòa án có thẩm quyền
giải quyết vụ việc theo quy định của pháp luật về tố tụng”.
Như vậy, theo quy định
tại khoản 3 Điều 32 của Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa
án thì hết thời hạn chuẩn bị ra quyết định công nhận kết quả hòa giải
thành, đối thoại thành (15 ngày kể từ ngày Tòa án nhận được biên bản và tài
liệu kèm theo), Thẩm phán phải ra quyết định công nhận hoặc không công nhận kết
quả hòa giải thành, đối thoại thành. Trường hợp các bên có đề nghị bằng văn bản
thì Thẩm phán có quyền ra quyết định vào bất cứ thời điểm nào trong thời hạn
chuẩn bị ra quyết định.
5. Hòa giải viên có quyền yêu cầu các bên cung cấp thông tin,
tài liệu, chứng cứ liên quan đến nội dung tranh chấp, khiếu kiện theo quy định
tại điểm
b khoản 1 Điều 14 của Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án. Vậy, Hòa giải viên thực hiện quyền này như thế nào? Hòa
giải viên có được xác minh, thu thập chứng cứ theo quy định tại Điều 97 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều
84 của Luật Tố tụng hành chính hay không?
Theo quy định
tại điểm b khoản 1 Điều 14 của Luật Hòa giải, đối thoại
tại Tòa án thì Hòa giải viên có quyền yêu cầu các bên cung cấp thông
tin, tài liệu, chứng cứ liên quan đến nội dung tranh chấp, khiếu kiện. Khoản 6
Điều 3 của Luật này quy định: “Phương thức hòa giải, đối thoại được tiến
hành linh hoạt, phù hợp với tình hình thực tế, đặc điểm của mỗi loại vụ việc”.
Vì vậy, Hòa giải viên
có thể yêu cầu các bên cung cấp thông tin, tài liệu, chứng cứ liên quan đến nội
dung tranh chấp, khiếu kiện bằng văn bản (thông báo) hoặc hình thức khác (qua
điện thoại, gmail, zalo ...). Hòa giải viên không xác minh, thu thập chứng cứ
theo quy định tại Điều 97 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 84 của Luật Tố tụng hành chính.
6. Theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 14
của Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án thì
Hòa giải viên có quyền mời người có uy tín tham gia hòa giải, đối thoại. Vậy,
người có uy tín được xác định như thế nào? Người có uy tín được mời tham gia
hòa giải, đối thoại có được nghiên cứu hồ sơ vụ việc trước khi tham gia hòa
giải, đối thoại hay không?
Theo quy định
tại khoản 7 Điều 21 của Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa
án thì Hòa giải viên có quyền mời người có uy tín có khả năng tác động
đến mỗi bên tham gia hòa giải, đối thoại để hỗ trợ cho việc hòa giải, đối thoại
khi cần thiết.
Người có uy tín là
người có mối liên hệ chặt chẽ và có ảnh hưởng tích cực đến một hoặc các bên
tham gia hòa giải, đối thoại, được bên tham gia hòa giải, đối thoại đó tôn
trọng, tín nhiệm và tin tưởng. Người có uy tín được mời tham gia hòa giải, đối
thoại có thể là người thân thích của người tham gia hòa giải, đối thoại, già
làng, trưởng thôn, trưởng dòng họ, người có chức sắc tôn giáo. Người có uy tín
không nghiên cứu hồ sơ vụ việc trước khi tham gia hòa giải, đối thoại.
Khoản 1 Điều 32 của Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án quy định:
“Sau khi lập biên bản
ghi nhận kết quả hòa giải, biên bản ghi nhận kết quả đối thoại, Hòa giải viên
chuyển biên bản cùng tài liệu kèm theo cho Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ
việc dân sự, khiếu kiện hành chính để ra quyết định công nhận kết quả hòa giải
thành, đối thoại thành trong trường hợp các bên có yêu cầu”.
Khoản 3 Điều 33 của
Luật này quy định:
“Nội dung thỏa thuận,
thống nhất của các bên là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật,
không trái đạo đức xã hội, không nhằm trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước hoặc cơ
quan, tổ chức, cá nhân khác”.
Theo các quy định nêu
trên, Tòa án công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành khi có yêu cầu
của các bên và nội dung thỏa thuận thống nhất của các bên là hoàn toàn tự
nguyện. Do vậy, khi Tòa án chưa ra quyết định công nhận kết quả hòa giải thành,
đối thoại thành mà một trong các bên có yêu cầu thay đổi thỏa thuận hoặc yêu
cầu Tòa án không công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành thì Tòa án
không ra quyết định.
8. Theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 9
Nghị định 16/2021/NĐ-CP ngày 03/3/2021 của
Chính phủ quy định chi tiết mức thu, trình tự, thủ tục thu, nộp, việc quản lý,
sử dụng chi phí hoà giải, đối thoại tại Toà án và thù lao Hoà giải viên tại Toà
án đối với các vụ, việc chấm dứt hoà giải, đối thoại theo quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật Hoà giải đối thoại tại Toà án thì mức thù lao cho Hoà giải viên là từ 1.000.000
đồng đến 1.500.000 đồng/vụ việc. Vậy, Tòa án ấn định mức thù lao đối với từng
vụ việc cụ thể như thế nào?
Vấn đề này đã được
hướng dẫn chi tiết tại tiểu mục 3.1 Mục 3 của Công văn số 68/TANDTC-KHTC ngày
30/3/2021 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số vấn đề về tài chính
trong triển khai thi hành Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án. Xuất phát từ
thực tiễn có nhiều trường hợp chấm dứt hòa giải, đối thoại mà không đạt kết quả
hòa giải thành, đối thoại thành, như: trường hợp vừa mở phiên hòa giải, đối
thoại đã chấm dứt; trường hợp Hòa giải viên đã nỗ lực hòa giải, đối thoại trong
thời gian dài, nhiều phiên, có sự tham gia của người có uy tín, Hòa giải viên
đã tham khảo ý kiến của cơ quan có chuyên môn; trường hợp tài sản nằm ngoài
phạm vi địa giới của tỉnh nơi Tòa án có thẩm quyền giải quyết có trụ sở ... Do
đó, việc xác định mức thù lao trong một số trường hợp cụ thể là do quyền chủ
động đánh giá của Chánh án Tòa án nơi tiến hành hòa giải, đối thoại.
9. Khi tiến hành phiên hoà giải, đối thoại theo Điều 25 của Luật Hòa
giải, đối thoại tại Toà án thì Hòa giải viên
có được lập biên bản hòa giải, đối thoại sau mỗi phiên hòa giải, đối thoại hay
không?
Khoản 2 Điều 4 của Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án quy định:
“Trong quá trình hòa
giải, đối thoại không được ghi âm, ghi hình, ghi biên bản hòa giải, đối thoại.
Việc lập biên bản chỉ được thực hiện để ghi nhận kết quả hòa giải, đối thoại
theo quy định tại Điều 31 của Luật này. Hòa giải viên, các bên chỉ được ghi chép
để phục vụ cho việc hòa giải, đối thoại và phải bảo mật nội dung đã ghi chép”.
Khoản 3 Điều 41 của Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án quy định:
“Hòa giải viên lập
biên bản chấm dứt việc hòa giải, đối thoại đối với trường hợp quy định tại các
khoản 2, 3, 4 và 5 Điều 40 của Luật này...”.
Như vậy, Hòa giải viên
lập biên bản ghi nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành với các nội dung
theo quy định tại khoản 1 Điều 31 hoặc biên bản
chấm dứt hòa giải, đối thoại theo quy định tại khoản 3
Điều 41 của Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án. Ngoài ra, trong quá trình
hòa giải, đối thoại, Hòa giải viên có quyền ghi chép để phục vụ cho việc hòa
giải, đối thoại và bảo mật nội dung ghi chép.
Trên đây là kết quả
giải đáp trực tuyến một số vướng mắc của Hội đồng Thẩm phán, Tòa án nhân dân
tối cao thông báo để các Tòa án nghiên cứu, tham khảo trong quá trình giải
quyết các vụ việc thuộc thẩm quyền.
|
Nơi nhận: |
KT. CHÁNH ÁN |
_________________________________
1 Nội dung này tham khảo hướng dẫn của
Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao.
2 Điều 16 Nghị định số 126/2014/NĐ-CP ngày
31/12/2014 quy định:
“Trường hợp chế độ tài
sản của vợ chồng theo thỏa thuận được áp dụng thì khi xác lập, thực hiện giao
dịch vợ, chồng có nghĩa vụ cung cấp cho người thứ ba biết về những thông tin
liên quan; nếu vợ, chồng vi phạm nghĩa vụ này thì người thứ ba được coi là ngay
tình và được bảo vệ quyền lợi theo quy định của Bộ luật Dân sự.”
3 Khoản 2 Điều 74 Nghị định số
43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định: “Hộ gia đình, cá nhân
trực tiếp sản xuất nông nghiệp đang sử dụng đất nông nghiệp được Nhà nước giao,
công nhận, nhận chuyển quyền sử dụng đất, khi hết thời hạn sử dụng đất thì được
tiếp tục sử dụng đất theo thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 126 và khoản 3
Điều 210 của Luật Đất đai mà không phải làm thủ tục điều chỉnh thời hạn sử dụng
đất.”
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét